VĂN HÓA VÀ NIỀM TIN:

GIẢI OAN TRONG TÂM THỨC VIỆT

Lm. Trần Cao Tường

Nguồn : Mạng Lưới Dũng Lạc

Chuyện vừa bị ăn cướp vừa bị vu cho mọi tiếng oan đă trở thành chất máu u uẩn của người Việt, như câu thành ngữ "vừa ăn cướp vừa la làng". Cha mẹ khuyên con bằng lời ca dao:

Con ơi nhớ lấy câu này
Cướp đêm là giặc cướp ngày là quan.

Muốn che lấp hành động thô bỉ của ḿnh th́ phải giương cái bảng ra vẻ chính nghĩa lên cho oai chứ. Và mọi nỗi xấu xa cũng được nặn ra để chụp lên đầu "kẻ bị ăn cướp" cho mọi người thấy việc ḿnh làm thật quá chính đáng và cao cả v́ đại cuộc. Người đáng được thương th́ lại bị tội; kẻ đáng tội th́ lại trở thành nhân vật lớn. Ai không theo ḿnh là phá hoại, thiếu nhất trí, không đoàn kết. Vừa ăn cướp vừa la làng là vậy. Và nỗi oan cứ măi chồng chất, ăn sâu vào mạch máu, bám rễ trong tâm khảm người Việt.

Nỗi oan phải chịu những bất công mỗi ngày mỗi lên cao, trở thành nỗi ray rứt dằng dặc trong suối dọc dài lịch sử người ḿnh! Thà rằng như người Bách Việt cổ xưa ở vùng Lĩnh Nam, Quảng Đông Quảng Tây, chịu khuất phục đồng hóa với dân Hán từ phương Bắc tràn xuống chiếm đoạt, thành người Tàu cho xong một bề. Đàng này người ḿnh cứ "cứng đầu", dựng ải Bắc Quan mà chận lại, và rồi dù có bị cả ngàn năm đô hộ, ḿnh cứ nhất định là ḿnh, nên mới nên nông nỗi này! Rồi nỗi oan từ cả một thế kỷ tương tàn phi lư. Nỗi oan những cái chết tức tưởi do chính anh em phân thây nhau để xây tháp ngà cho các thần râu xồm đúc nặn từ phương Tây. Nỗi oan những thân xác da vàng máu Việt làm mồi cho cá Biển Đông hay cho hải tặc Thái. Nỗi oan tan cửa nát nhà, chạy thục mạng đi ăn nhờ ở đợ khắp các vỉa đường thế giới. Nỗi oan bao nhục nhằn hấng chịu mấy chục năm qua, của lớp người thấp cố bé miệng cúi mặt trước đà tiến vênh mặt của nhân loại.

NỖI OAN THỊ KÍNH

Thị Mầu, tranh của họa sĩ Vi-Vi

Nhưng lạ lắm. Những ai nghiên cứu văn hóa Việt đều ngạc nhiên khi thấy người Việt với ngần ấy khổ lụy mà vẫn ít bị điên, vẫn "phây phây":

làm sao cũng chẳng làm sao,
dẫu có thế nào cũng chẳng làm chi.

Người Việt dường như nâng niu nỗi oan đă vốn như gắn liền với thân mệnh của ḿnh, làm nên một gia sản tinh thần trong một cái nh́n tích cực: dù bất cứ oan nghiệt nào, người ḿnh vẫn có sức chịu đựng được, và vẫn t́m ra cách giải oan. Không thấy bàn tới bác sĩ thần kinh, đi viện tâm lư trị liệu, hay uống thuốc độc tự tử. Truyện Thị Kính là một điển h́nh.

Đây là một câu truyện dân gian truyền tụng từ nhiều đời. Nàng Thị Kính kết duyên với chàng Thiện Sĩ con nhà giầu. Vợ chồng đang an vui th́ xảy ra chuyện t́nh cờ, rất nhỏ mà hóa ra to. Một hôm chồng đang ngủ, vợ ngồi khâu vá chợt nh́n thấy cái râu mọc ngược, sẵn có dao trong tay toan cắt đi th́ chợt chồng tỉnh dậy, nửa tỉnh nửa thức nh́n thấy lưỡi dao kề cổ liền tri hô lên là bị vợ ám sát.

