|
|
Vài nét về lịch sử
người Minh Hương và người
Hoa ở Nam bộ
Nguyễn Đức
Hiệp
Nguồn : www.Khoahoc.net
Trong lịch sử khẩn hoang ở Nam bộ, sự đóng góp của người Minh
hương và Hoa từ xưa đến nay về kinh tế, văn hóa thật là to lớn.
Bao nhiêu danh nhân Việt nam trong lịch sử là có gốc Minh hương,
từ Trịnh Hoài Đức, Ngô Nhân Tịnh, Vơ Tánh, Ngô Tùng Châu, Châu Văn
Tiếp, Phan Thanh Giản, Phan Xích Long.. đến những nhân vật có tên
tuổi trong văn hóa nghệ thuật gần đây như Hồ Dzếnh, Trịnh Công Sơn,
Vương Hồng Sển, Lư Lan... Họ đă ḥa nhập thành người Việt. Đă có
nhiều tư liệu viết về Mạc Cửu và xứ Hà Tiên, với văn học Hà Tiên
độc đáo, đỉnh cao của người Minh hương đến khai khẩn Nam bộ. Ở đây
tôi sẽ chú trọng về người Minh hương và Hoa ở những vùng khác trên
Nam bộ, chủ yếu là vùng Đồng Nai-Gia Định.
Lịch sử ban đầu - Những nhân vật tiên phong khai phá
Ngoài Hà Tiên, th́ nơi phát triển đầu tiên của người Minh hương
là xứ Đồng Nai, gồm Cù lao phố, Biên Ḥa, Bến Nghé-Chợ Lớn. Nông
Nại đại phố tức là Chợ Lớn của xứ Đồng Nai. Đồng Nai âm theo tiếng
Quảng Đông là Nông Nại. Một trong những người đến cùng thời với
Trần Thượng Xuyên (hay c̣n gọi là Trần Thắng Tài) là ông nội của
Trịnh Hoài Đức từ tỉnh Phúc Kiến. Trong miếu Quan Đế ngày nay, ông
có tên trong danh sách những người sáng lập ra miếu này ở Cù Lao
phố năm 1684 (nay là xă Hiệp Hoà). Miếu Quan Đế (Chùa Ông) hiện
nay vẫn c̣n và là miếu thờ cổ nhất ở Nam bộ. Và cha của Trịnh Hoài
Đức sau đó cũng góp công vào hương khói của chùa Quan Đế.
Tư liệu quí giá và phong phú nhất về lịch sử khai khẩn Nam bộ
là quyển Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức. Trịnh Hoài
Đức lúc thiếu thời học với Vơ Trường Toản.
Trịnh Hoài Đức viết về Cù lao Phố (18): "Nông Nại (tức Đồng Nai)
đại phố, lúc đầu do Trần Thượng Xuyên khai phá, tức Trần Thắng Tài
chiêu tập người buôn nước Tàu đến kiến thiết phố xá mái ngói tường
vôi, lầu cao, quán rộng, dọc theo bờ sông liên lạc dài 5 dặm, chia
và vạch làm 3 đường phố, đường phố lớn lót đá trắng, đường phố
ngang lót đá ong, đường phố nhỏ lát gạch xanh, đường rộng bằng
phẳng, kẻ buôn tụ tập, ghe thuyền lớn ở biển và ở sông đến đậu, ấy
là một chỗ đại đô hội mà những nhà buôn bán giàu có ở đây là nhiều
nhất hơn thảy những nơi khác".
Cù lao Phố trở thành một cảng quan trọng đầu tiên của Nam bộ,
đón nhận thương thuyền nước ngoài, hưng thịnh suốt khoảng 90 năm
từ khi Trần Thượng Xuyên đến với quân đội, suy thoái từ khoảng
1775, tức là khoảng sau 90 năm, để nhường cho Chợ Lớn, Bến Nghé (Sài
G̣n) sau này. Trước khi Trần Thượng Xuyên được chúa Nguyễn đưa đến
cù lao Phố, đă có người Việt từ miền Trung đến ở núi Dinh (Mô Xoài)
vùng Bà Rịa từ năm 1658 và vùng Long Thành. Nhờ vậy, khi Trần
Thượng Xuyên đến cù lao Phố đă có dân Việt, dĩ nhiên người dân tộc
như người Mạ, người Khmer, Chăm cũng tới lui trao đổi hàng hóa.
Trần Thượng Xuyên đến với quân sĩ và gia đ́nh mang theo, nhiều
binh sĩ này vẫn tiếp tục cầm vũ khí theo đuổi binh nghiệp nhưng
một số lập nghiệp tại vùng đất mới. Sau một thời gian, thêm một số
cư dân và thương gia đến sau, với vốn liếng để lập chợ. Cù lao Phố
trở thành cảng sầm uất xuất nhập khẩu, với kho hàng dự trữ hàng
hóa nhập vào và dự trữ hàng hóa thâu mua từ nhiều nguồn của cư dân
sống trong vùng Đồng Nai như lâm sản, ngà voi, nai, heo rừng, sừng
tê giác..
Nguyễn Hữu Cảnh, do chúa Nguyễn gởi vào sau này để cai quản
vùng đất mới, đến Cù lao Phố ngay lúc cù lao với cảng đang hưng
thịnh, nhưng trụ sở hành chánh và đồn binh đặt ở Sài G̣n. Ông
Nguyễn Hữu Cảnh vào cù lao Phố với thủy quân. Khi ông mất ở Rạch
Gầm, quan tài được đưa về Cù lao Phố, rồi từ đấy về miền Trung
theo đường thủy, chôn ở quê ông là Quảng B́nh. Chứng tỏ Cù lao Phố
lúc đó là cảng quan trọng, sầm uất nơi cập bến của tàu bè khi đi
và đến Đồng Nai, cửa ngỏ của Nam bộ. Hiện nay ở Cù lao Phố c̣n đền
thờ mộ tượng trưng ông, do dân chúng thiết lập để nhớ ơn ông.
Cù lao Phố bắt đầu suy thoái khi lưu dân càng xuống vùng đồng
bằng sông Cửu Long càng nhiều, biến vùng Mỹ Tho và các vùng phụ
cận thành nơi sản xuất lúa gạo, cây trái, thủy sản lớn nhất của
miền đất mới Gia Định - Đồng Nai. Hơn nữa Cù lao Phố thiếu hàng
hóa đưa ra ngoài v́ lâm sản dần dần ít đi và không c̣n là sản phẩm
chính cần ở thị trường. Nhiều thương gia lần đời xuống Sài G̣n-Chợ
Lớn để mua bán nguồn lúa gạo dồi dào của đồng bằng sông Cửu Long
bắt đầu dư để xuất đi nhiều nơi ở Đàng Ngoài và nhiều nơi khác mà
lúa gạo là nhu yếu phẩm chính. Cù Lao Phố tàn lụi và chấm dứt khi
quân Tây Sơn do Nguyễn Nhạc đến tấn công, đốt phá phố cù lao và
giết rất nhiều người Minh hương trong vùng. Đại Nam nhất thống chí
ghi rơ quân Tây Sơn đến "dỡ lấy hết nhà cửa, gạch đá của cải chở
về Quy Nhơn, từ đời Gia Long trung hưng tuy người ta có trở về,
nhưng trăm phần chưa được một". Những người sống sót đều chạy
xuống vùng Bến Nghé và Chợ Lớn lập phố xá và chợ mới gần chợ Tân
Kiểng. Từ đó Chợ Lớn càng trở nên phát triển hơn và là trung tâm
thương mại ở Gia Định và miền Nam. Thương thuyền khắp nơi vào buôn
bán và chở sản phẩm như lúa gạo đi các vùng và các nước như Trung
quốc và Mă Lai.
Năm 1822, khi người Anh ỏ Bengal (Ấn độ) và Singpapore gởi ông
John Crawfurd vào Gia Định gặp Tổng trấn Lê Văn Duyệt để t́m hiểu
về thương mại, Crawfurd có viết về Chợ Lớn (lúc đó gọi là Saigon)
và Bến Nghé như sau “..Đây là lần đầu tiên tôi tới Saigun (Sài G̣n)
và Pingeh (Bến Nghé). Và tôi bất ngờ thấy rằng nó không thua ǵ
kinh đô nước Xiêm. Về nhiều mặt trông nó c̣n sầm uất hơn, không
khí mát mẻ hơn, hàng hóa phong phú hơn, giá cả hợp lư hơn và an
ninh ở đây rất tốt, hơn nhiều kinh thành mà chúng tôi đă đi qua.
Tôi có cảm giác như đây là một vương quốc lư tưởng. . . . Dinh
Tổng trấn khá đồ sộ và uy nghiêm. Các thành tŕ nằm ở bờ sông An
Thông hà. Nơi đây buôn bán sầm uất. Dân xiêu tán tới đây được Tổng
trấn cho nhập hộ tịch, qua một hai đời đă trở thành người Gia Định.
Đông nhất nơi đây là dân Trung Hoa. Các dân tộc nơi đây được nhà
nước bảo hộ và họ đều có nghĩa vụ như nhau. Tất cả đều được sống
trong bầu không khí an lành. Trộm cướp không có. Người ăn mày rất
hiếm. Tổng trấn rất nhân từ, tha cả bọn giặc, bọn phỉ, bọn trộm
cướp ăn năn. Nhưng ông lại rất tàn bạo với bọn cố t́nh không chịu
quy phục triều đ́nh. Chưa ở đâu kỷ cương phép nước được tôn trọng
như ở đây.. . . Ở đây chúng tôi mua được rất nhiều lúa gạo, ngà
voi, sừng tê giác, các hàng tơ lụa, đũi thật đẹp.”. Cũng theo
Crawfurd th́ ở Chợ Lớn nhà cửa của thương gia Trung Hoa đồ sộ hơn
nhà cửa của người Việt nhiều. Đang khi John Crawfurd đi thơ thẩn,
ba gia đ́nh Trung Hoa loại khá giả nhất đă ra cửa mời ông vào chơi
(20).
Nếu cảng cù lao Phố vẫn c̣n th́ đây là khu phố cổ thương mại
thứ hai ở Việt Nam sau phố cổ Hội An, được thành lập với sự đóng
góp lớn của người Hoa. Cách đây 14 năm (1993), mộ tướng Trần
Thượng Xuyên được khám phá nằm ở Tân Uyên, tỉnh B́nh Dương, cạnh
hữu ngạn sông Đồng Nai, mà tôi có dịp đến thăm (9). Đ́nh Tân Lân,
ỏ thành phố Biên Ḥa, cạnh cù lao Phố là nơi thờ tướng Trần Thượng
Xuyên có sắc phong của vua Minh Mạng. Được xếp hạng là một di tích
lịch sử văn hóa. Đ́nh ở vị trí rất đẹp, trước măt đền là sông Đồng
Nai với cây cổ thụ lớn ngay cạnh sông. Tân Lân là tên gọi của vùng
bên phía chợ Biên Ḥa nơi tướng Trần Thượng Xuyên xưa kia đóng
quân, sử ghi là xứ Bàn Lân, sau đổi là Tân Lân. Bàn Lân có thể là
do chữ Bằng Lăng nói trại ra. Cây bằng lăng là cây bản địa, mọc
rất nhiều trước đây trong vùng Đồng Nai và Gia Định. Hiện nay cây
bằng lan c̣n có thể t́m thấy trong các rừng c̣n lại ở Đông Nam bộ
(như rừng Cát Tiên) và một vài tỉnh ở Tây nguyên (Lâm Đồng, Dak
Lak).
Văn hóa
Có thể thấy được sinh hoạt văn hóa sinh động của người Hoa
trước đây và hiện nay th́ không có ǵ hơn là đến khu Chợ Lớn. Tôi
đi cùng với một người bạn gốc Hoa vào Chợ Lớn thăm viếng các nhà
văn hóa người Hoa. Trong Nhà truyền thống góc đường Triệu Quang
Phục và Nguyễn Trăi (xưa gọi là đường Cây Mai) thường có triễn lăm
và các h́nh ảnh xưa ở Chợ Lớn cùng các sản phẩm mỹ thuật. Nhà
Truyền thống trước đây là nhà hát Tam Đa của người Hoa trong vùng.
