Quê hương là ǵ hở mẹ?[1]

 P. NGUYỄN THÁI HỢP, GM

 Quê hương, Đất nước, Tổ quốc, Dân tộc, Quốc gia, Nước nhà, Nhà nước... những từ thật quen thuộc, nhưng cũng thật phức tạp và nhiều khi dị nghĩa. Đứng trên quan điểm lịch sử, văn hóa, xă hội, kinh tế, chính trị và nhất là ư thức hệ người ta có thể đưa ra nhiều lối giải thích và lập trường đối nghịch nhau[2]. Chỉ cần đọc lại một số bài viết của người Việt hải ngoại cũng như ở trong nước suốt mấy thập niên vừa qua, tất sẽ rơ cái cảnh “ông nói gà, bà nói vịt” hoặc “râu ông nọ, cắm cằm bà kia”. Tùy theo quan điểm và chọn lựa chính trị, người ta đă đưa ra nhiều quả quyết triệt để, đối lập và thường khi gay gắt, khai trừ nhau ...

 Người viết không muốn và cũng chẳng đủ khả năng để nhảy vào những cuộc tranh luận “dầu sôi lửa bỏng” đó. Những ḍng dưới đây chỉ muốn nói lên cảm nghĩ của một người nhiều năm sống xa quê hương, nhưng luôn nhớ về quê cũ và vẫn thao thức về tương lai của Dân tộc. H́nh như khi người ta càng đi xa và thấy nhiều, th́ khi nh́n lại quê cũ nghèo đói lại càng cảm thấy ngậm ngùi và xót xa hơn!

Nh́n lại những ṿng xoáy và cơn lốc lịch sử mà Dân tộc đă bị cuốn hút trong khoảng một thế kỷ qua, không ai không khỏi ngậm ngùi và chua xót. Thắng bại đă đem lại những ǵ cho Đất-Nước khi tàn cuộc và đă đóng góp như thế nào vào việc làm cho người dân Việt bớt khổ đau? Nhiều vết thương h́nh như vẫn chưa lành! Mỗi lần động đến vẫn c̣n rướm máu! Truyền thống và những kinh nghiệm đau thương trong quá khứ sẽ là động lực hay sức cản cho công cuộc hội nhập, cũng như hiện đại hóa Đất nước? Việt Nam sẽ can đảm đồng hành với nhân loại trong ngàn năm thứ ba, hay cứ ôm ấp măi một thứ “chủ nghĩa dân tộc khép kín”, bế quan tỏa cảng như các vua nhà Nguyễn thuở xưa?

 

1. Quê hương là ǵ hở mẹ?

  Tôi rời Việt Nam sang Thụy sĩ năm 1972, vào giai đoạn “mùa hè đỏ lửa” và chiến cuộc tại Việt Nam ngày càng tăng tốc. Dự định sẽ trở lại quê hương khoảng 4 hay 5 năm sau đó. Nào ngờ thời cuộc xoay vần nên cứ phải đi, đi măi, mà vẫn chưa thấy rơ ngày về! Suốt dọc thời gian dài sống nơi đất khách quê người, đă nhiều lần tôi phải thay đổi vùng văn hóa, thường xuyên bay ṿng quanh thế giới và từ năm 1994 hầu như hàng năm vẫn trở về thăm quê hương. Thế mà, không hiểu tại sao mỗi lần máy bay xuống thấp và lượn ṿng để chuẩn bị đáp xuống phi trường Tân Sơn Nhất, từ trên cao nh́n xuống thấy ruộng đồng quê hương thấp thoáng sau khung cửa hẹp... tự dưng ḷng cứ nao nao, xúc động lạ thường…

Quê hương là ǵ hở mẹ?

Ai đi xa cũng nhớ nhiều.

Thân mẫu tôi đă từ trần. Mà dù c̣n sống th́ chắc chắn cũng không đủ khả năng và minh mẫm để trả lời những câu hỏi đó. Nhưng nhà thơ Đỗ Trung Quân đặt câu hỏi và chính ông đă đưa ra câu trả lời rất gợi h́nh, bằng lời thơ ngọt ngào :

Quê hương là chùm khế ngọt,

Cho con trèo hái mỗi ngày.