Thế là nàng Thị Kính bị đổ oan cho tội giết chồng, không cách nào bào chữa được nữa. Nàng bị đuổi về nhà cha mẹ. Không giải được nỗi oan, nàng bèn đi tu. Nhưng thời ấy muốn đi tu th́ phải hóa trang làm con trai th́ mới được nhận. Chú tiểu lấy tên là Kính Tâm, mỗi ngày mỗi khôi ngô tuấn tú khiến cho tín nữ Thị Mầu mê mẩn t́m cách tán tỉnh mà không được. Thị Mầu vốn có tính lẳng lơ, một hôm có con với một người nào đấy, lại hô hoán lên rằng cha đứa trẻ chính là chú tiểu Kính Tâm và đưa con lại vất vào cửa chùa. Lại mắc vào một nỗi oan nữa, Kính Tâm âm thầm chịu đựng, nhận nuôi đứa trẻ, mặc cho bao cay đắng đầy đọa.

Khi đương tụng niệm khấn nguyền
Bỗng nghe tiếng trẻ khóc nên giật ḿnh.
Ngảnh đi th́ dạ chẳng đành,
Nhận ra th́ hóa ra ḿnh chẳng ngay.
Nhưng v́ trong dạ hiếu sinh
Phúc th́ làm phúc, dơ đành chịu dơ.

Kính Tâm đă giữ sự bí mật của ḿnh cho đến ngày qua đời. Khi liệm xác người ta mới biết chú tiểu Kính Tâm không phải là đàn ông.

CHẶT ĐỨT ĐƯỢC V̉NG XÍCH

Sở dĩ truyện Kính Tâm đă trở thành như một di sản tinh thần của người ḿnh, là v́ truyền lại được cách giải oan kỳ diệu. Kính Tâm âm thầm chịu đựng trước hết là niềm tin vào Trời thấu suốt mọi bí ẩn, như ca dao đă từng nói lên:

- Đèn Trời soi xét.

- Ai bảo Trời không có mắt.

- Trời nào có phụ ai đâu.

- Làm ơn ắt hẳn nên ơn

- Trời nào phụ kẻ có nhơn bao giờ

Cho dù sau này đạo Phật, đạo Khổng, đạo Lăo, có bước vào và phát triển mạnh ở Việt Nam, nhưng niềm tin căn bản vẫn là tin vào ông Trời. Thậm chí người theo đạo Phật cũng cầu khẩn với Phật nhưng rồi phải lên cao hơn nữa là cầu khẩn với Trời, v́ thực ra đức Phật cũng chỉ là một người như ta mà đă giác ngộ được con đường giải thoát.

Em đi cầu khấn Phật Trời.

Niềm tin này đă là vơ khí mạnh nhất để đương đầu với mọi nghịch cảnh, và cắt đứt được ṿng xích trói buộc từ đời này qua đời kia. Tiếng thời mới gọi là ṿng hệ lụy nghiệt ngă phát sinh do những oan trái này. Khoa Tâm Lư Miền Sâu ngày nay cho thấy ít ra ba hậu quả hệ lụy của người không được giải oan hay chữa khỏi th́ sẽ trở thành những hiện tượng:

- Hiện tượng 1: Người bị thương lại đi gây thương tích cho người khác nữa kiểu giận cá băm thớt, giận chó đá mèo, thành cái ṿng luẩn quẩn tiếp diễn. Dấu rơ nhất là khó nết, hay cắn cấu, phê b́nh chỉ trích, đấm đá ăn thua đủ với đời kiểu "vết thù hằn trên lưng ngựa hoang", phóng chiếu cái bực bội bên trong ra chung quanh. Chuyện chia rẽ trong cộng đồng cũng có thể do những giẫy giụa đáng thương này.

- Hiện tượng 2: Gỡ gạc bù trừ, kiếm thêm tí danh hăo, khoe mẽ chút phù du để che lấp cái mặc cảm hụt hẫng bên trong một cách tội nghiệp, nhiều khi trở thành lố bịch.