Cạnh nhà truyền thống ở số 137 đường Triệu Quang Phục là trụ sở
Hội Văn học Nghệ thuật các dân tộc, chủ yếu là của người Hoa. Trụ
sở là Hội quán của chùa bà (Thiên Hậu) cho mượn. Chùa Thiên Hậu
nằm ở góc đường Nguyễn Trăi và Triệu Quang Phục. Đường Triệu Quang
Phục xưa là đường Canton (Quảng Đông) trong thời Pháp và là trung
tâm Chợ Lớn. Phim “Người T́nh”, phỏng theo tự truyện ‘L’Amant‘ của
nhà văn nữ Pháp Margurette Durras, được quay ở đường này. Nhà Xă
Tây ở cạnh đây (gọi là Xă Tây v́ là ṭa nhà hành chính của Pháp
chuyên lo chuyện nhập, xuất cảnh và giấy tờ). Vùng này ngày xưa
cũng được gọi là Minh Hương xă.
Anh Trần Đại Tân, người Triều châu, quê ở Sóc Trăng là người
biết nhiều về lịch sử người Minh hương ở Nam bộ. Anh Tân tặng tôi
quyển sách của anh viết về người Hoa ở Nam bộ (4). Nói chuyện về
các địa lư và phố xưa cũng như các người Hoa danh tiếng trong lịch
sử và hiện nay, như Trần Thành trước đây và Lư Ngọc Minh hiện nay
với xưởng gốm ở B́nh Dương. Hoạt động của Hội gồm hội họa, thư
pháp, nhiếp ảnh, xuất bản văn học. Ngoài ra c̣n có ban bảo trợ văn
hóa người Hoa, với chi hội ca múa nhạc có trụ sở là nhà văn hóa
Quận 5, gần Đại Thế giới, đường Trần Hưng Đạo.
Từ hội quán, chúng tôi đi bộ đến thăm chùa Thiên Hậu do người
Hoa Quảng Đông xây dựng, rất nhiều du khách nước ngoài viếng thăm.
Kiến trúc chùa rất đẹp với các tượng trên nóc, mái chùa bằng sành
sứ rất công phu và các tranh khắc trên tường là những tuyệt tác
rất trang nhă của nghệ thuật người Hoa. Cạnh chùa Thiên hậu là đền
Tam Sơn, trên đường Triệu Quang Phục, của người Phúc Kiến (Phúc
Châu), nơi đây thờ Ngọc Hoàng, Quan âm, Quan công.., không có chữ
quốc ngữ chỉ có chữ Hán trong và ngoài đền. Theo anh Tân, th́ kế
bên đền Tam Sơn, xưa kia có Thất phủ cổ miếu, nhưng đă bị phá đi,
hiện nay là xí nghiệp in, chỉ c̣n lại một bức tường. Đây là một
mất mác văn hóa to lớn.
Đến Đ́nh Minh Hương Gia Thạnh trên đường Trần Hưng Đạo, gặp lại
bác Vương Quang Tâm, hiện nay là người cai quản đ́nh mà năm trước
tôi có đến. Đ́nh là ṭa nhà cổ nhất Saigon, xây năm 1789, được
công nhận là một di tích lịch sử. Năm 1698, ở vùng này đă h́nh
thành nên làng Minh Hương ở Gia Thạnh, làng Minh hương c̣n để lại
câu ca dao
Gỏi chi ngon bằng gỏi tôm càng
Đố ai lịch sự cho bằng làng Minh Hương.
Lần trùng tu cuối cùng của đ́nh là vào năm 1921. Trong đ́nh,
bên phải thờ Trần Thượng Xuyên (có 2 di ảnh tướng Trần Thượng
Xuyên) và Nguyễn Hữu Cảnh, bên trái thờ Trịnh Hoài Đức và Ngô Gia
Tịnh. Cạnh đó là 1 chuông đồng do vua Minh Mạng tặng, với sắc
phong và chuyển tên từ làng thành đ́nh. Chuông được gióng một năm
một lần vào ngày 16/1. Sau chánh điện là sân rất rộng gọi là Thiên
Quang Tỉnh (giếng trời). Đ́nh Minh hương Gia Thạnh cũng là nơi tề
tựu, gặp gỡ của nhóm B́nh Dương thi xă, sáng lập bởi Trịnh Hoài
Đức, Ngô Nhân Tịnh, Lê Quang Định, với nhiều nhân sĩ đến đây để
ngâm thơ, xướng họa vào cuối thế kỷ 18 và đầu thế kỷ 19.
Chùa Giác Lâm là ngôi chùa thuộc loại xưa nhất Saigon. Chùa nằm
ở Phú Thọ Hoà kế quận 5 (nay là đường Lạc Long Quân, quận Tân B́nh),
vẫn c̣n giữ nguyên không thay đổi nhiều sau bao năm từ lúc thành
lập. Chùa được cư sĩ người Minh hương tên là Lư Thụy Long xây dựng
vào năm 1744 ở vùng thanh vắng nhiều cây cối không xa chùa Cây Mai
và G̣ cây mai, một nơi thanh lam thắng cảnh của Gia Định mà Gia
Định thi xă của Trịnh Hoài Đức thường hay nhóm họp làm thơ. Lư
Thụy Long có tên riêng là Cẩm, chuyên nghề đan đệm bán nên người
địa phương gọi là ông Cẩm Đệm. V́ thế chùa c̣n có tên là Cẩm Sơn,
Sơn Can hay Cẩm Đệm. Năm 1772 ḥa thượng Viên Quang tới trụ tŕ,
từ đó mới đổi tên chùa là Giác Lâm. Khi xưa lúc chùa được xây dựng
như một cái am, xa cư dân, rất thanh vắng, cây cối rậm rạp, thích
hợp cho sự tu dưỡng, tu hành. Trong quyển Gia Định thành thông chí,
Trịnh Hoài Đức đă miêu tả cảnh chùa như sau: "Chùa toạ lạc trên g̣
Cẩm Sơn, cách phía Tây lũy Bán Bích ba dặm..., cây cao như rừng,
hoa nở tựa gấm, sáng chiều mây khói nổi bay quanh quất, địa thế
tuy nhỏ mà nhă thú!...". Chùa hiện nay được công nhận là di tích
lịch sử - văn hóa quốc gia.
Nghề làm gốm là nghề tiểu công nghiệp lâu đời, bắt đầu từ khi
người Minh hương đến định cư ở xứ Đồng Nai. Hiện nay ở tỉnh Đồng
Nai và B́nh Dương, đa số các chủ ḷ gốm là do người Việt gốc Hoa,
hay Minh hương đảm trách. Họ đă làm nghề này cha truyền con nối
bao nhiều đời cho đến nay. Đây là hai trung tâm gốm sứ lớn nhất
Nam bộ với nhiều thợ, nghệ nhân người Hoa. Vào thế kỷ 18, đă tồn
tại một trung tâm gốm sứ mang tên Xóm Ḷ Gốm ở vùng quận 8, Thành
phố Hồ Chí Minh (phía Chợ Lớn). Xung quanh vùng này c̣n có nhiều
địa danh như Ḷ Rèn, Xóm Ḷ Siêu, xóm Ḷ Gạch .. Địa bàn xóm Ḷ
Gốm xưa khá rộng, gồm các làng Ḥa Lục (quận 8), Phú Định-Phú Lâm
(quận 6), Phú Giáo-G̣ Cây Mai (quận 11) trải dài đôi bờ kênh Ruột
Ngựa, kênh-rạch Ḷ Gốm. Những con kênh này là tuyến đường giao
thông chính của khu vực Chợ Lớn, dùng ghe xuồng chở hàng sản xuất
đến các tỉnh miền Tây (15).
Gốm vùng Saigon-Gia Định-Đồng Nai ở thế kỷ 18,19 và 20 nổi
tiếng có đặc thù riêng và nổi tiếng tốt mà nhiều nhà văn hóa sử,
khảo cổ trước đây gọi là gốm "Cây Mai" (được biết đến qua những
gốm xưa t́m được ở g̣ Cây Mai và khu vực đường Cây Mai, Chợ Lớn)
nay được xếp loại và gọi chung là gốm Biên Ḥa, Saigon. Ngày nay
chỉ c̣n lại di tích ḷ gốm Hưng Lợi thuộc làng Ḥa Lục (phường 16
quận 8), gần làng Phú Định, nằm ven kênh Ruột Ngựa, của xóm Ḷ Gốm
xưa. Cuộc khai quật năm 1997-1998 đă t́m thấy tại đây phế tích 3
ḷ gốm, trên một g̣ lớn chứa đầy mảnh gốm của các loại lu, khạp,
siêu, chậu.. (15) Ngày nay những nơi c̣n tiếp tục truyền thống gốm
cổ truyền của người Hoa hiện nay c̣n rơ nhất ở những ḷ làm lu gốm
ở Biên Ḥa hoặc ở khu vực Q.9 TPHCM (Thủ Đức cũ, gần Công viên Văn
hóa dân tộc đang xây dựng), và một số cơ sở nhỏ sản xuất đồ gốm
gia dụng ở vùng Lái Thiêu.
Ngoài ra, anh hưởng văn hóa mà người Minh Hương để lại sâu đậm
nhất trong đời sống Nam bộ là ngôn ngữ. Tiếng Việt miền Nam được
lưu dân Minh hương và Hoa mang vào bổ xung cho tiếng Việt thêm
phong phú. Theo B́nh Nguyên Lộc, những từ sau có nguồn gốc Minh
hương (19)
Các từ gốc Triều Châu
Lẩu: Có nguồn gốc từ lẩu là một món canh của Triều Châu, đựng
trong một thứ bát đặc biệt bằng Laiton.
Tía: Chính các chú rể Triều Châu, lưu vong nhà Minh đă đưa ra
danh từ Tía vào Nam, và bị ta hiểu là Cha.
Hên: Do Hưng. Triều Châu đưa vào và họ đọc là Hinh th́ đáng lư
ta phải viết là Hênh.
Xui: Tiếng nầy đất Bắc có nhưng vay mượn lâu đời hơn và nói là
Xúi Quẩy. Do chữ Suy mà ra, đọc theo Triều Châu, Hên Xui = May Rủi.
Khổ Tai: Một món ăn khác mà dân miền Nam rất ưa và họ gọi là
KHỔ TAI. do người Triều Châu đọc Hô Tai (Hải Táo), một thứ rong
biển mà họ nấu với đường để bán cho dân miền Nam ăn.
Các từ gốc Quảng Đông
Xí Mụi: do Quảng Đông gọi Xíu Mụi, chữ Nho là Tiêu Mai.
Công xi: Công Ty, do Quảng Đông đưa vào.
Hủ tiếu: Không biết chữ ra sao, nhưng do Quảng Đông đưa vào, họ
nói là Phải, không hiểu sao ta lại biến thành Hủ Tiếu.
Xíu Mại: Không biết chữ nghĩa ra sao, nhưng đa số các món ăn
đều do Quảng Đông đưa vào.
Chạp Phô: Chỉ là Tạp hóa. Nhưng chính người Quảng Đông lại cho
nó cái nghĩa hạn chế là thực phẩm: trứng vịt, tôm khô, cá khô,v.v.
c̣n các cửa hàng bán các thứ khác cũng tạp nhạp lại không được gọi
là chạp phô.
Gị Chá Quảy: Thật đúng là Dầu chá quảy tức con quỷ nướng trong
dầu, chỉ loại bánh bột ḿ chiên mỡ.
Ly: Cốc bằng pha lê, người Quảng Đông gọi là P̣ Lư Púi, tức Pha
Lê Bôi, ta nuốt hết, chỉ chừa lại Lư và đọc là Ly.
X́ Thẩu: Chữ Nho là Sự Đầu, chủ sự, nhưng bị ta hiểu là Ông chủ.
Điều này cho ta thấy miền Nam ban đầu chịu ảnh hưởng nhiều của
phong tục, sinh hoạt, tập quán người Minh hương.
Các tỉnh ở Nam bộ
Trong năm 2007, tôi đă có dịp đi thăm một số tỉnh, thị xă ở Nam
bộ, sau đây là một vài nét sơ lược về người Minh Hương và Hoa ngày
nay ở các tỉnh Nam bộ
Cần Thơ: Dọc bến Ninh Kiều, bên sông Hậu có chùa Ông của người
Quảng Đông. Chùa được xây ở một vị trí khác cách đây hơn 70 năm,
chùa được dời đến vị trí đẹp ở bến Ninh Kiều gần đây sau này. Kiến
trúc chùa bên trong được xây theo chữ Quốc. Bên trái khi bước qua
công là tượng tướng Mă Tiền đứng cạnh tượng ngưa, bên phải là
tượng thờ ông Phước mang đến may mắn. Giữa đền thờ Quan Công. Dọc
theo bến Ninh Kiều, đường Hai Bà Trưng, gần phía khu chợ ngày
trước, c̣n vài nhà xưa của người Hoa và nhiều cửa tiệm của người
Hoa trên các đường Châu Văn Liêm, Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Vơ Văn Tần đổ
ra bến Ninh Kiều. Sau năm 1975, cộng đồng người Hoa ở Cần Thơ có
ít đi nhiều so với trước.
