|
Suy nghĩ về Dự án Bauxit Tây Nguyên ếnT Tô Văn Trường ( 2/17/2009 12:49:50 PM )
Anh bạn quen biết, sau khi đọc bài viết của tôi trong mục Thời sự và Suy nghĩ “Lô cốt trong thời b́nh” đăng trên trang nhất báo Tuổi Trẻ ngày 6/2/2009 đă nhắn nhủ đại ư như sau :”Chắc anh vẫn c̣n nhớ những trăn trở, suy tư của chú Sáu Dân, một “ông già” đă 86 tuổi vẫn c̣n nặng ḷng với đất nước…”. Đôi lúc trầm tư, suy tưởng, tôi lại tự nhủ không hiểu tại sao mỗi khi phải “vắt óc” suy nghĩ, để giải đáp một vấn đề hóc búa nào đó trong cuộc sống đời thường th́ người đầu tiên mà tôi muốn trao đổi, chia sẻ lại chính là ông Sáu, ngay cả khi ông đă về cơi vĩnh hằng. Trong thời gian vừa qua, trên các phương tiện thông tin đại chúng đă đưa ra nhiều thông tin và ư kiến khác nhau, thậm chí “đối chọi” nhau, không ai phục ai khi nhận xét, đánh giá dự án khai thác bauxít ở Tây Nguyên đến mức Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và Đại tướng Vơ Nguyên Giáp cũng phải vào cuộc. Đây là dự án rất phức tạp, “nhạy cảm” liên quan đến chính trị, kinh tế, xă hội và môi trường của vùng kinh tế trọng điểm của cả nước. Lúc sinh thời, ông Sáu Dân nổi tiếng là người biết lắng nghe, phân tích các ư kiến trái chiều, biết chấp nhận cả ư kiến phê b́nh để t́m ra giải pháp đúng đắn, có sự đồng thuận cao. Ông thường bảo những vấn đề hệ trọng của đất nước cần phải phát huy trí tuệ của tập thể lănh đạo, của người dân, của giới tri thức, thận trọng cân nhắc, không được áp đặt như chuyện đă rồi và phải biết đặt lợi ích của đất nước, của nhân dân lên trên tất cả. Ông cho rằng khi thảo luận, tranh luận có những ư kiến khác nhau đó là lẽ tự nhiên của quy luật phát triển, là hồng phúc của đất nước biết tôn trọng dân chủ. Cuộc sống là “bài toán động” với biết bao các bài học cần rút kinh nghiệm trong quá khứ để nh́n lại ḿnh cho rơ hơn. Phải thực sự cầu thị, tôn trọng công tác phản biện khoa học và phản biện xă hội mới đi đến sự đồng thuận cao. Gần đây, tôi nhận được khá nhiều thông tin của các nhà khoa học cho biết về dự án khai thác bauxit ở Tây Nguyên do Tập đoàn công nghiệp than và khoáng sản thực hiện. Nhớ về câu chuyện “Nghịch lư con mèo của Schrödinger” của nhà vật lư người Áo Erwin Schrödinger, xin phép được tản mạn đôi lời qua bài viết: ”Suy nghĩ về dự án bauxit Tây Nguyên”. Đối với bất kỳ một quốc gia nào, tăng trưởng kinh tế bền vững phải luôn gắn với quá tŕnh xây dựng chiến lược phát triển kinh tế xă hội được cân nhắc dựa trên một tư duy hợp lư và hợp ḷng dân. Chiến lược ấy sẽ là cơ sở quan trọng cho lập quy hoạch phát triển và kế hoạch thực hiện theo từng giai đoạn trước mắt và lâu dài, phù hợp với yêu cầu thực tế của từng thời kỳ. Các yếu tố giúp cho tăng trưởng kinh tế phụ thuộc vào nguồn vốn đầu tư, khả năng khai thác tài nguyên thiên nhiên và năng suất tổng hợp. Cả ba yếu tố này đều có giới hạn của nó, giới hạn về khối lượng, giới hạn về quá tŕnh tự nhiên và giới hạn về khoa học công nghệ. Kinh nghiệm của các nước tiên tiến, muốn khai thác tài nguyên một cách khôn ngoan, sử dụng nguồn vốn một cách hiệu quả và đạt mục tiêu một cách tối đa th́ khi xây dựng chiến lược phát triển phải có nguồn nhân lực tương xứng, đủ tâm và đủ tầm, đặc biệt cần coi trọng công tác phản biện khoa