- Hiện tượng 3: Bỏ cuộc trốn chạy, cố t́m quên cho khuây khỏa niềm đau xót, bi quan nh́n cuộc sống bằng đôi mắt đeo kính đen với những điệu than ai oán, nhiều khi phát điên hay tự tử v́ những phi lư tận cùng: người buồn cảnh có vui đâu bao giờ.

TIN VUI ĐƯỢC GIẢI OAN

Khoa Tâm Lư Trị Liệu sau nhiều nghiên cứu mới khám phá ra được tiến tŕnh chữa trị, mà bước đầu tiên là phải đối diện với nỗi đau và cho bộc lộ lên được chứ không chôn vùi. V́ nếu càng t́m cách trốn chạy hay vùi lấp th́ nó càng trở thành động lực bên trong hành hạ và phóng chiếu (projection) ra thành những con ma đen ghê sợ: Biết than cùng Trời, biết thở cùng ai! Bài dân ca mộc mạc của người ḿnh không ngờ lại nói lên được tiến tŕnh này.

Ngồi buồn đốt một đống rơm
Khói bay nghi ngút chẳng thơm chút nào
Khói bay tới tận thiên tào
Ngọc Hoàng phán hỏi thằng nào đốt rơm?

Niềm đau và nỗi oan được trút ra thành một đống rơm cho cháy đi bốc khói chẳng thơm tho chút nào. Nhưng khi khói bay cao làm cay mắt ông Trời th́ ông liền quát hỏi: đứa nào đốt rơm? Bài dân ca dễ thương và hay quá! Ông Trời ở đây không c̣n cao xa măi trên kia, mà đă trở thành rất người. Ngài cũng bị khói đen của những nỗi oan làm cay mắt, biết lắng nghe và cảm thông được niềm xót đau của người đang than thở. Vậy mà Ngài c̣n hỏi "thằng nào đốt rơm". Hỏi để mà cho có chuyện chứ Ngài đă biết ai rồi. Đây mới chính là giây phút giải oan của người ḿnh: Trời nào có phụ ai đâu! Trời nào phụ kẻ có nhơn bao giờ!

Nh́n như vậy th́ câu chuyện Chúa Giêsu hiện ra với hai môn đệ trên đường Emmaus thật là một tiến tŕnh chữa bệnh thần diệu. Hai môn đệ cũng đă chán chường thất vọng t́m cách bỏ cuộc trốn chạy, cố t́m quên để chôn vùi nỗi đau xót oan khiên, v́ những ước mơ xây dựng bỗng dưng sụp đổ, Thầy ḿnh là Đức Giêsu bị xử tử chết lăng nhách.

Chính phút giây này, Chúa Giêsu đă hiện ra đi bên cạnh, gợi chuyện cho hai người kể lể trút hết bầu tâm sự "đốt một đống rơm, khói bay nghi ngút chẳng thơm chút nào." Trong niềm cảm thông sâu xa, hai môn đệ đă được dịp nh́n lại lịch sự dân tộc ḿnh, những bước tưởng rằng phí lư nhất lại đă là mốc ghi cho một niềm tin cao hơn là những giải quyết luẩn quẩn trần tục. Và nhất là phút giây bỗng nhận ra Chúa đă sống lại và vẫn hiện diện ở bên cạnh ḿnh.

"Khi đồng bàn với họ, Người cầm lấy bánh, dâng lời húc tụng, và bẻ ra trao cho họ. Mắt họ liền bừng mở, và họ nhận ra Người" (Luca 24:30-31).

Đúng vậy. Cuộc sống mỗi người cũng nhiều nỗi đau xót oan khiên, chỉ có thể được hóa giải bằng con mắt niềm tin thấy được Chúa đang đi bên cạnh, đang tâm sự, đang vỗ về hỏi han.

"Dọc đường, khi Người nói chuyện và giải thích Kinh Thánh cho chúng ta, ḷng chúng ta đă chẳng bừng cháy lên sao?" (Luca 24:32).

Lm. Trần Cao Tường

(từ tác phẩm Khúc Sáo Ân T́nh, Thời Điểm xuất bản)

 

..........

Mời click vào h́nh đọc truyện Quan Âm Thị Kính