Sóc Trăng: Ngoài thị xă Sóc Trăng, có rất nhiều cửa hiệu bán
bánh pía từ các cơ sở làm bánh pía An Thành, Tân Hưng, Công Lệ
Thành... bánh pía là đặc sản Sóc Trăng của người Hoa Triều Châu
làm ra. Nhiều vùng ở tỉnh Sóc Trăng, như huyện Vĩnh Châu, nơi có
nhiều vườn nhăn, có rất nhiều người Khmer và Hoa cư ngụ, hơn cả
người Việt. Đa số dân ở vùng này nói 3 thứ tiếng Khmer, Triều Châu,
Việt. Thị xă Sóc Trăng nay đă trở nên phồn thịnh phát đạt, phố xá
ban đêm rất đông đảo xe cộ. Đường Hai Bà Trưng gần chợ có nhiều
cửa tiệm người Hoa, không khác ǵ đường Trần Hưng Đạo, Chợ Lớn.
Trên đường Trần Minh Phú góc đường Ngô Quyền là Hội tương tế người
Hoa (18-20 Trần Minh Phú) gần bờ sông Sóc Trăng. Một trong những
nhân vật văn hóa nổi tiếng sinh ra ở Sóc Trăng là ông Vương Hồng
Sển, người gốc Triều Châu. Ông đă ghi lại và sưu tập những chuyện
xưa, sự kiện từ đầu thế kỷ 20 xảy ra ở Nam bộ và vùng Saigon Gia
Định, để lại nhiều tài liệu quư giá. Hiện nay bộ sưu tập gốm của
ông được đặt ở pḥng mang tên Vương Hồng Sển trong Viện Bảo tàng
Lịch sử, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bảo Lộc: Thị trấn lớn và trù phú nhất Lâm Đồng sau Đà Lạt là
Bảo Lộc, giàu có nhờ các đồn điền trà và cafe chung quanh vùng. Ở
đây có cộng đồng người Hoa khá đông so với các vùng khác trong
tỉnh. Tôi có ghé vào tiệm bán trà, cafe Lâm Kim Hoa của người Hoa.
Chủ là 2 chị em gốc Phúc Kiến, người chị đang ở Mỹ, có đồn điền
mướn nhiều công nhân và người giúp việc ở tiệm trưng bày và thử
trà, cafe. Gần Ninh Chữ, Ninh Thuận, có một nghĩa trang Triều Châu,
ở Phan Rang cộng đồng người Hoa có khoảng từ 3000 đến 4000 người.
Không thể liệt kê hết các nhân vật người Minh hương từ trước
đến nay trong quá tŕnh lịch sử nhiều thời đă đóng góp vào văn hóa
Việt Nam như Vơ Trường Toản, Trịnh Hoài Đức, Lê Quang Định, Ngô
Nhân Tịnh, Phan Thanh Giản, Mạc Thiên Tích, Vương Hồng Sển... Ở
đây chỉ nêu lên vài nhân vật tiêu biểu của các thời kỳ đă qua
trong lịch sử.
Trịnh Hoài Đức
Ông nổi tiếng và được nhớ đến nhiều trong lịch sử không phải là
v́ ông là một vị đại thần dưới hai triều vua Gia Long và Minh Mạng
được trọng dụng và làm đến chức Thượng thư bộ Hộ mà là v́ tác phẩm
“Gia Định thành thông chí “ có giá trị văn hóa, địa chí về miền
Nam trong giai đoạn mở mang cuối thế kỷ 18, đầu thế kỷ 19. Tác
phẩm duy nhất này về miền Nam thời khai hoang mở đất, cho ta những
tư liệu quí giá về con người, phong tục, đất đai, địa chí, lịch sử...
Nếu nhà bác học Lê Quí Đôn có Vân Đài Loại Ngữ cho Bắc và Trung bộ
th́ Trịnh Hoài Đức có “Gia Định thành thông chí” cho giai đoạn
miền Nam mở đất.
Ngoài ra ông c̣n là một nhà thơ, để lại các bài thơ tả cảnh đất
Gia Định trong tập thơ văn “Cấn Trai thi tập”. Ông là và các bạn
thơ sáng lập “B́nh Dương thi xă“ và là một trong “Gia Định tam thi”
(Trịnh Hoài Đức, Lê Quang Định, Ngô Nhân Tịnh) thường tập họp làm
thơ ở những nơi như chùa Giác Lâm, g̣ Cây Mai (nay là Phụng Sơn tự,
đường 3/2 Saigon), Minh hương gia thạnh, chùa Cây Mai..Trong bài
thơ tả cảnh ở khu Đầm Sen (Saigon) cuối thế kỷ 18, cho ta thấy
cảnh thanh tịnh, hoang sơ ở Saigon hơn 200 năm nay (11).
Liên Chiểu Miên Âu
Âm âm hạm đạm thủy trung tiêu
Dục băi sa âu liễm ngọc kiều
Tầm mộng phù tung y lục cái,
Vong cơ nhàn khách chẩm hương miệu
Nặc tha xảo thước thu tang đỗ,
Nhiệm nhĩ lưu oanh chức liễu điều,
Du nữ thái liên hưu loạn động,
Cựu minh do đăi trục lai triều
Trịnh Hoài Đức (Cấn trai thi tập)
(Dịch nghĩa:
Chim âu (vịt trời, le le) ngủ ở Đầm Sen
Hoa sen sum suê vươn cao lên trong nước
Tắm xong, chim âu thu lông ngọc lại
T́m mộng, bước chân trôi nổi đi theo các lọng xanh
Quên đời khách nhàn nhă gối đầu vào cỏ thơm,
Gần chim thước khéo léo lấy vỏ gốc cây dâu (để làm tổ)
Mặc chim oanh lanh lợi dệt cành liễu
Các cô gái đến hái sen đừng làm kinh động
Hẹn cũ * c̣n chờ theo nước triều lên. )
* Hẹn cũ: Dịch chữ Hán “cựu minh” do điển “âu minh” chỉ người ở
ẩn chốn mây nước như có ước hẹn làm bạn với chim âu
Năm 1825, ông mất ở Phú Xuân, linh cửu được tổng trấn Lê Văn
Duyệt thân hành hộ tống đưa về quê mẹ ở Biên Hoà chôn ở phường
Trung Dũng, không xa Cù Lao phố. Năm 1938, trường Viễn đông Bác cổ
xếp mộ ông là di tích bảo tồn và hiện nay là di tích lịch sử quốc
gia.
Diệp Văn Cương, Diệp Văn Kỳ
Diệp Văn Cương, hiệu Thọ Sơn, bút hiệu Yên Sa, v́ quê quán ông
ở An Nhơn (gần G̣ Vấp), Gia Định. Thuở nhỏ, Diệp Văn Cương giỏi
chữ Hán và quốc ngữ nên được học bổng du học và đỗ tú tài ở Pháp.
Ông về nước dạy tại trường Chasseloup Laubat (tục danh trường “Bổn
quốc”)(1). Sau làm thông ngôn cho toà Khâm sứ Huế và là thầy dạy
học cho vua Đồng Khánh. Ông lấy công chúa, Công nữ Thiện Niệm, con
của Thoại Thái Vương Hồng Y, em vua Dục Đức. Ông có vai tṛ trong
việc đưa vua Thành Thái lên ngôi, sau khi vua Đồng Khánh mất.
Là một trí thức lớn ở miền Nam, năm 1868, ông là chủ biên tờ
Phan Yên báo tại Sài G̣n. Tờ báo quốc ngữ thứ hai sau Gia Định báo
(1865) do Trương Vĩnh Kư và Huỳnh Tịnh Của chủ biên. Nội dung
tương tự như Gia Định báo (lúc đầu bài trong Gia Định báo đa số là
công báo của chính quyền Pháp), với tin địa phương và thư độc giả
bằng chữ quốc ngữ, nhưng sau đó có các bài chính trị, nên báo bị
đóng cửa. Tác phẩm của Diệp Văn Cương gồm có: Syllabaire quốc ngữ
(sách vần quốc ngữ) (1919), Recueil de morale annamite (1917),
dịch tập Phong Hóa từ chữ Hán ra chữ quốc ngữ.
Hăy nghe Vương Hồng Sển (1) kể về ông:“Gần tuổi về hưu, ông trở
lại dạy Sử học và Việt văn trường Chasseloup-Laubat như trước. Kẻ
viết bài này khi c̣n học lớp dưới, đă từng đứng nghe lóm ngoài cửa
và ân hận không được thọ giáo cùng ông. Khoảng năm 1919, dạy sử
học, ông lấy Sử Diễn Ca Lê Ngọc Cát ra b́nh chú, dạy Việt Văn ông
đă biết đem những đoạn xuất sắc trong Kiều, Lục Vân Tiên, và Chinh
Phụ Ngâm ra giải thích cũng là mới lạ. Người ông nẫm thấp hùng vĩ,
lịch duyệt Bắc Nam, ông ngâm thi sang sảng, nói tiếng Tây rất "gịn",
b́nh sanh sở thích hát bội, roi chầu bóng bẩy rất mực phong lưu,
tuồng hát nằm ḷng, cô đào anh kép phục sát đất! Văn hát ông rước
luôn đào để cả y phục và áo măo về nhà hát lại cho ông thưởng thức
riêng.”
Diệp Văn Kỳ, con trai của Diệp Văn Cương, đỗ cử nhân, luật sư,
cũng là một nhà báo tiền phong rất có tiếng tăm như cha. Mua lại
tờ Đông Pháp thời báo (1927) từ ông Nguyễn Kim Đính, sau đổi thành
nhật báo Thần Chung, được sự cộng tác đắc lực của nhóm Nguyễn Văn
Bá, Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu, Đào Trinh Nhất, Trần Huy Liệu, Phan
Khôi, v.v.. Từ khi làm chủ, ông đă chuyển Đông Pháp thời báo theo
hướng một tờ báo đối lập và Đông Pháp thời báo trở thành tờ báo có
rất đông bạn đọc khắp Nam, Trung, Bắc. Cũng như cha, ông viết
nhiều, đôi khi cùng với Phan Khôi (dưới bút hiệu Tân Việt) và rất
mê kịch, tuồng (13). Ông là nhà báo dân tộc, lên tiếng bảo vệ sự
hợp nhất chữ quốc ngữ ở 3 kỳ chống lại sự chia rẽ trong những
tranh luận tách riêng sách giáo khoa quốc ngữ ở trong Nam (14) và
là người rất rộng lượng, giúp đở nhiều nhà văn, nhà báo như Mộng
Đài, Tản Đà..
Ông giúp đỡ thi sĩ Tản Đà, khi Tản Đà thất bại làm báo “An Nam
tạp chí” thiếu nợ phải vào Nam kiếm sống khoảng năm 1926, trong
lúc t́nh cờ gặp Tản Đà đang lang thang trên đường Catinat (đường
Đồng Khởi) trước nhà hàng Continental mà ông và một số bạn đang
ngồi bên trong. Mến tài Tản Đà, ông cho 2000$ (một số tiền lớn
thời đó) để Tản Đà trở ra Bắc trang trăi nợ nần và vào Nam viết
cho tờ Đông Pháp thời báo. Ông tră rất hậu hĩnh mỗi tháng cho thi
sĩ Tản Đà bằng tiền lương quận trưởng (12) và giúp đỡ định cư ở
Saigon (Xóm Gà, Gia Định) trong ngôi nhà rộng, tĩnh mịch để thi sĩ
có cảm hứng. Tuy vậy thi sĩ Tản Đà cũng có lúc báo sắp lên khuôn
mà chưa thấy đưa bài. Ông Kỳ phải kêu tùy phái vào Xóm Gà để hối
thúc bài. Tản Đà vẫn thản nhiên thốt một câu lịch sử để đời trong
văn học “Làm thơ đâu phải bửa củi mà muốn lúc nào có lúc ấy”.