học và phản biện xă hội. Quá tŕnh thực thi nhiệm vụ tăng trưởng kinh tế xă hội của đất nước là một chuỗi các hoạt động và triển khai liên quan đến nhiều lĩnh vực, nhiều ngành và ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống của mọi tầng lớp trong xă hội. V́ thế, phản biện là trách nhiệm của cả cộng đồng của mọi người dân, trong đó vai tṛ của các nhà khoa học, các vị đại biểu cho dân trong các tổ chức chính trị là rất quan trọng. Phản biện khoa học và ngay cả phản biện xă hội không phải là bài toán đơn giản cấp số cộng mà là sự đúc kết tinh hoa và kinh nghiệm thực tiễn của cả cộng đồng, có nghĩa là nó vừa mang tính thực tiễn vừa mang tính khoa học. Tuy nhiên, để đạt được sự nhất trí và đồng thuận cao giữa người thực thi nhiệm vụ nhà nước và người phản biện dù là khoa học kỹ thuật hay xă hội đều mang tính trách nhiệm rất cao. Một nhà khoa học người nước ngoài đưa ra h́nh ảnh xây dựng một ṭa nhà, có những người lấy làm tự hài ḷng, khi nắm trong tay ít dụng cụ là họ đào xới để mang lên những khối dị kỳ, chồng chất các khối này lên nhau dưới mắt của các công nhân cùng nghề, và có vẻ như không cần biết các khối ấy có thích hợp ở đây hay không. Cũng có những người khác, ḍ xét một cách kỹ lưỡng cho đến lúc một nhóm thợ siêng năng, đào lên một khối có tính chất trang trí đặc thù. Họ lắp khối ấy vào một vị trí với niềm thích thú, và cúi đầu chào đám đông. Vài nhóm thợ chẳng đào xới ǵ cả, mà chỉ lo tranh căi với nhau về cách sắp xếp một gờ tường hoặc một trụ chống. Một số người cả ngày chỉ cố kéo xuống một hoặc hai khối mà nhóm đối địch đă đặt lên. Một số khác th́ không đào xới mà cũng không tranh căi nhưng nghe theo lời đám đông, cào chỗ này và xóa chỗ kia, rồi đứng ngắm cảnh. Một số người ngồi mà cho ư kiến, và một số khác chỉ ngồi yên một chỗ. Cũng có những người lớn tuổi đă trải qua tháng ngày lao động cật lực, đôi mắt đă mờ nên không trông rơ những chi tiết của nhịp uốn hoặc hoa văn đá đỉnh ṿm, nhưng là những người đă xây nên một bức tường ở đây, một bức tường khác ở kia, và đă sống một thời gian dài trong ṭa nhà. Họ là những người đă thấu hiểu để yêu mến ṭa nhà và nắm bắt được đề xuất về ư nghĩa chung cục, bây giờ ngồi trong bóng râm mà động viên lớp người trẻ. Rồi cuối cùng, có những người t́m cách thuyết minh về ṭa nhà, nói về lịch sử, ư nghĩa và vẻ đẹp của ṭa nhà, tất cả đều đóng một vai tṛ trong việc hoàn thành tốt đẹp dự án. Theo cả nghĩa đen và bóng, trong cuộc sống chúng ta thường gặp rất nhiều mâu thuẫn và nghịch lư mà ngay cả công tác phản biện đôi khi cũng nằm trong ṿng xoay của nghịch lư. Vấn đề là cái nghịch lư đó diễn ra theo chiều nào, hướng cái thiện, cái đẹp, cái đúng về đâu. Lư luận h́nh như đúng để chứng minh một điều mà ai cũng biết là sai hay “Lư luận h́nh như sai để chứng minh một điều mà ai cũng biết là đúng”. Đấy chính là cái ranh giới rất khó vượt qua và khó thông cảm giữa người phản biện và người “được phản biện” nếu không lấy cái thiện ư, xây dựng làm đầu. Sở dĩ tôi phải “mào đầu” hơi dài như vậy để thấy rằng dự án khai thác bauxit Tây Nguyên cũng không nằm ngoài quy luật nói trên. Tháng 11/2007, tôi cùng GSTS Vơ Ṭng Xuân và Tổng giám đốc Công ty tư vấn đầu tư và xây dựng quốc tế (ICIC) Đặng Minh Sơn đến Mange