Quê hương là đường đi học,

Con về rợp bướm vàng bay.

 Quê hương là con diều biếc,

 Tuổi thơ con thả trên đồng.

 Quê hương là con đ̣ nhỏ,

 Êm đềm khua nước ven sông.

Quê hương là ṿng tay ấm,

Con nằm ngủ giữa đêm mưa.

Quê hương là đêm trăng tỏ,

Hoa cau rụng trắng ngoài thềm.

 Quê hương là nơi “chôn nhau cắt rốn”. Vùng đất ghi đậm bao kỷ niệm êm đềm của tuổi thơ, là nơi ông bà tổ tiên an giấc ngàn thu và cũng là nơi chúng ta chào đời, khôn lớn, thành người. Hơn thế nữa, Đất Nước, Quê hương nói cho cùng đâu phải chỉ là đền đài, lăng miếu, núi rừng hay danh lam thắng cảnh, mà trước hết và trên hết là những người thân yêu: cha mẹ, ông bà, tổ tiên... Quê hương đó thử hỏi có ai không yêu, không thương, không nhớ. Chính v́ :

Quê hương mỗi người chỉ một  

Như là chỉ một mẹ thôi.

Với thời gian, đối với tôi, những năm tháng sống ở nước ngoài ngày càng nhiều hơn sống tại quê hương, cả về phẩm lẫn lượng. Hơn nữa, sau những năm dài sinh hoạt ở nước ngoài, trong thực tại cuộc sống nhiều khi có lẽ chỉ c̣n nối kết với quê hương bằng “dây tơ t́nh mỏng mảnh”. Tuy nhiên, trong tâm thức, quê hương thật xa xôi và mờ nhạt đó, làm sao vẫn luôn luôn “trói h́nh hài trong ư nghĩa thiêng liêng”! Dù đă sống ở nhiều vùng văn hóa khác nhau, nhưng vẫn chưa cảm thấy nơi nào có thể “trói h́nh hài” của ḿnh như đất nước Việt Nam. Linh mục Trương Đ́nh Ḥe bộc bạch: 

Ôi quê hương !

Dây tơ t́nh mỏng mảnh

trói h́nh hài trong ư nghĩa thiêng liêng.

Có những con đường, những khu phố, làng mạc, thôn xóm hay cảnh vật... khách quan mà nói chẳng có ǵ đặc sắc khiến chúng ta phải thương, phải nhớ ... Nhưng không hiểu sao mỗi lần đă sống hay đă ít nhiều gắn bó, th́ bỗng nhiên trở thành thân thiết. Ta không thể dễ dàng rũ áo ra đi, mà không bịn rịn, nuối tiếc.

Khi ta ở chỉ là nơi đất ở

Khi ta đi, đất đă hóa tâm hồn.

Hai câu thơ trên của Chế Lan Viên cứ vang vọng và lắng sâu măi trong tâm hồn những người sống xa quê hương. Đúng vậy, nhiều vật vô tri vô giác, những vùng đất khô cằn không tên tuổi, những chiếc cầu tre, những con suối nhỏ, cây phượng vĩ, dàn hoa giấy, khu phố đ́u hiu ... một lúc bất ngờ nào đó, bỗng “hóa tâm hồn”, sống động và lưu luyến măi trong ḷng người ra đi.

Trong thời gian sống tại Mỹ châu Latin, một đôi lần được đón nhận những cử chỉ thân t́nh và sự tiếp đăi nồng hậu của người dân bản xứ đă làm tôi cảm động thực sự, đến nỗi có lần tôi đă nghẹn ngào nói với họ: tôi yêu mến vùng đất đó như “quê hương thứ hai” . Niềm tin Kitô giáo và sứ vụ dấn thân của cuộc đời linh mục đă thúc đẩy tôi lựa chọn vùng đất ấy, một vùng đất mà theo lối nói của thi sĩ César Vallejo, “đau khổ và chết chóc tăng theo tốc độ sáu mươi phút trong một giây”, nhưng rất năng động và đầy ắp t́nh người.