Nhà thơ thời tiền chiến Mộng Đài cũng là một người thuở c̣n trẻ
khi vào Saigon đă được ông giúp đỡ. Trong dịp cùng với nhà báo Hoa
Đường xông đất đầu năm đến nhà Diệp Văn Kỳ thăm, Mộng Đài viết
trong hồi kư như sau
“Sau khi cho phép Hoa Đường múa “Gioọc” (“Giọc” là giọc tẩu,
ống hút thuốc phiện) đầu năm, cụ Diệp quay lại nắm lấy tay tôi và
bằng giọng thật ấm áp nói:
-“Xừ Mạnh đến với anh, anh chẳng biết chúc ǵ cho chú em mà chỉ
có mỗi bài thơ này tặng nhau ngày Xuân”.
Rồi cụ Diệp cất tiếng cao ngâm bài thơ ứng khẩu ấy như sau:
Cái kiếp trần duyên, kiếp đọa đày
Non Tiên sao khéo lạc loài đây?!
Trớ trêu thu thủy hoa in nguyệt
Đỏng đảnh Xuân Tiêu liễu vẽ mày
Sóng sắc lập ḷe con nước động
Gió hương phưởng phất cánh hoa lay.
Trông em khó nổi vô t́nh được
Mượn bút làm duyên để giải khuây.
Ngâm xong cụ lấy bút viết ngay vào tờ giấy đoạn vào pḥng trong
bỏ trong phong b́ đỏ ra trao tôi:
-“Bài thơ này tặng em. Ư tứ của bài thơ th́ em về chiêm nghiệm
lấy”.
Đêm hôm ấy tôi về đến nhà, mở ra để đọc lại cho vui. Không ngờ
ngoài tờ thơ cụ viết, cụ c̣n để ngay ngắn tờ “Con Công” năm đồng
ngay trong phong b́ để ĺ x́ cùng mấy chữ ngoằn ngoèo trong tờ
giấy đỏ:
“Cho người em cưng nhất của ta”. Cụ kư vào bên dưới”.
Năm 1945, ông Diệp Văn Kỳ bị ám sát ở Trảng Bàng (Tây Ninh) v́
bị coi là thân Nhật, uổng mất một tài năng trong lịch sử báo chí
Nam kỳ. Ngoài số bài báo ông viết và viết chung với Phan Khôi, c̣n
có tác phẩm để lại: Thần ái t́nh (Rabindranath Tagore), Diệp Văn
Kỳ dịch, 1929. Biệt thự nhà ông trên đường Trần Hưng Đạo, được
quân đội Nhật trưng dụng dùng làm nơi chỉ huy, sau quân đội Anh
giải giới giao cho Pháp và được chế độ củ dùng làm Bộ Tổng Tham
Mưu.
Vương Hồng Sển
Sinh ở Sóc Trăng, trong gia đ́nh gốc Phúc Kiến đă định cư từ
lâu đời ở Sóc Trăng. Ông là nhà văn rất Nam bộ trong cuộc sống và
phong cách viết văn. Những tư liệu, dữ kiện, biến cố, nhân vật và
nhận xét ông thâu thập trong suốt từ các năm ở thập niên 1920 cho
đến hết thế kỷ 20 ở miền Nam và các nơi ông có dịp viếng thăm mà
ông viết ra là những tài liệu lịch sử và văn hóa quư giá cho những
ai muốn t́m hiểu về những vùng đất, tỉnh thành ở miền Nam. . Khi
c̣n trẻ ở Sóc Trăng, ông làm công chức Phó ban hành chánh của
chính phủ thời Pháp thuộc rồi sau đó lên Saigon làm quản thủ thư
viện trong Viện bảo tàng Saigon. Ông có trí nhớ rất giỏi từng chi
tiết, rất mê sưu tầm tư liệu lớn, nhỏ và đồ cổ như đồ gốm sành, sứ.
Cùng thời với Sơn Nam, ông ít viết truyện nhưng rất nhiều bút
kư. Văn ông rất b́nh dân, dễ đọc và có duyên. Ngoài các nhân vật
nổi tiếng ông có gặp và viết như Nguyễn An Ninh, Phan Văn Hùm,
Nguyễn Văn Sâm, Ngô Đ́nh Nhu.., ông c̣n viết về những người thân,
người thầy, người bạn, quen biết trong sở làm, học đường, nhà trọ...
đủ mọi tầng lớp trong xă hội. Hăy xem một đoạn ông viết về Nguyễn
An Ninh
“ Tôi làm quen với ông Ninh nhờ mua báo bằng Pháp văn đối lập
chống chánh phủ đương thời, gọi là La Cloche fêlée (Cái chuông rè)
do ông một ḿnh vừa chủ trương, vừa viết báo, và vừa bổn phận đứng
khắp Sài G̣n, ḿnh mặc áo trắng, đi xe đạp, tay ôm mớ nhật tŕnh,
miệng rao lanh lẹ và chạy bán từ số, từ tờ cho mấy ông mấy thầy,
bất chấp cách lườm ngó đầy ác ư và tiếng nặng nhẹ của nhóm thực
dân, từ thằng biện chà gác đường đến thằng Cọt (Corse) ngồi nhà
hàng uống rượu khai vị xưng ḿnh là người cai trị da trắng mà sức
học chưa có tới mảnh xẹt-ti-fi-ca (certificat)...
Nhưng mỗi tuần vào khoảng tháng hai tháng ba tây năm 1926 cứ
mỗi thứ hai và thứ năm lối bảy tám giờ tối không sót ngày nào, ai
muốn gặp Ninh cứ lại trước nhà hàng Yeng yeng th́ gặp, không trật
bữa nào... Trước khi giáp mặt chị em, tôi thường mua một tờ Chuông
Rè để lấy le. Nhưng ông Ninh sau khi bán cho tôi đều đều, lại lầm
tưởng, cho tôi đúng là nhà ái quốc có gan, không nữa cũng một tay
cừ nào đó có sạn trong đầu. Một đôi khi sau khi nhận của tôi một
cắc bạc tiền mua báo, ông chồng báo qua tay trái và ch́a tay mặt
bắt tay tôi niềm nở như hai bạn tương tri cách mặt lâu ngày. Có
mấy lần tôi thẳng thắng kéo tay mời ông vô dùng cơm Yeng Yeng,
nhưng ông lắc đầu lia lịa, xổ một dọc tiếng Tây cám ơn không ngớt,
và tỏ vẽ cảm động thật t́nh. Nói cho đúng lúc ấy ai ai đều ngán
ông Ninh và không dám giao thiệp công khai, v́ sợ liên lụy không
nhỏ. Riêng tôi, tôi lại nghĩ lại. Lúc bấy giờ chưa ai biết là nhà
ái quốc dám hy sinh tánh mạng như ngày nay đă rơ, lúc ấy ông là
người ai cũng e dè không dám lại gần, trừ những người cùng một chủ
nghĩa với ông, Việt Tha, Le Jean de la Bâtie, Paul Marchet, vân
vân. C̣n tôi, tôi vẫn phục ông thật t́nh...”
Những bút kư ông viết cho ta thấy toàn thể đời sống, suy nghĩ,
văn hóa của thời bấy giờ rất sống động và quư giá về xă hội năm
xưa. Các tác phẩm nổi tiếng của ông gồm có: Saigon xưa và nay, Hơn
nữa đời hư.
Khi ông mất, ông cống hiến hết thảy tài sản, tư liệu và đồ sưu
tập của ông cho chính quyền thành phố. Hiện nay căn nhà của ông ở
Saigon số 9/1 Nguyễn Thiện Thuật, phường 14, quận B́nh Thạnh, được
Bảo tàng Lịch sử Việt Nam TP HCM quản lư, sử dụng. Theo báo Người
Lao Động th́ năm 2002, tức 6 năm sau khi VHS qua đời, qua căn nhà
của cố học giả gần như vô chủ và bị xuống cấp nặng nề. Theo di
chúc, ông hiến toàn bộ tài sản của ḿnh tại ngôi nhà cho Nhà nước,
nhưng do có tranh chấp về quyền thừa kế nên thời gian qua các cơ
quan chức năng chưa quản lư ngôi nhà này. Chỉ có số cổ vật và sách
quư được Bảo tàng Lịch sử Việt Nam TP HCM và Thư viện Khoa học
Tổng hợp tạm thời cất giữ.
Ngôi nhà cổ này hiện nay đă được trùng tu và có thể viếng thăm
để hiểu và biết được cuộc đời của một con người rất Nam bộ đặc sắc
đam mê văn hóa, nghiên cứu viết sách, hiến trọn đời ḿnh cho sự
đam mê ấy và những di sản quí báu mà ông để lại. Trong Viện bảo
tàng lịch sử, Thảo cầm viên Saigon, có một pḥng đặt tên Vương
Hồng Sển, trưng bày những hiện vật quư mà ông bỏ cả đời để thu
thập như các đồ gốm Trung hoa, men lam Huế..
Lư Lan
Nhà văn Lư Lan, sinh năm 1957 ở quê mẹ B́nh Dương, quê nội ở
Quảng Tây. Trưởng thành trong Chợ Lớn và dạy học ở Cần Giuộc. Chị
là nhà giáo và cũng là nhà văn viết nhiều truyện ngắn với giọng
văn tinh tế, ư nhị và đượm t́nh người. Trong những năm ở thập niên
1980, tôi đă đọc các truyện và tuỳ bút của Lư Lan trên báo Tuổi
trẻ, và các tập truyện như Nơi b́nh yên chim hót, Chút lăng mạng
trong mưa. Những chi tiết trong đời sống thường ngày ở trong phố,
ở người chung quanh trong xă hội Việt Nam mà thường ta không để ư,
được chị viết rất ư nhị với văn trong sáng và cảm thông với người
và cảnh. Một Thạch Lam mới trên văn đàn văn học Việt Nam. Các tác
phẩm của Lư Lan rất được ưa chuộng, đánh giá cao và được coi là
nhà văn chững chạc có tiếng với nhiều độc giả trong nhiều năm qua.
Ngoài ra chị cũng viết các truyện thiếu nhi như quyển Ngôi Nhà
Trong Cỏ (1984) được giải thưởng văn học thiếu nhi của Hội Nhà văn
Việt Nam. Năm 2005, tập thơ Là Ḿnh được giải thưởng thơ hội Nhà
Văn Thành Phố Hồ Chí Minh.
Các năm gần đây chị cũng là dịch giả các bộ Harry Potter ra
tiếng Việt. Lư Lan hiện đang sống ở Mỹ, cho rằng Hoa kiều trong
giai đoạn trước 1975 có văn học tiếng Hoa riêng ở Chợ Lớn và chị
đang khuyến khích các nhà văn gốc Hoa ở Việt Nam viết h́nh thành
một văn học Hoa văn như các văn học Hoa văn khác ở Singapore, Mă
Lai, Hongkong, Đài Loan và viết một tuyển tập (anthology) về văn
học Hoa ở Việt Nam. Lư Lan thường viếng quê nhà và vẫn c̣n sáng
tác, cộng tác với các báo và xuất bản các tác phẩm trong nước mà
gần đây nhất là tác phẩm Miên man tùy bút.
Kinh tế
Hiện nay 30% doanh nghiệp ở Thành phố Hồ Chí Minh là do người
Hoa làm chủ, như các công ty lớn Bitis, Sacombank và các cơ sở
thương măi Thuận Kiều Plaza, An Đông Plaza. Chúng ta cũng nên để ư
là trong khi chủ người Hoa hiện nay của công ty nước uống lớn nhất
ở Phi Luật Tân, St Miguel, c̣n đang sống cực nhọc trong “xóm nhà
lá” ở Manila trước khi thành công phát triển công ty lớn nhất ở
Phi Luật Tân th́ ở Chợ Lớn thời gian đó, các thương gia giàu có
người Hoa đă có văn pḥng, khách hàng, đối tác ở Singapore, Đài
Loan, HongKong. Họ đă thiết lập một hệ thống thương mại với các
người Hoa khác trong vùng Đông Nam Á để xuất khẩu hàng hóa và dịch
vụ. Tôi nhớ khoảng đầu thập niên 1970, những sản phẩm dầu gió sản
xuất ở Chợ Lớn như dầu Nhị Thiên Đường được ưa chuộng và xuất khẩu
qua thị trường Đông Nam Á, nhất là ở Thái Lan, cạnh tranh với
những sản phẩm dầu của một công ty Singapore, nay nằm trong tập
đoàn Temasek, mà bà chủ hiện nay trở thành có thế lực và giàu có
bậc nhất ở nước này.