Bureh, huyện Port Loko thuộc Sierra Leone giúp nước bạn thực hiện thí điểm chương tŕnh an ninh lương thực quốc gia. Tôi được nghe đến “bauxit” qua câu chuyện kể của quan chức và người dân địa phương về Trung Quốc đang giúp các nước Tây Phi khai thác bauxit. Theo các tài liệu khoa học, bauxit là khoáng chất bao gồm Al(OH)3, boehmite y-AlO(OH) và diaspore-AlO(OH) gộp chung với sắt và một phần nhỏ anatase TiO2. Từ bauxit, người ta có thể tách alumina là nguyên liệu chính để luyện nhôm. Trữ lượng quặng bauxit trên thế giới có thể khai thác 30 tỷ tấn. Bauxit ở nước ta có 2 loại chủ yếu (1) Bauxit có nguồn gốc trầm tích phân bố tập trung ở miền Bắc và (2) Bauxit có nguồn gốc phong hóa laterite từ đá bazan tập trung ở Tây Nguyên và miền đông Nam bộ. Trữ lượng bauxite của Việt Nam được đánh giá khoảng 2,4 tỷ tấn quặng tinh, tập trung chủ yếu ở Tây Nguyên (91,4%). Trong đó, Đăk Nông 1,44 tỷ tấn chiếm khoảng 2/3 trữ lượng của cả nước, Lâm Đồng 0,463 tỷ tấn, Gia Lai-Kon Tum 0,285 tỷ tấn. Toàn tỉnh Đắc Nông có 13 mỏ bauxit với tổng trữ lượng quặng nguyên khai khoảng 3,4 tỷ tấn, gồm: Tuy Đức (0,536 tỷ tấn), Đak Song (0,112 tỷ tấn), Bù Bông (0,460 tỷ tấn), Đak Rụng (0,222 tỷ tấn), Quảng Tân (0,115 tỷ tấn), Đak Tôn (0,168 tỷ tấn), Đạo Nghĩa (0,391 tỷ tấn), Nhân Cơ (0,043 tỷ tấn), Gia Nghĩa (0,334 tỷ tấn), Đak Tik (0,086 tỷ tấn), Bắc Gia Nghĩa (0,309 tỷ tấn), “1-5” (0,284 tỷ tấn), Quảng Sơn (0,362 tỷ tấn). Chính v́ vậy, Đắc Nông đă xác định ngành công nghiệp bauxit /nhôm sẽ là ngành mũi nhọn trong chiến lược phát triển kinh tế - xă hội của tỉnh. Một điểm cần chú ư ở đây là hầu hết các mỏ quặng này chủ yếu nằm ở khu vực thuộc lưu vực sông Đồng Nai. Điều này có nghĩa là việc sử dụng nước trong khai thác quặng cũng như các tác động của việc khai thác quặng đến chất lượng nước có ảnh hưởng trực tiếp đến nguồn nước của hệ thống sông Đồng Nai. Theo “Phê duyệt Quy hoạch phân vùng thăm ḍ, khai thác, chế biến, sử dụng quặng bô-xít giai đoạn 2007 - 2015, có xét đến năm 2025” (Quyết định 167/2007/QĐ-TTg), giai đoạn 2007 - 2015, Đắc Nông dự kiến h́nh thành bốn tổ hợp công nghiệp bô-xít/nhôm gồm: 1. Nhà máy alumin Đắk Nông 1 (Công ty cổ phần Alumin Nhân Cơ làm chủ đầu tư, Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam chi phối): công suất nhà máy 0,3 triệu tấn/năm có xem xét mở rộng nâng công suất lên 0,6 triệu tấn/năm. Nguồn quặng bauxit khai thác từ mỏ Nhân Cơ và các mỏ lân cận. Địa điểm nhà máy tại khu vực Nhân Cơ, tỉnh Đắk Nông; 2. Dự án alumin Đắk Nông 2: công suất nhà máy alumin 1,5 - 2,0 triệu tấn/năm. Nguồn quặng bauxit khai thác từ mỏ “1/5” và các mỏ lân cận. Địa điểm nhà máy đặt tại Đắk Nông; 3. Nhà máy alumin Đắk Nông 3: công suất nhà máy 1,5 - 2,0 triệu tấn/năm. Nguồn quặng bauxit khai thác từ mỏ Gia Nghĩa và các mỏ lân cận. Địa điểm nhà máy đặt tại Đắk Nông; 4. Nhà máy alumin Đắk Nông 4: công suất nhà máy 1,5 - 2,0 triệu tấn/năm. Nguồn quặng bauxit khai thác từ mỏ Tuy Đức, Đắk Song và các mỏ lân cận. Địa điểm nhà máy đặt tại Đắk Nông. Như vậy, tổng công suất sản xuất alumin trong giai đoạn 2007-2015 khoảng 6,6 triệu tấn, tương đương với tổng công suất khai thác quặng thô lên tới 50 - 90 triệu tấn bauxit/năm. Theo kế hoạch, trong những năm tới, Đăk Nông