Khi hay tin tôi đă chọn lựa Mỹ châu Latin làm quê hương thứ hai, một số thân nhân và bạn hữu ầm ỹ góp ư kiến. Vài người đề cao ư thức dấn thân, nhưng đại đa số kịch liệt phản đối. Có những lần tôi đă trả lời một cách cao ngạo: Tôi sẽ sống chết với quê hương này. Một người bạn vong niên và từng trải, mỉm cười nói: “Anh chỉ có thể tự nguyện ở trọ dài hạn nơi đó thôi, ở trọ ngay chính trong ư thức chọn lựa của anh”. Không ngờ câu nói trên đă thành sự thực. Sau 15 năm dấn thân hoạt động, cuối cùng tôi đă giă từ Mỹ châu Latin với nhiều luyến tiếc ... để có thể tiến gần về Quê Mẹ hơn.

Trong bài thơ “Độ Tang Càn” (Qua sông Tang Càn), Giả Đạo, một thi sĩ đời Đường, đă diễn tả thật sắc nét nỗi ḷng của kẻ tha hương bằng lời thơ giản dị, nhưng rất sâu sắc. Có lẽ phải kinh qua cuộc sống tha hương mới cảm nhận trọn vẹn ư nghĩa tinh tế của nó.

Khách xá Tinh Châu dĩ thập sương

Quy tâm dạ ức Hàm Dương

Vô đoan cánh độ Tang Càn thủy

Khước vọng Tinh Châu thị cố hương.

Thi sĩ Tản Đà đă dịch như sau :

Tinh châu đất khách trải mười hè,

Hôm sớm Hàm Dương bụng nhớ quê.

Qua bến Tang Càn, vô tích nữa,

Tinh châu ngoảnh lại đă thành quê.

Giả Đạo sinh quán tại Hàm Dương, nhưng phải lưu lạc nơi đất khách quê người. Trong mười năm sống ở Tinh Châu ḷng ông vẫn canh cánh nhớ về quê cũ Hàm Dương. Nào ngờ, ngày giũ áo ra đi, đặt chân lên bến Tang Càn, lại chợt nhớ Tinh Châu, quê hương thứ hai của mười năm tha hương. Tuy nhiên, Tinh Châu ở đây chỉ là Tinh Châu của mười năm hoài vọng quê hương. Cho nên, nói cho cùng, nhớ Tinh Châu mà thực ra đâu phải là nhớ Tinh Châu. Chẳng qua chỉ là nhớ nỗi nhớ nha khi ở Tinh Châu.

Thời gian đầu xa quê, nhiều đêm thao thức trằn trọc măi mà không sao dỗ được giấc ngủ. Thông thường ḷng hoài hương bộc lộ mănh liệt nhất vào những dịp lễ lớn hay những lúc năm cùng tháng tận[3]. Tuy nhiên, nhiều khi nó cũng đến thật bất ngờ và bất chợt, bởi v́, như Huy Cận hay ai đấy đă viết :

 Ḷng quê dờn dợn vời con nước

không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà. 

Đầu năm 1980, tôi rời Âu châu để đi Mỹ châu Latin. Hôm đó, ngoài trời tuyết rơi man mác làm tăng thêm nỗi buồn và nỗi niềm cô đơn. Sau biến cố 30 tháng 4 năm 1975, tôi mất liên lạc với mẹ già và người thân, gia đ́nh kẻ ở người đi, lưu lạc nhiều phương trời. Bây giờ, chính bản thân tôi lại đơn thương độc mă đi đến một chân trời rất xa lạ, không thân nhân, không cả người quen. Đă từ lâu lắm tôi không khóc, nhưng hôm đó bỗng dưng nước mắt chạy quanh.