(a) Giai đoạn trước 1975
Trước đây phần lớn kỹ nghệ nhẹ như sản xuất đồ gia dụng là tập
trung ở Chợ Lớn, trước khi các vùng kỹ nghệ Thủ Đức, Biên Ḥa,
B́nh Dương được thành lập trong đầu thập niên 1970. Những cơ xưởng
sản xuất nhỏ này phần lớn do các gia đ́nh người Hoa hoặc các tiểu
thương gầy dựng. Những cơ xưởng này đă và hiện nay vẫn c̣n đóng
vai tṛ quan trọng vào kinh tế vùng thành phố Hồ Chí Minh. Ngày
xưa trước 1975, Saigon có thể là nền kinh tế phồn vinh "giả tạo"
không có cơ sở vật chất, do tiền viện trợ nước ngoài đổ vào, nhưng
kinh tế ở Chợ Lớn cơ bản là tốt và có thực lực dựa vào sự làm ăn
cần cù, chăm chỉ và chuyên tâm của người Hoa.
Sau đây là tóm tắt về một số thương gia người Việt gốc Hoa từ
thời Pháp thuộc tới nay (1).
(1) Chú Hỏa: Theo Vương Hồng Sểnh (1), tên thật là Hui Bon Hoa,
kư âm theo tiếng Pháp sau khi nhập Pháp tịch, nên gọi "Chú Hỏa"
như vậy cho đến đời đời (người miền Nam thường thân mật gọi các
người Hoa là "Chú"), không rơ danh tánh theo Hán tư.. Lúc đầu là
thợ dạo mua bán "lạc son", mua đồ củ để chế biến và bán lạị Sau
khi tạo dược một số vốn, hùn hạp với một người Pháp thầu khuếch
trương các tiệm cầm đồ trong Nam kỳ và buôn bán bất động sản. Sau
khi ră hùn, được chia một số tiền, làm chủ các sản nghiệp đất cát
miền Lục Tỉnh. Các tài sản bất động sản ở trung tâm Saigon trên
đường Nguyễn Huệ và Lê Lợi của công ty Hui Bon Hoa được cho mướn.
Công ty này được tiếng là rất "biết điều" và không eo sách, làm
khó người mướn phố. Các con cháu của "Chú Hỏa" luôn luôn ḥa thuận,
gia tài giử nguyên vẹn không chia phần manh mún, chỉ cùng nhau
chia lợi tức, và mổi khi cần dùng một số tiền to tát th́ người
trong họ phải xin chử kư của người trưởng huynh khi ấy ngân hàng
mới phát bạc.
Cùng thời với chú Hoả là một người Việt gốc Hoa nổi tiếng ở Lục
Tỉnh, Chú Hỷ. Ông cạnh tranh với công ty Pháp, công ty Vận tải
đường sông rạch "Compagnie des Messageries fluviales" chuyên chở
hàng và người trên sông ng̣i miền Tây nam bộ. Tàu Chú Hỷ giá vé rẻ
hơn và hành khách được lo chu đáo. Bởi vậy có câu " Đi tàu Chú Hỷ,
ở phố Chú Hỏa".
Hồi về thăm Việt Nam đầu năm 2007, tôi có viếng nhà của chú Hỏa
ngày xưa (nay là viện Mỹ thuật thành phố), và có may mắn nói
chuyện với chị giám đốc về đề tài chú Hỏa. Ngoài các toà nhà bên
cạnh Viện, chú Hoả ngày xưa c̣n xây khách sạn Majestic ngay bến
Bạch Đằng cạnh sông Saigon, Bệnh viện Saigon và các dinh thự khác
ở Saigon, Vũng Tàu theo kiểu nhà Tây. Vào dịp viếng thăm Vũng Tàu,
tôi có dự đám cưới con nhà văn Xuân Sách ở khách sạn Palace. Xưa
kia khách sạn Palace là biệt thự của chú Hỏa. Ngày nay th́ hiện
đại nhưng mất đi dáng cổ kính của kiến trúc Tây ngày xưa. Giữa sân
vào khách sạn giờ đây là một hồ bơi rất sang của khách san, nhưng
bên cạnh vẫn c̣n cây cổ thụ to lớn mấy người ôm cũng không xuể,
tàn lá xum xuê.
Ngày nay ta có thể đến thăm một căn nhà của chú Hỏa trên đường
Phó Đức Chính, gần chợ Saigon. Toà nhà này hiện nay là Viện Mỹ
Thuật thành phố Hồ Chí Minh, bên cạnh trụ sở của bộ Văn hóa Thông
tin thành phố đồ sộ không kém (xưa kia cũng là nhà của chú Hỏa).
Giá vé vào cửa thăm quan rất rẽ (5000 đồng). Ṭa nhà Bảo tàng Mỹ
Thuật đồ sộ, rất đẹp, xưa kia là của chú Hỏa (Hứa Văn Bon). Tổng
thống Mỹ Bill Clinton khi dến Saigon đă có viếng thăm Viện Bảo
tàng Mỹ thuật này. Rất ít khách Việt, đa số là khách nước ngoài
nhưng tuy vậy vẫn c̣n rất vắng vẽ. Giữa ṭa nhà 3 tầng là một sân
lớn, chung quanh là các pḥng với sân ban công (balconỵ) và hành
lang nh́n mở ra phía sân trong.
Ṭa nhà xây theo kiểu Pháp (chỉ có mái là có dạng Việt), rất
kiên cố chắc chắn với trần cao. Các bậc thang làm bằng đá cẩm
thạch (marble), giữa sân lobby vào cửa chính có 1 thang máy làm
đầu thế kỹ 20, giống như thang máy cỗ xưa ở Paris, vẫn c̣n chạy
nhưng ít dùng. Ṭa nhà này có rất nhiều pḥng, mỗi pḥng đều có
đèn treo từ trần và lót gạch bông vẫn c̣n như xưa. Các tranh trưng
bày trong Viện đa số về các sinh hoạt và chiến tích, thành tích
trong thời chiến tranh chống Mỹ không có ǵ xuất sắc ngoài bức sơn
mài to lớn "Vui xuân" của Nguyễn Công Trí (một nghệ sĩ tạo h́nh
nổi tiếng của Trường Mỹ thuật Đông Dương mà xưa kia toàn quyền
Pháp đă mua 1 bức sơn mài đặt trong phủ toàn quyền ở Hà Nội). Ở
lầu hai có trưng bày đồ gốm, bàn ghế xưa và các tượng thờ trong
vùng Saigon từ thế kỷ 19, 20. Đằng sau trên lầu 3 nh́n xuống sân
vườn giữa ṭa nhà, có trưng bày bức tượng ông Trương Vĩnh Kư (sau
giải phóng được mang vào đây).
Trong lúc tôi đang xem gốm Biên Ḥa, th́ t́nh cờ gặp chị giám
đốc Viện trong pḥng triễn lăm. Tôi hỏi về lịch sử gốm Biên Ḥa và
được chị tiếp chuyện. Qua đó tôi có góp ư với chị là các tranh nên
có đề năm sáng tác (ngoài tên tác giả), chị cho biết sẽ có tập
sách viết về lịch sử viện trong dịp 20 năm thành lập và các mục
lục tranh và tiểu sử các tác giả. Nói chuyện với chị về huyền
thuyết "con ma" nhà chú Hỏa ly kỳ rùng rợn về con gái chú Hỏa với
bệnh cùi và huyền thuyết thuở hàn vi "đi bán ve chai". Tất cả đều
không đúng sự thật. Chú Hỏa không có con gái chỉ có 3 người con
trai và sau này đă về Tàu chết ở đó. Chú Hỏa làm việc với một chủ
người Pháp, v́ tính siêng năng và tốt nên ông chủ Pháp thương và
đă giúp chú Hỏa vốn mở tiêm cần đồ buôn bán. Tiệm cầm đồ đầu tiên
là ṭa nhà góc đường Phó Đức Chính và Nguyễn Thái B́nh, văn pḥng
ông ở trước cửa viện bên kia đường, trên một khu đất vẫn c̣n trống.
Khi nhà ông được xây, th́ từ chợ Saigon và phía đường Lê Lợi,
Nguyễn Huệ, có thể thấy được biệt thự của ông. Ông xây 3 căn trên
sát nhau trên đường Phó Đức Chính, mỗi căn cho một người con trai.
Căn giữa (hiện nay là trụ sở Bộ Văn hóa Thông tin) cho người con
trai lớn có đặt bàn thờ tổ tiên. Theo chị giám đốc th́ trụ sở Bộ
sẽ di về chổ khác, giao ṭa nhà (cũng đồ sộ với kiến trúc Pháp)
lại cho bảo tàng Mỹ Thuật.
Cách đây vài tháng (khoăng cuối năm 2006), con cháu chú Hỏa về
thăm và có nói là cũng thấy nhà đă được dùng cho công chúng và
chưa có ư đ̣i lại ṭa nhà và các ṭa nhà chung quanh (đất gồm diện
tích giữa 4 góc đường Lê Thị Hồng Gấm, Calmette, Phó Đức Chính và
Nguyễn Thái B́nh).
Trên lầu ba là các pḥng trưng bày hiện vật của nền văn hóa Óc
Eo t́m được ở nhiều nơi ở đồng bằng sông Cửu Long (Rạch giá, Kiên
Giang, Sóc Trăng, Long An, Tây Ninh...), pḥng văn minh Champa với
các phù điêu, tượng thần t́m được ở Trà Kiệu, B́nh Định, và pḥng
trưng bày các gốm, tượng, đồ đồng Việt Nam.
Ở góc sân giữa ṭa nhà là bức tượng đồng rất đẹp ông Quách Đàm,
một người Hoa nổi tiếng ở Saigon. Người đă xây dựng chợ B́nh Tây.
Trên bức tượng ở ngực ông đầy huy chương. Trước đây tượng được đặt
ở chợ, sau giải phóng, cũng như tượng Trương Vĩnh Kư, đă được mang
về đây. Hai pḥng bên cạnh sân giữa ṭa nhà là hai pḥng trưng bày
tranh (gallery) để bán, chủ tiệm của pḥng tranh bên trái có treo
ảnh chụp của bà với tổng thống Clinton khi ông vào đây thăm viếng.
Hôm viếng thăm, tôi có dịp dừng lại nói chuyện với các du khách
từ Pháp giải thích cho họ về bức tượng Petrus Kư và Quách Đàm và
sơ lược tiểu sử của hai nhân vật lịch sử này. Phải nói là Viện Bảo
tàng nên có hướng dẫn viên hay sách chỉ dẫn cơ bản về những hiện
vật trong Viện để du khách có thể hiểu biết về nghệ thuật và học
hỏi về các đặc thù nghệ thuật Việt Nam nói chung và thành phố nói
riêng.
(2) Quách Đàm: Miền Nam có câu nói về những người giàu có trong
giữa thế kỷ 20 “Nhất Hỏa, nh́ Đàm, tam Xường, tứ Ích”, cho thấy
Quách Đàm là nhân vật thứ hai sau chú Hỏa. Xuất thân thuở hàn vi
bán ve chai, kèm theo mua da trâu, vi cá và bong bóng cá. Ddàm nhờ
lanh trí, nhập giới thương mại thấy việc mau lẹ hơn ai hết, nên
làm giàu nhanh chóng.
Ông là người xây lập chợ B́nh Tây hiện nay vẫn c̣n ở Chợ Lớn.
Lúc đó Chánh tham biện Chợ Lớn thấy Chợ Củ (hiện nay là nền nhà
Bưu Điện Chợ Lớn, Quận 5) nhỏ hẹp, không đủ cho bạn hàng nhóm họp.
Ông nghe biết được nên mua ngay vùng đất ruộng B́nh Tây, biến đất
ruộng thành đất thổ trạch châu thành, rồi cho người đến dâng miếng
đất, chỉ đ̣i được xây chợ và cất phố kiểu buôn bán chung quanh chợ
để cho mướn. Chính quyền đồng ư và sau này cơ sở phát triển c̣n
cho phép tượng Quách Đàm được tạc và dựng ở chợ. Trụ sở của nhà
buôn Quách Đàm nằm ở đường Quai de Gaudot (nay là đường Khổng Tử).