sẽ trở thành một “đại công trường” của ngành công nghiệp bauxit với diện tích khai thác quặng lên đến hàng trăm km2 rải khắp địa bàn 5/8 huyện. Đến giai đoạn 2016-2025, khi mở rộng quy mô các nhà máy này th́ tổng công suất ước đạt 13,2 triệu tấn Alumin (ước khoảng 100-130 triệu tấn bauxit nguyên khai/năm). Hiện nay đã có 5 tập đoàn lớn đầu tư vốn vào dự án, gồm Chalco (Trung Quốc), BHP (Australia), Alcoal (Mỹ), Rusal (Nga) và Than khoáng sản Việt Nam (TKV). Xét về mặt nhu cầu sử dụng nước, theo ước tính sơ bộ để sản xuất 1 tấn alumin th́ cần khoảng 60m3 nước phục vụ cho việc rửa quặng và các công việc khác trong chế biến alumin th́ tổng nhu cầu nước trong giai đoạn 2007-2015 ước khoảng 396 triệu m3/năm, trong giai đoạn 2016-2025 ước khoảng 792 triệu m3/năm. Nếu so sánh nhu cầu và tiềm năng nguồn nước trên địa bàn, tính theo lư thuyết về số lượng có đủ khả năng đáp ứng. Tuy nhiên, do sự phân bố lượng mưa không đồng đều theo không gian và thời gian, nên muốn chủ động được nguồn nước phục vụ cho khai thác bauxit, phải nghĩ đến biện pháp đầu tư xây dựng hệ thống các hồ chứa nhằm cân đối lại nguồn nước. Ngoài ra, do việc khai thác sử dụng nguồn nước này không được đề cập đến trong các nghiên cứu trước đây trong phân bổ, cân bằng nguồn nước toàn bộ hệ thống lưu vực sông, đặc biệt là vùng hạ lưu. Do đó, khi khai thác nguồn nước có quy mô lớn trên địa bàn này cần phải nghiên cứu xem xét lại cân bằng toàn bộ hệ thống lưu vực sông Đồng Nai nhằm xem xét đánh giá lại việc sử dụng nước của hệ thống. Xin lưu ư, vấn đề không chỉ dừng lại ở số lượng nước cung cấp mà đặc biệt quan trọng là chất lượng nước do tác động của việc khai thác quặng bauxit. Theo quy tŕnh khai thác quặng bauxit th́ một lượng lớn các chất thải độc hại thải ra môi trường. Nếu lượng chất thải này không được xử lư một cách triệt để th́ việc ô nhiễm nguồn nước ảnh hưởng rất lớn đến hạ lưu của lưu vực sông Đồng Nai. Khi đó, khái niệm về số lượng nước không c̣n ư nghĩa v́ nguồn nước không c̣n sử dụng được nữa. Dưới đây, chỉ là những đánh giá sơ bộ có thể nhận biết được nhờ kinh nghiệm và các thông tin tư liệu sẵn có. Để đánh giá có tính định lượng cần tiếp tục nghiên cứu một cách bài bản, đầy đủ và khoa học hơn. Các mặt tích cực và tiêu cực đối với vấn đề khai thác quặng bauxit Bất kỳ một hoạt động phát triển nào của con người tác động vào tự nhiên cũng đều đưa đến 2 mặt lợi và hại. Vấn đề đặt ra là làm sao khai thác mặt có lợi được lớn nhất và hạn chế mặt tiêu cực đến thấp nhất. Để đất nước duy tŕ tốc độ phát triển kinh tế, việc thu hút các nguồn vốn đầu tư kể cả đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) có vai tṛ rất quan trọng. Theo dự báo do khủng hoảng kinh tế tài chính toàn cầu nên năm 2009 nguồn FDI sẽ bị giảm nhưng ít ai ngờ ngay tháng đầu năm 2009 chỉ đạt 200 triệu đô la giảm 8,5 lần so với cùng thời kỳ năm 2008, chỉ bằng 18% so với mức vốn FDI đổ vào Việt Nam tháng 12 năm 2008. Việt Nam có 3 loại khoáng sản lớn là dầu thô, than và bauxít, trong đó, bauxit vẫn chủ yếu ở dạng tiềm năng. Nếu khai thác bauxit ở Tây Nguyên sẽ có những tác động tích cực giúp chúng ta chế biến nhôm kim loại phục vụ cho phát triển công nghiệp, tăng thêm nguồn thu nhập cho đất nước, tạo điều