Sau này, những đêm mất ngủ, nằm nghe mưa rơi ở một nơi xa xăm nào đó của Mỹ châu Latin, cảm thấy vừa nhớ nhà, vừa nhớ những tháng ngày buồn bă tại Âu châu, v́ phải ṃn mỏi trông chờ tin tức gia đ́nh. Đến khi từ giă Mỹ châu Latin để đi Canada, rồi trở sang Ư th́ lại càng nhớ cái “quê hương thứ hai” này hơn. Phải chăng đó là giai đoạn có nhiều kỷ niệm đẹp và đồng thời cũng là thời gian nhớ quê hương da diết nhất. Bây giờ một đôi khi không những nhớ quê hương mà c̣n nhớ “những cố hương” của ḷng hoài vọng quê hương. Từ đó, mỗi lần đọc lại bài thơ của Giả Đạo càng cảm thấy thấm thía. Đúng như cụ Nguyễn Du đă viết “đoạn trường ai có qua cầu mới hay”.

 Hiện nay, mặc dù tóc đă ngả màu muối tiêu, nhưng ra như tôi vẫn nghe văng vẳng đâu đây lập luận dễ thương của cậu bé Enricô trong “Tâm Hồn Cao Thượng”: “Tại sao anh yêu xứ sở của anh? Câu hỏi ấy chẳng làm nẩy nở trong óc tôi biết bao nhiêu câu trả lời hay sao? Tôi yêu xứ sở của tôi v́ mẹ tôi sinh trưởng ở đấy; v́ nguồn máu trong mạch của tôi đều là của người; v́ trong khu đất thánh kia đă chôn tất cả những người quá cố mà mẹ tôi thương, mà cha tôi trọng; v́ đất mà tôi sinh, thứ tiếng tôi nói, quyển sách tôi học, các em tôi, chúng bạn tôi và một dân tộc lớn sống chung với tôi, cảnh đẹp của tạo hóa bao bọc chung quanh tôi, tóm lại tất cả những sự vật mà tôi trông thấy, tất cả những ǵ mà tôi yêu, tất cả những cái mà tôi quí, nhất nhất đều thuộc về xứ sở tôi cả”[4].

Thi hào R. Tagore từng sống nhiều năm lưu vong và cũng đă viết lên những nhận định sâu sắc về t́nh hoài hương: “Với tôi, ḷng hoài hương của mỗi người không phải chỉ đơn thuần nhớ về thành quách, lâu đài, non cao, bể rộng, mà chính là những mảnh hồn nhỏ, đầy ắp kỷ niệm của một thời thương nhớ”. Thật vậy, đối với nhiều người Việt Nam tha hương, những “mảnh hồn nhỏ” này có thể là quê cha đất tổ, là ngôi trường cũ, là những kỷ niệm thưở thiếu thời, là tiếng ai đó rao hàng giữa đêm khuya hay h́nh ảnh người mẹ già ṃn mỏi trông chờ, hoặc người cha từng giờ đợi con, người vợ, người chồng, người chị, đứa em và bao nhiêu khuôn mặt yêu thương khác... 

 

2. Đất nước, Quốc gia, Dân tộc, Nhà nước

Người Việt Nam thường gọi quê hương, nơi chôn nhau cắt rốn và sinh thành của ḿnh, bằng nhiều từ quen thuộc và rất thân thiết : Đất - Nước, Non sông, Quốc gia, Dân tộc, Quê cha, Đất mẹ... Đây là Đất nơi người dân trồng cấy và sinh cơ lập nghiệp, là Nước nuôi cây lúa của một dân tộc theo nghề trồng lúa nước. Đất – Nước này cụ thể là g̣ đất, mảnh vườn, thửa ruộng, bờ đê, luỹ tre, mái tranh, bếp lửa, con đường, ḍng sông, dăy núi... Chính Đất – Nước này giao hoà với nhau không những đă thành nơi sinh sống, mà c̣n hoá thành sự sống, thành cơm gạo, xóm làng, t́nh nghĩa, tâm t́nh, bản sắc của cả một dân tộc[5].