Về sau Quách Đàm rất giàu, xoay qua đứng bảo lảnh cho các con
nợ nhà băng "Đông Dương Ngân hàng". Mỗi lần xin chử kư bảo chứng,
họ phải chịu cho Đàm một huê hồng qui định trước. Nhưng gặp năm
kinh tế khủng hoảng 1929, các nhà buôn vỡ nợ không đủ sức trả bạc
vay, nhà băng phát măi phá săn, lôi kéo sự nghiệp nhà họ Quách sụp
đổ theo cơn khủng hoảng kinh tế trầm trọng ở Nam kỳ.
Sau này, khi Quách Đàm chết, đám ma lớn không đám nào bằng. Bàn
đưa không thể đếm. Đủ thứ nhạc Tây, Tàu, Ta, Miên... Khách đi
dường có việc, miễn nối gót theo đám ma vài bước là có người lễ
phép đến dâng một ly nước dừa hay la ve (bia) và riêng tặng một
quạt giấy có kèm một tấm giấy "ngẫu" (năm đồng bạc) đền ơn có ḷng
đưa đón! Quách Đàm được chôn ở gần chùa Giác Lâm giáp ranh Chợ Lớn
và Gia Định (1)
(3) Mạc Phúc Sử: Nổi tiếng với sản phẩm dầu cù là Macphsu. Dầu
cù là Macphsu do ông làm chủ và sản xuất. Macphsu là tên kư âm
bằng Pháp ngữ khi Mạc Phú Sử ra cầu chứng tại ṭa. V́ không biết
đọc, biết viết tiếng Pháp nên khi được hỏi dầu cù là cầu chứng tên
ǵ, ông tưởng là nhân viên ṭa hỏi tên ḿnh là ǵ, ông bèn nói Mạc
Phúc Sử và được người Pháp viết theo phiên âm Pháp ngữ là Macphsu.
Sản lượng và tiếng tăm dầu cù là Macphsu rất lớn, ngoài thị trường
miền Nam, Mạc Phúc Sử c̣n xuất cảng sang Lào, Cambodia, Singapore
và Thái Lan.
(4) Trương Văn Bền, sinh năm 1883, trong một gia đ́nh người Hoa
gốc Triều Châu đến Việt Nam lập nghiệp từ đầu thế kỷ 19. Trương
Văn Bền có dịp sang Pháp du học và đă học được nghề sản xuất xà
bông. Năm 1918, ông dùng dừa có sẵn rất nhiều ở miền Tây Nam bộ để
thành lập xưởng ép dầu dừa và từ đó sản xuất xà bông cục đáp ứng
nhu cầu rửa ráy, giặt giũ của dân chúng hằng ngày. Khi cơ sở phát
triển, năm 1932, ông cho xây một hăng lớn hơn và làm chủ nhân hăng
xà bông “Trương Văn Bền”. Sản phẩm nổi tiếng nhất của hăng ông là
xà bông thơm Việt Nam hiệu Cô Ba, rất thịnh hành ở miền Nam và sau
đó trên khắp thị trường Đông Dương. Cô Ba tượng trưng cho một phụ
nữ đẹp, giản dị, trong trắng của cô gái miền Nam trong huyền thoại.
Xà bông Cô Ba cạnh tranh về chất lượng và giá thành rẽ đă đánh bạt
được xà bông nước ngoài, nhập từ Pháp (17). Ông là người Hoa Triều
Châu đi trước trong thương mại và làm gương cho những người sau
này như Trần Thành. Ông Trương Văn Bền nổi tiếng như Bạch Thái
Bưởi cùng thời ở miền Bắc và trở thành giàu có, có hạng ở Nam kỳ.
Gia sản của ông tương đương với ông Phủ Kiểng ở Bến Tre, ông Kho
Gressier Remy ở Sóc Trăng, hay gia đ́nh Lâm Quang ở Trà Vinh. Ông
Bền cũng chính là người xuất tiền cất một dăy phố 50 căn, gần Ngă
Sáu Chợ Lớn, nằm góc đường Armans Rousseau và Général Lizé (nay là
đường Ngô Gia Tự và Hùng Vương) (17).
C̣n nhiều câu truyện của các doanh nhân người Hoa ở Chợ Lớn đă
phát triển kinh doanh đóng góp vào nền kinh tế Việt Nam từ các năm
xưa. Tôi trước đây có đọc một bài trong tạp chí nghiên cứu lịch sử
hồi năm khoảng năm 1977 đă liệt kê nhiều nhà kinh doanh người Hoa,
nhưng hồi ấy là đả phá họ, cho họ là tư bản bóc lột. Nay th́ đă
khác hẳn rồi, họ là những những người đă giúp cho nền kinh tế phát
triển và có ích cho đất nước, xă hội. Trước 1975, có những tư sản
Việt gốc Hoa cở lớn, kể sơ lược như sau (2):
(5) Trần Thành: Ông xuất thân từ gia đ́nh nghèo qua Việt Nam
đầu thế kỷ 20. Thưở c̣n thanh niên t́m việc ở Chợ Lớn, ông được
vào làm công trong một xưởng chế biến dầu thực vật của một chủ
người Hoa họ Trịnh, cạo rữa các thùng chứa. Được sự tín nhiệm của
chủ, ông được giao trọng trách đi mua nguyên liệu chủ yếu là đậu
nành và đậu phọng cho xưởng. Với uy tín của ông với nông dân và
đối tác ở nông thôn miền Nam và cả ở Cao Miên (Cambodia), ông
không những cung cấp hiệu quả kinh tế cho cơ sở xưởng chủ ông mà
sau này khi được chủ giúp đỡ cho vốn ra riêng c̣n cung cấp cho các
xưởng khác nữa.
Trong công việc làm ăn, ông coi trọng nhất là chữ tín. Ông nói:"
Chữ TÍN. Làm nghề ǵ cũng phải giữ cho được chữ TÍN mới có thể
thành công được. Ông lập ra hăng bột ngọt Vị Hương Tố. Được coi là
“vua bột ngọt và vua mễ cốc”, ông được bầu vào chức vụ bang trưởng
Triều Châu, khi tuổi chỉ mới xấp xỉ 40. Ông đại diện cho người Hoa
liên hệ với chính quyền miền Nam Ngô Đ́nh Diệm và sau này trong
thập niên 1960-1970 và được chính quyền kiêng nễ. Ông giúp đỡ
nhiều người có chí mượn vốn. Nhà ông lúc nào cũng có người đến xin
ư kiến làm ăn. Ông đi thăm các nhà máy, xí nghiệp lớn ở Đài Loan,
Nhật Bản để học hỏi kinh nghiệm tổ chức, điều hành các xí nghiệp
cở lớn và nghiên cứu thị trường.
(6) Vương Đạo Nghĩa, chủ hăng kem đánh răng hiệu Hynos cạnh
tranh với các hăng kem Việt Nam hiệu Perlon và Leyna ở miền Nam và
kem ngoại quốc như Colgate (Mỹ), C’est it (Pháp). Vào thập niên
1960, hồi tôi c̣n nhỏ khi được bác tôi dẫn ra Saigon và bây giờ
vẫn c̣n nhớ là h́nh ảnh rất lớn trên cửa chính của chợ Bến Thành
đường Nguyễn Huệ một anh “chà và” da đen cười tươi với hàm răng
trắng đều và đẹp của kem đánh răng hiệu Hynos. Lúc đầu, vào mới
hơn 20 tuổi, ông làm cho hăng kem nhỏ ít biết tiếng Hynos do một
người Mỹ gốc Do Thái có vợ Việt Nam mở hăng sản xuất kem đánh răng
ở Việt Nam. Sau này khi người vợ mất, ông chủ buồn rầu bỏ đi giao
lại cho ông v́ ông được tiếng là trung thành, cần cù làm ăn.
Vương Đạo Nghĩa là người Việt gốc Hoa tiên phong trong lănh vực
tiếp thị làm ăn kiểu Tây Phương. Ông là người biết được giá trị
của thương hiệu và sự quan trọng của tiếp thị trong kinh doanh
thương mại. Quảng cáo kem Hynos của ông xuất hiện ở khắp nơi từ
thành thị đến nông thôn trên mọi phương tiện, ở các cửa hàng ăn
uống, loa phóng thanh, dọc đường, chợ búa, báo chí, hệ thống
truyền thanh và truyền h́nh, ngay cả trên các thùng xe vận tải
chạy khắp miền Nam. Ông cũng là người đầu tiên biết vận dụng phim
vơ hiệp và t́nh báo kiểu Trung Hoa vào quảng cáo, sau khi gặp lại
người anh họ (con ông bác) ở Hong Kong là tài tử Vương Vũ và được
ông mời đến Việt nam nhiều lần trong các dịp nghĩ hè. Người dân
miền Nam khó có thể quên h́nh ảnh tài tử Vương Vũ giải thoát các
xe hàng do đoàn bảo tiêu hộ tống thoát khỏi quân cướp nhưng tất cả
bảo tiêu đă bị chết, chỉ c̣n Vương Vũ và khi ông mở xe hàng th́
trong đó không phải là vàng bạc châu báo mà là các hộp kem đánh
răng Hynos hay anh Bảy Chà cười toe toét với hàm răng trắng sáng
chói có mặt khắp nơi trên các hang cùng ngơ hẻm. Thương hiệu Hynos
gắn liền với kem đánh răng trong tâm trí người dân. Sản phẩm của
hăng kem đánh răng Hynos có mặt khắp nơi tại Việt Nam, và sau đó ở
thị trường Đông Nam Á và Hong Kong. Khác với các hăng và doanh
nghiệp Việt Nam thời bấy giờ, ông đă trích ra nhiều hơn từ lợi
nhuận vào quảng cáo thương hiệu, giới thiệu sản phẩm với tầm cở
quốc tế, tương đương với quảng cáo của các thương hiệu nổi tiếng
nước ngoài như Coca-Cola, Seiko, Adidas...
(7) Trương Vĩ Nhiên,"vua ciné": Xuất thân từ một gia đ́nh người
Hoa, anh em họ Trương được ăn học và giáo dục theo phong cách quư
phái người Hoa. Trương Vĩ Nhiên thấm nhuần đạo Phật và say mê
triết lư Đông phương (11), có đầu óc phóng khoáng và nhạy cảm hiểu
biết về tâm lư quần chúng và thị trường. Ông là chủ nhân hăng xuất
nhập cảng phim Viễn Đông, đại lư độc quyền các phim của hảng phim
nổi tiếng Shaw Brothers (Đài Loan) và Golden Harvest (Hồng Kông).
Điện ảnh Hong Kong và Đài Loan cuối thập niên 1960, được coi là
thời vàng son, đă sản xuất các phim dă sử kiếm hiệp thu hút khán
giả nhiều nơi ở Đông Nam Á cạnh tranh và làm các hảng phim Âu Mỹ
nể sợ và khâm phục. Ở miền Nam thời bấy giờ, các tài tử Lư Thanh,
Trịnh Phối Phối, Khương Đại Vệ, Vương Vũ, Địch Long, Hà Lợi Lợi...
với các phim Độc Long Đàm, Hiệp Khách Hành, Độc Thủ Đại Hiệp, Nhất
kiếm trấn ải, Long hổ quyết đấu... đă chinh phục khán giả với
doanh thu vượt kỷ lục hơn cả các phim Âu Mỹ thời đó như Cleopatre,
Love Story, Romeo Juliet, Deux hommes dans la ville.. của các tài
tử Liz Taylor, Ali Mc Graw, Steve McQueen, Alain Delon, Jean
Belmondo..
Trương Văn Vĩ đă nh́n thấy trước qua sự say mê của người dân
với các truyện vơ hiệp Kim Dung và sau này Quỳnh Dao ở các nước Á
châu và ông đă mua lại các rạp làm ăn ế ẩm, tân trang lại và làm
chủ các rạp hát ciné ở nhiều nơi vùng Sài G̣n - Chợ Lớn: Eden, Đại
Nam, Palace, Opéra, Oscar, Lệ Thanh, Hoàng Cung, Đại Quang, Thủ Đô...