kiện để phát triển các ngành liên quan như ngành cơ khí chế tạo, sửa chữa và bảo dưỡng, phát triển điện, phát triển giao thông vv... Tuy nhiên, bên cạnh những mặt có lợi, nguy cơ tiềm ẩn có thể được khái quát như sau: Để sản xuất nhôm phải qua ba công đoạn: Khai thác mỏ bauxit, tinh lọc bauxit thành ô xit nhôm (Alumina AlO3), rồi nấu chảy ô xít nhôm thành nhôm. Quá tŕnh để h́nh thành 1 tấn nhôm, cần có 2 tấn alumina, 4 tấn quặng và thải ra môi trường 3 tấn bùn đỏ (red mud) chứa nhiều chất độc hại. Ngay các nước có nền công nghiệp tiến tiến và kinh nghiệm khai thác bauxit như Mỹ, Nhật, Nga, Úc, Nam Mỹ cũng chỉ biết xử lư bùn đỏ bằng cách chôn lấp. 1. Nguy cơ ảnh hưởng đến môi trường không khí: Trong quá tŕnh khai thác một khối lượng lớn, các khí thải do quá tŕnh đốt cháy nhiên liệu từ các động cơ của các thiết bị máy móc, từ nổ ḿn khai thác quặng gây ra. Thành phần chính của các khí thải này gồm SO2, NO2,... Các loại khí này có khả năng kết hợp với hơi nước tạo ra các hạt mù axit hoặc ḥa tan vào nước mưa làm giảm độ pH của nước, khi rơi xuống đất sẽ làm gia tăng khả năng ḥa tan các kim loại trong đất, làm chai đất, phá hủy rễ cây, hạn chế khả năng đâm chồi, giảm năng suất cây trồng. Các khí này c̣n có khả năng gây kích ứng niêm mạc phổi, gây loét phế quản. Bên cạnh đó, một lượng bụi lớn thải ra môi trường không khí trong quá tŕnh khai thác quặng. Đây là các loại khoáng vô cơ kim loại, silic, bụi plastic gây ra các loại bụi phổi ở động vật, lắng động trên lá cây làm giảm khả năng quang hợp của cây, làm giảm năng suất cây trồng. Ngoài ra, quá tŕnh khai thác gây ra tiếng ồn và chúng thường gây nên các bệnh nghề nghiệp đối với công nhân có thời gian tiếp xúc dài trên 3 tháng về thính giác. Khi tiếng ồn vượt quá giới hạn cho phép nhiều lần có thể ảnh hưởng rất lớn đến hệ thần kinh, gây mất thăng bằng, chóng mặt. 2. Nguy cơ ảnh hưởng đến môi trường nước: Ảnh hưởng đến chế độ thủy văn: Một điều có thể thấy rơ là, khi khai thác quặng một diện tích lớn bề mặt bị khai thác làm thay đổi hẳn chế độ thảm thực vật ở bề mặt, độ dốc. Từ đó, sẽ dẫn đến chế độ thủy văn ḍng chảy ở khu vực bị thay đổi theo hướng bất lợi như lũ sẽ sinh ra nhanh hơn dễ tạo ra lũ quét, nguy hiểm hơn, c̣n chế độ ḍng chảy mùa khô lại ngày càng kiệt hơn. Về số lượng: Trong quá tŕnh khai thác, một lượng nước lớn sẽ được sử dụng. Việc khai thác sử dụng một lượng nước lớn này ảnh hưởng đến việc khai thác sử dụng của các hộ dùng nước khác. Ngoài ra, như đă nêu ở trên, việc sử dụng nước cho khai thác quặng bauxit không được tính toán cân bằng trong tất cả các nghiên cứu trước đây đối với lưu vực sông Đồng Nai do có quan niệm loại bỏ khả năng khai thác quặng bauxit khu vực này do tác động xấu gây ra từ nó đối với nguồn nước. Do vậy, khi đề cập đến việc sử dụng nước để khai thác bauxit cần phải cân bằng lại nguồn nước trên toàn lưu vực nhằm điều ḥa, điều chỉnh nhu cầu của các hộ dùng nước liên quan (công nghiệp, nông nghiệp, thủy sản, dân sinh, ḍng chảy môi trường…) v́ nguồn nước ở đây có tác động trực tiếp đến các hộ dùng nước ở phía hạ lưu. Về chất lượng: Theo đánh giá của nhiều nghiên cứu, những nguồn có thể gây ảnh hưởng lớn đến chất lượng nước mặt trong quá tŕnh khai thác quặng bauxit |