 Trong truyền thống văn hóa Việt Nam, Nước là một khái niệm có nội dung rất phong phú được dùng để chỉ thị tộc, bộ lạc hay dân tộc. Một đôi khi Nước cũng ám chỉ một triều đại như nước của nhà Trần, nhà Lê, nhà Nguyễn. Đặc biệt, Nước thường đi đôi với Nhà. Từ nhà này vừa là nơi cư ngụ, vừa chỉ những người thân yêu cư ngụ trong đó và sâu xa hơn ám chỉ nơi có ông bà tổ tiên, nơi “chôn nhau cắt rốn” của mỗi người. Chính v́ vậy yêu nước là yêu quê hương, yêu quê cha đất tổ, yêu cội nguồn, gốc rễ của chính ḿnh.  

Có thể nói Quê hương, Đất nước, Non sông, Nước nhà... là những từ mở rộng nơi chôn nhau cắt rốn của mỗi người, đi từ gần ra xa trong không gian và thời gian. Tất cả nói lên bộ mặt hiện thực của gốc rễ con người làm bằng đất đai, đồng ruộng, sông núi, mồ hôi nước mắt và xương máu của bao nhiêu thế hệ. Và một khi hàng ngàn thế hệ đă nối tiếp nhau đem chính mạng sống để xây dựng và bảo vệ quê hương, đất nước, non sông đó, th́ đương nhiên chúng dễ dàng trở thành linh thiêng, biểu tượng cho  Quốc gia – Dân tộc.

Như vậy, quê hương, non sông, đất nước không phải chỉ là cái ǵ thuần túy lư thuyết hay tinh thần, từ trên trời rơi xuống, nhưng là một thực tại khách quan, hết sức cụ thể, vật chất, máu mủ... Đây chính là Tổ quốc, nghĩa là mảnh đất do tổ tiên để lại. Đây là nơi tôi chào đời, khôn lớn, thành người, nhưng đồng thời cũng là nơi quê cha đất tổ hay quê nhà, đất mẹ. Chính nơi đây ông bà tổ tiên đă an giấc ngàn thu và rất có thể đó cũng là nơi một ngày kia chúng ta sẽ trở về khi từ trần, tạ thế. 

 Người ta cũng thường dùng khái niệm Quốc gia để phiên dịch chữ “nation” và mang một ư nghĩa na ná như Tổ quốc, nhưng đặt nổi khía cạnh văn hóa, xă hội và chính trị. Thật vậy, chỉ có Quốc gia khi những người sống trên cùng một lănh thổ ư thức được gia sản tinh thần chung, một nếp sống riêng và quyết tâm tạo một Nhà nước độc lập. Như vậy, Quốc gia vừa chỉ quê cha, đất tổ, vừa bao hàm ư chí cùng nhau xây dựng một cơ cấu chính trị - xă hội riêng, mặc dù nhiều khi không có chung tôn giáo, chủng tộc hay ngôn ngữ.

Những di sản tinh thần, lễ giáo, tập quán, phong tục, đường lối ứng xử, nếp sống... hun đúc từ hàng bao thế kỷ thường được coi là gia sản văn hóa riêng của mỗi quốc gia. Tuy nhiên không bao giờ có thể đồng hóa chúng với một bảo tàng viện. V́ vậy, một quốc gia không thể tồn tại nếu thiếu vắng tương giao quốc tế và ư chí cùng nhau xây dựng một cộng đồng thế giới văn minh. Chủ trương “bế quan tỏa cảng” đă để lại những hậu quả đau thương cho dân tộc và là một trong những nguyên nhân của t́nh trạng tụt hậu hiện nay.

Khái niệm Dân tộc cũng tương đồng với khái niệm Quốc gia hiểu theo nghĩa ở trên. Dân tộc là một thực tại lịch sử, chứ không thuần túy là một thực tại tự nhiên, bởi v́ dân tộc chỉ khai sinh khi có một lănh thổ và cộng đồng những con người chấp nhận vai tṛ của một Nhà nước thống nhất, mà có người gọi là “Nhà nước – Dân tộc”. Nói rơ hơn, dân tộc chỉ xuất hiện khi xă hội đă đạt đến một tŕnh độ phát triển về lănh thổ, kinh tế, chính trị, văn hóa nào đó. Các yếu tố chủng tộc, ngôn ngữ, tôn giáo, phong tục... có thể củng cố thêm t́nh đoàn kết và đẩy mạnh việc phát triển dân tộc, nhưng không phải là yếu tố quyết định, v́ có những dân tộc xây dựng trên nguyên tắc đa chủng tộc, ngôn ngữ, tôn giáo. Đứng trên quan điểm này, một số học giả cho rằng dân tộc Việt Nam chỉ h́nh thành kể từ giữa thế kỷ X, khi đất nước đă thoát khỏi ách thống trị của Trung Quốc và bắt đầu thời kỳ tự chủ.