(ngoài các rạp Rex, Văn Hoa Dakao, Văn Hoa Sài G̣n, Mini Rex A, B,
C của ông Ưng Thi, trong hoàng gia nhà Nguyễn, chuyên chiếu phim
cao cấp). Tất cả các rạp của Trương Văn Vĩ đều được sửa sang xây
dựng mới mẻ, với hệ thống máy lạnh tốt, ghế ngồi bọc da, trang
hoàng đẹp mắt và hấp dẫn khách hàng với hệ thống máy móc như máy
chiếu, âm thanh, ánh sáng nhiều màu trong rạp, cả buvette (quầy
giải khát) phục vụ ngay trong rạp, cùng các phương tiện quảng cáo
đa dạng và quy mô. Bắt đầu từ năm 1966, Trương Vĩ Nhiên nhập cảng
các loại phim vơ hiệp, kiếm hiệp dă sữ Hồng Kông và Đài Loan, sau
là phim t́nh cảm phỏng theo truyện của các tác giả nổi tiếng như
Kim Dung, Ngọa Long tiên sinh, Quỳnh Dao.... Ông trở thành tỉ phú
giàu có khi chỉ mới hơn 30 tuổi. Ông có ảnh hưởng rất lớn về nghệ
thuật và văn hóa điện ảnh trong cuối thập niên 1960 và đầu 1970.
(8) L.N ("vua bột ḿ"): L.N giàu có bằng "cho vay lúa",, nhập
cảng thóc gạo miền Tây, kinh doanh bột ḿ . L.N xây dựng "Saigon
kỹ nghệ bột ḿ công ty" (Sakybomi), hùn vốn vào công ty bột ḿ
khác Viflomico. Để nắm độc quyền hai nhà máy cở lớn nhất ở Đông
Nam Á này, L.N đă đóng cổ phần vào 3 ngân hàng: Trung Nam ngân
hàng (100 triệu), Đồng Nai ngân hàng (40% cổ phần), Nông Doanh
ngân hàng và vào hai công ty xuất nhập cảng Mỹ Liên (21 %), Hứa
Nhuận Chân (70%), đồng thời lập hai công ty nhập khẩu 18 mặt hàng
khác (3).
(9) Tập đoàn đại gia tộc họ Ông, chủ dầu cù là hiệu Con Cọp,
được gọi là Cọp Saigon (Ông Nghiệp Hùng, Ông Nghiệp Sơ, Ông Nghiệp
Kỳ, là con của Ông Tích). Ngoài ra tập đoàn này khống chế một nhà
máy dệt lớn, một công ty vận tải đường bộ, đường sông, công ty
xuất nhập cảng, một xưởng đóng tàu, một công ty bốc dở hàng ở
Thương cảng Saigon, một ngân hàng và nhiều nhà cho thuê. Trong
thời này cũng có nhiều tập đoàn và các nhân vật khác như các tập
đoàn tư bản họ Trương, họ Mă, vua "xăng dầu" Lư Hớn, "vua cà phê"
Trần Thiện Tứ, "vua vải sợ" Lưu Tú Dân, "vua thuốc lá" Siou Phong
....
(b) Thời kỳ đổi mới sau 1975
Đất nước Việt Nam có nhiều người Hoa và Minh Hương giỏi, nhưng
do những chính sách sai lầm, chính quyền trước đây đă đánh đổ họ
qua mấy chiến dịch đánh tư sản sau 1975: vua thép, vua gạo, vua
bột giặt, vua sà bông, vua bột ḿ ... đều bị đánh tan hoang bại
sản. Trong khi trong thời gian ấy mấy người Hoa chủ các công ty
lớn ở các nước Đông Nam Á như Temasek của Singapore, St Miguel của
Philippines..) vẫn c̣n không bằng một góc các công ty Hoa ở
Vietnam.
Ngày nay có một người Minh hương nổi tiếng không kém chú Hỏa,
Trần Thành xưa kia. Đó là “vua gốm” Lư Ngọc Minh, chủ công ty gốm
Minh Long ở B́nh Dương. Kế thừa truyền thống nghề gốm của người
Minh hương ở Gia Định- Đồng Nai, ngày nay các cơ xưởng làm gốm (đa
số ở Biên Ḥa và B́nh Dương) tiếp tục phát triển làm gốm, nhất là
sau giai đoạn Đổi mới, với các sản phẩm đặc sắc xuất khẩu đi nhiều
nơi trên thế giới. Ông đă tạo những bộ gốm nổi tiếng Cẩm Tú, Sơn
Hà, Hồn Việt ..Trước đây ông có nhờ gs Cao Xuân Phổ và Trần Quốc
Vượng cố vần để ông tạo con rồng Việt Nam theo kiểu triều đại Lư -
Trần, lúc cổ thành Thăng Long vừa được khám phá, trên sản phẩm gốm
của ông. Công ty ông cũng là nơi làm các "cup" gốm làm quà tặng
cho các nguyên thủ quốc gia tham gia Hội nghị APEC năm ngoái ở Hà
Nôi.
Cuộc đời của ông Minh trước 1975 đến nay đă được dựng thành
phim "Miền đất phúc" làm nhiều tập chiếu trên truyền h́nh Tp Hồ
Chí Minh. Xuất phát từ một gia đ́nh có truyền thống làm gốm sứ ở
Tân Phước Khánh (Tân Uyên - B́nh Dương), gia tộc Lư Ngọc Minh đă
có ba đời theo nghề gốm sứ. Năm 1975, đất nước thống nhất nhưng
thương mại tư nhân bị cấm và hạn chế. Trăi qua bao khó kh ăn, ông
vẫn kiên tŕ sản xuất và đến khoảng những giữa thập niên 1980 và
đầu 1990 sản phẩm của ông bắt đầu có mặt tại thị trường các nước
Đông Âu và tư bản. Nay th́ ông Lư Ngọc Minh là người chính phủ
Việt Nam trọng vọng (Ủy viên của mặt trận Tổ quốc, đại biểu quốc
hội, anh hùng lao động ...), công ty ông có gần 2000 công nhân làm
việc và thương hiệu gốm Minh Long xuất khẩu qua nhiều nước làm các
công ty Nhật, Hàn, Âu Mỹ gờm v́ cạnh tranh và qua mặt họ.
Chính Trị
Từ lúc Trần Thượng Xuyên và Dương Ngạn Địch được chúa Nguyễn
cho vào miền Nam mở đất, lập nghiệp, người Minh hương tiên phong
cùng lưu dân người Việt và dân bản sứ Khmer đă khai hoang mở mang
bờ cỏi làm vùng đất Gia Định-Đồng Nai (tức cả miền Nam thuở đó)
trở nên trù phú. Miền Nam trở thành miền đất hứa của nhiều dân
nghèo từ miền Trung vào lập cuộc đời mới. Người Minh hương đă tham
gia b́nh đẳng trung thành nhớ ơn phục vụ pḥ chúa Nguyễn ngay cả
lúc Nguyễn Ánh phải trốn chạy Tây Sơn bôn ba khắp nơi ở vùng đất
mới. Các tướng Minh hương như Châu Văn Tiếp, Đỗ Thành Nhân, Vơ
Tánh.. là những tướng đă ra giúp Nguyễn Ánh trong cuộc tranh hùng
với Tây Sơn. V́ sự giúp đỡ chúa Nguyễn, quân Tây Sơn năm 1783 đă
giết rất nhiều người Hoa, hủy hoại hoàn toàn Cù lao phố, và năm
1785 lần nữa vào cướp giết, phá hủy cơ nghiệp người Hoa vùng Chợ
Lớn, Mỹ Tho.
Khi Gia Long (Nguyễn Ánh) lấy được giang sơn, trong hàng công
thần phục vụ triều đ́nh có rất nhiều người gốc Minh hương và nhà
vua đă nhớ ơn và đăi ngộ xứng đáng. Nhân tài gốc Minh hương, từ Vơ
Trường Toản, Trịnh Hoài Đức đến Trương Minh Giảng.. ra phục vụ
triều đ́nh và đất nước không phân biệt Việt hay Minh hương
Tuy nhiên sau khi Gia Long mất, vua Minh Mạng không hài ḷng
với quyền tự chủ của tổng trấn Gia Định Lê Văn Duyệt. Lê Văn Duyệt
vẫn theo chính sách của Gia Long cho người Hoa các bang được tự
trị, và không có thuế thân. Sau khi tổng trấn Gia Định mất, chính
sách hà khắc của Minh Mạng đối với Lê Văn Duyệt, và trung ương tập
quyền băi bỏ hết chính sách nhu ḥa ngày trước gây bất b́nh với
nhiều người ở Gia Định trước đây đă pḥ Gia Long kể cả người Minh
hương, gốc Hoa, người Chăm, giáo sĩ truyền đạo người Pháp. Sau
cuộc khởi nghĩa của Lê Văn Khôi bị dẹp mà trong hàng ngũ giúp Lê
Văn Khôi có nhiều người Hoa, chính sách của Minh Mạng càng ngày
càng khắc khe với người Hoa và người Minh hương. Trong tác phẩm
thơ “Bốn Bang thư” của một người Hoa gọi là Bốn Bang (thực sự tên
hiệu đại diện cho bốn bang Quảng Đông, Triều Châu, Phúc Kiến và
Hải Nam) bị bắt và làm ra bài thơ dài 308 câu lục bát trước khi bị
hành h́nh, có kể rơ về sự t́nh miền Nam trong cuộc khởi nghĩa Lê
Văn Khôi.
Từ đó người Minh Hương và Hoa ít có tham gia vào triều đ́nh
chính quyền cho đến thời Pháp thuộc, họ chỉ chăm chú làm ăn v́ đối
với họ chánh quyền Việt và Pháp cũng không khác qua sự đối xử,
phân biệt.
Vơ Tánh
Một trong “Gia Định tam hùng” (Châu Văn Tiếp, Đỗ Thành Nhân, Vơ
Tánh). người Minh Hương, tổ tiên trước kia ở làng Phước An (Biên
Ḥa) sau dời về B́nh Dương, Gia Định. Thuở c̣n thanh niên, ông
luyện tập vơ nghệ, nổi tiếng là một vơ sư cao cường có sức mạnh
hơn người, một ḿnh Vơ Tánh đă dùng tay không đánh cọp tại 18 thôn
Vườn Trầu . Đương thời, ông cùng với Đỗ Thành Nhân và Châu Văn
Tiếp họp thành Gia Định tam hùng. Quân Tây Sơn thường nói rằng: "Trong
bọn tam hùng đất Gia Định, Vơ Tánh là anh hùng bậc nhất, không nên
phạm đến".
V́ không chịu khuất phục Tây Sơn, Vơ Tánh chiêu tập nghĩa binh
cùng với anh là Vơ Nhân phất cờ khởi nghĩa tại 18 thôn Vườn Trầu (Gia
Định), rồi kéo binh chiếm giữ cả vùng đất G̣ Công. Sau khi người
anh mất, ông rút quân về án giữ thôn Vườn Trầu. Nghĩa quân của Vơ
Tánh có đến mấy vạn người, chia thành 5 đoàn, được đặt hiệu là đạo
quân Kiến Hạ.
Khi Nguyễn Phúc Ánh từ Xiêm La trở về nước có mời Vơ Tánh về
giúp. Năm 1788, Vơ Tánh cùng các bộ tướng đến bái kiến Nguyễn
vương. Nguyễn Phúc Ánh mừng rỡ, phong cho Vơ Tánh làm Tiền phong
dinh Khâm sai Chưởng cơ và gả em gái là Ngọc Du công chúa.
Ngay từ buổi đầu, Vơ Tánh đă giúp Nguyễn Phúc Ánh nhiều công
trạng: vây đánh và bắt được tướng của Tây Sơn tên Phạm Văn Tham
(1789), đánh bại tướng Đào Văn Hổ và thu phục thành Diên khánh
(1790). Khi trấn thủ thành Diên Khánh, Vơ Tánh dùng mưu đuổi quân
Tây Sơn đến vây thành (1794). Sau đó về lại Gia Định, ông được
phong tước Quận Công kiêm lănh chức Đại Tướng Quân. Năm 1797, ông
theo Nguyễn Ánh ra đánh Quảng Nam, thắng được tướng Nguyễn Văn Ngụ
tại cửa Đại Chiêm (Cửa Đại), quân sĩ Tây Sơn về hàng rất đông.
Thừa thắng, ông vượt sông Mỹ Khê (Quảng Ngăi), đánh bại Đô đốc
Nguyễn Văn Giáp.
Năm 1799, Vơ Tánh lại theo Nguyễn Phúc Ánh ra đánh Qui Nhơn.
Cùng với tướng Nguyễn Huỳnh Đức đánh thắng nhiều trận tại Thị Giả
và cầu Tân An, giết được Đô đốc Nguyễn Thiệt và chiêu hàng Đô đốc
Lê Chất. Thành Qui Nhơn được đổi tên là thành B́nh Định và giao
cho Vơ Tánh và Ngô Tùng Châu ở lại trấn giữ. Lúc Vơ Tánh cầm chân
quân Tây Sơn tại thành B́nh Định, Nguyễn Ánh đánh chiếm thành Phú
Yên rất dễ dàng.