T́nh yêu quê hương cũng như t́nh tự dân tộc có thể dẫn đến chủ nghĩa ái quốc hay chủ nghĩa dân tộc cực đoan. Đây là một thứ ư hệ có chủ đích vĩnh viễn hóa các thực tại dân tộc và khuyếch đại, thần thánh hóa những ǵ được coi là giá trị đặc thù, bản sắc hay tinh hoa của một dân tộc. Nhà cầm quyền thường sử dụng chủ nghĩa dân tộc này theo những mục tiêu mang tính chất quyền lực: để đoàn kết nhân dân, tập hợp các lực lượng hầu thống nhất dân tộc, để đương đầu với ngoại xâm hay để đánh bại những thành phần đối lập trong nước. Trong lịch sử nhân loại hiện đại, chủ nghĩa dân tộc khép kín đă làm chảy không biết bao nhiêu máu và nước mắt. Những kế hoạch thiêu sống của Đức quốc xă trong thời đệ nhị thế chiến hay các cuộc thảm sát ở Ruganda, Kosovo, Đông Timor... vào cuối thế kỷ 20 là những dẫn chứng hiển nhiên và gần gũi nhất.

Theo Lữ Phương, “cũng là những thực tại lịch sử, nhưng dân tộc h́nh thành lâu dài và ổn định hơn chủ nghĩa dân tộc. Cũng phát xuất từ một dân tộc, nhưng tùy theo mỗi thời kỳ, tùy theo những phát hiện mới về bản thân thực tại dân tộc, sẽ có những chủ nghĩa dân tộc khác nhau ra đời. Chủ nghĩa dân tộc v́ thế không phải là hiện thực về dân tộc: có nhiều ư thức hệ khác nhau về dân tộc, v́ vậy nó thay đổi nhanh chóng theo thời gian. Chủ nghĩa dân tộc thường ra đời vào những khúc quanh của cuộc sống dân tộc: khi dân tộc đang h́nh thành, đang đấu tranh bảo vệ sự tồn tại của nó, hoặc đang trên đà bành trướng, đặc biệt trong những lúc có chiến tranh với các thế lực bên ngoài. Ít khi chủ nghĩa dân tộc tồn tại riêng rẽ, nó thường quyện vào những thứ ư thức hệ về tôn giáo, về chủng tộc để tạo thêm sức mạnh”[6].

Ông cho rằng nếu so sánh cách lập luận về chủ nghĩa dân tộc của một số nhà lư luận tại Việt Nam hôm nay với “cung cách ăn nói, viết lách của những nhà cầm quyền phong kiến thời xưa[7], chúng ta sẽ thấy sự giống nhau nhiều lúc thật y như khuôn đúc: chỉ có ta là nghênh ngang một cơi, ngoài ra đều là bọn di dương, bạch quỷ, tà đạo (...). Cái ư thức hệ gọi là “Mác – Lênin” mà những nhà lư luận cộng sản coi là “tất yếu” để đưa đất nước vào con đường hiện đại hóa đích thực thật sự chỉ là một trong những sản phẩm cực đoan và ảo tưởng nhất của phương Tây, và dưới cái dạng du nhập của nó vào Việt Nam, nó không khác ǵ với cái ư thức hệ cầm quyền mà những nhà Nho trước đây đă mượn của Trung Hoa làm cái của ḿnh: đó chỉ là một cái thay thế về danh nghĩa”[8].

Cuối cùng, khái niệm Nhà nước tương đối