Không lâu, quân đội Tây Sơn dưới quyền chỉ huy của Thái Phó
Trần Quang Diệu, tướng giỏi của Tây Sơn phản công vây thành B́nh
Định. Nguyễn Ánh đưa binh ra giải cứu không nổi, cuộc bao vây măi
kéo dài đến 14 tháng. Lâu ngày, trong thành binh sï thiếu lương
thực rất nguy ngập. Ngày 7-7-1801, trong lúc bị vây ngặt, có người
khuyên Vơ Tánh bỏ thành mà chạy nhưng ông không chịu. Vơ Tánh nói:
"Không thể được. Ta phụng mạng giữ thành này, nên thề với thành
cùng sống chết. Nếu bỏ thành mà hèn nhát trốn lấy một ḿnh, thời
sau này c̣n mặt mũi nào trông thấy Chúa thượng". Sau đó ông trao
cho tướng Tây Sơn Trần Quang Diệu một bức thư đại ư nói rằng: "Phận
sự ta làm chủ tướng th́ đành liều chết ở dưới cờ, ta đâu có ngại.
C̣n như các quân sĩ không có tội t́nh ǵ, xin chớ nên giết hại".
Tiếp theo ông lấy rơm cỏ chất dưới lầu Bát Giác (B́nh Định), đổ
thuốc súng rồi tự đốt mà chết. Quan Hiệp trấn Ngô Tùng Châu cũng
uống thuốc độc tự tử. Trần Quang Diệu đem quân vào thành, xúc động
trước tấm gương tiết liệt của Vơ Tánh, sai người làm lễ liệm tang
tử tế và không làm tội hay giết hại một ai.
Vua Gia Long, sau khi lên ngôi Hoàng đế, tưởng nhớ đến công lao
của Vơ Tánh cho lập đền thờ ở nền cũ lầu Bát Giác, sai người đưa
di cốt của ông về chôn tại Phú Nhuận, Gia Định (nay nằm trong một
hẻm ở đường Hồ Văn Huê, Saigon) và truy tặng tước Dực vận Công
thần, Phụ quốc Thượng tướng công, Trụ quốc úy Thái trung liệt. Vua
Minh Mạng truy phong làm Hoài quốc công.
Ngày nay, người B́nh Định vẫn c̣n lưu truyền câu hát nói lên
cảm t́nh của dân với Vơ Tánh:
Ngó lên ngọn tháp Cánh Tiên
Cảm thương quan Hậu thủ thiềng ba năm !
Châu Văn Tiếp
Châu Văn Tiếp sinh năm 1738, tên tộc là Châu Doăn Ngạnh, quê
huyện Phù Mỹ, Quy Nhơn. Khi Tây Sơn đánh chiếm thành Quy Nhơn, gia
đ́nh ông dời về Phú Yên. Ông thông thạo 2 ngoại ngữ Xiêm và Miên.
Sau ông chiêu mộ người, dựng cờ khởi nghĩa chống Tây Sơn. Cờ thêu
bốn chữ lớn Lương Sơn Bá Quốc. Được Nguyễn Nhạc chiêu hàng nhưng
sau đó tách ra theo chúa Nguyễn Ánh ở Gia Định. Năm Canh Tư (1780)
Nguyễn Phúc ánh xưng vương tài Sài Côn (Sài g̣n) phong ông làm
khâm sai đại đô đốc, nổi tiếng trong gia đ́nh tam hùng. Năm 1781,
ông đánh ra Diên Khánh, nhưng thua rút về Phú Yên. Không lâu sau
đó, Gia Định cũng thất thủ, ông theo Chúa Nguyễn sang Xiêm. Năm
Giáp Th́n (1784), Chúa Nguyễn đưa binh Xiêm về chống nhau với Tây
Sơn. Ông làm B́nh tây đại đô đốc chưởng quản các đạo quân Xiêm
trên sông Mang Thít (Vĩnh Long). Trong trận thủy chiến, ông bị
tướng của nghĩa quân Tây Sơn là chưởng tiền Bảo giết chết. Năm
1802, Nguyễn Ánh lên ngôi vua, sắc sai Đặng Đức Siêu soạn văn tế
và truy phong ông Tả là quân đô đốc tước quận công, lập đền thờ
tại thôn An hội (nay là làng Tân Long Hội), tỉnh Vĩnh Long và được
thờ nơi miếu Hiển Trung của nhà Nguyễn ở Huế.
Trương Minh Giảng
Trương Minh Giảng, sinh ở B́nh Dương, thuộc trấn Gia Định. Đỗ
cử nhân năm 1819, được bổ nhiều chức vụ, sau lên ch ức Thượng thư
bộ Hộ. Ông là người văn vơ song tài. Lúc Lê Văn Khôi nổi loạn ở
Gia Định, vua Minh Mạng sai ông và tướng Phan Văn Thúy mang quân
vào dẹp loạn. Sau đó, ông cầm quân đánh với quân Xiêm xâm nhập
nước ta ở mặt trận Hà Tiên theo đường thủy và Châu Đốc và An Giang
qua ngă Chân Lạp (Cao Miên). Lúc bấy giờ Xiêm đă chiếm đóng và cai
trị Chân Lạp
Ở mặt trận An Giang, tại sông Cổ Cắng Trương Minh Giảng và
Nguyễn Văn Xuân đại phá quân Xiêm. Thắng thế tiến thẳng lên Nam
Vang (Phnom Penh), đưa vua nước nầy là Nặc Ông Chân về nước. Sau
đó, Trương Minh Giảng cho lập đồn ở gần Nam Vang để bảo hộ Chân
Lạp. Khi Nặc Ông Chân mất (1843), Trương Minh Giảng xin lập người
con gái của Ông Chân là Ang Mey, tục gọi là Ngọc Văn công chúa lên
làm Quận Chúa, rồi đổi nước Chân Lạp ra Trấn Tây Thành, chia làm
34 phủ huyện và cắt đặt người lo việc chính trị, kinh lư, thanh
sát các việc buôn bán, đo ruộng đất và đặt các thứ thuế đinh, điền,
thuyền bè... Không bao lâu, dân Chân Lạp nổi loạn dưới sự lănh đạo
của em Nặc Ông Chân là Nặc Ông Đôn, quan quân địa phương đánh măi
mà không dẹp nổi. Khi vua Minh Mạng mất, vua Thiệu Trị lên nối
ngôi, sau một thời gian có nhiều khó khăn qua sự nổi dậy và chống
đối của dân Chân Lạp mà Trấn Tây Tướng Quân (Trương Minh Giảng)
không dập tắt được, một số triều thần tâu tŕnh vua Thiệu Trị bỏ
đất Trấn Tây, cho lệnh rút quân về An Giang. Năm 1841, Trương Minh
Giảng về An Giang buồn phiền v́ không giữ được thành Trấn Tây nên
sinh bệnh rồi mất. Thật ra đây không phải là lỗi của ông mà vua
Minh Mạng mới là người chịu trách nhiệm chính qua chính sách thật
sai lầm, thiếu sáng suốt là thôn tính, xác nhập Chân Lạp vào Việt
Nam. Một di sản để lại nhiều hệ quả ngoại giao tai hại sau này mà
người Chân Lạp không quên cho đến ngày nay.
Phan Xích Long
Sinh năm 1893, Phan Xích Long tên thật là Phan Phát Sanh, con
của Phan Núi, một người cảnh sát gốc Hoa tại Chợ Lớn. Từ thuở nhỏ
Phan Phát Sanh đă tỏ ra là một tay anh chị hảo hán, trừ gian diệt
bạo, nhờ đó đă kết nạp rất nhiều đàn em và trở thành đại ca. Tháng
3, năm 1913 (Quư Sửu), "đại ca" Phan Phát Sanh tự xưng Phan Xích
Long, tự nhận là Đông Cung con vua Hàm Nghi và tự tôn làm Hoàng Đế
cùng với một số đàn em làm cách mạng chống Pháp. Họ chế tạo lựu
đạn, trái phá, dán truyền đơn khắp chợ Sài G̣n, Chợ Lớn, B́nh Tây
kêu gọi dân chúng nổi dậy. Nhóm hội kín "Thiên Địa Hội" của Phan
Xích Long đặt bom ở trụ sở bót cảnh sát, xưởng Ba Son, ở Chợ Lớn,
Tân An, Sóc Trăng... đến tận Nam Vang (Cao Miên) làm thực dân Pháp
sợ hải trước sự lớn mạnh và bạo gan của phong trào Phan Xích Long.
Chẳng may Phan Xích Long bị bắt tại Phan Thiết cùng một số đồ đệ
và. bị xử án chung thân khổ sai về tội khủng bố, phá rối trị an,
giam tại nhà lao khám lớn Saigon.
Vụ án Phan Xích Long làm chấn động giới anh chị giang hồ mă
thượng thời đó. Tháng 3-1916, thừa dịp Pháp đang bị Đức đánh tại
mẫu quốc, một số đàn em dưới quyền của Hải Trí mặc áo đen, quần
trắng, mang áo giáp da, trang bị bùa chú, tổ chức đánh phá Khám
Lớn Sài G̣n để cứu "đại ca". Ban đầu rất nhiều thuyền nhỏ tứ xứ
đến đậu chen nhau dưới gầm cầu Khánh Hội, đến ba giờ khuya là khởi
sự. Dưới khẩu hiệu “Cứu đại ca”, các đồng đảng thảy đều uống bùa,
cổ mang phù chú, tay cầm gươm mác, kéo lên Khám lớn Sài G̣n. Nhưng
mă tấu và bùa chú không chống nổi súng đạn, nên ngoài một số bị
chết tại trận, hầu như tất cả đều bị bắt, tất cả gồm 56 người. Vài
ngày sau 56 "anh hùng" và "đại ca" đều bị xử tử và chôn chung
trong một mộ ở Đất Thánh Chà (đường Hiền Vương, Chợ Lớn). Tiếng
thơm vẫn c̣n lưu truyền trong giới giang hồ Chợ Lớn, tầng lớp lao
động làm xấu hổ rất nhiều người trí thức, tự nhận làm cách mạng
nhưng không có cái can đảm của những tay giang hồ hảo hán, với chí
khí “trọng nghĩa khinh tài”, cùng chịu chết chung với nhau chứ
không bỏ chạy. Trong dân gian, giai thoại về “tướng cướp” Phan
Xích Long là đề tài của nhiều vỡ hát bội, hồ quảng hay cải lương
sau này ở miền Nam.
Trần Bội Cơ
Trong kháng chiến chống Pháp, người con gái nữ sinh Trần Bội Cơ
ở quận 5 (thành phố Hồ Chí Minh), người Hoa gốc Phúc Kiến, đă đấu
tranh đ̣i băi bỏ lệnh đóng cửa trường ngày 4/5 hàng năm. Chị bị
bắt lúc đang diễn thuyết trước đám đông học sinh sau đó bị tra tấn
và hy sinh lúc chỉ mới 18 tuổi, ngày 12/5/1950. Chị bị sát hại lúc
cô em gái Trần Bội Anh đă về Vĩnh Long. Biết t́nh h́nh Sài G̣n bất
ổn nên ba của chị, ông Trần Thủy Nam, tức tốc lên Sài G̣n định đón
con gái về nhưng không kịp. Tại nhà xác Bệnh viện Chợ Rẫy, ông Nam
đă ngất xỉu khi thấy thân xác không toàn vẹn của chị. Ngày
2-9-1950, chị được truy tặng Huân chương Kháng chiến chống Pháp
hạng 2. Sau ngày 30-4-1975, mộ chị được di dời từ Q.11 về nghĩa
trang Lạc Cảnh, sau đó về yên nghỉ tại Nghĩa trang liệt sĩ TP.HCM.
Tổng luận
Vùng đất Nam bộ khi mới khẩn hoang lập nghiệp, người Minh hương
và người Hoa sau này cũng như dân Việt từ miền Trung vào t́m cuộc
sống mới với những cư dân Miên, Mạ đă ở đấy trước đó. Để lại và
quên đi những lầm than, sai trái, áp bức ở vùng đất mà họ phải ra
đi, lưu dân sống mở vùng đất mới, họ dễ đồng cảm với nhau, không
câu nệ và phóng khoáng coi những người cùng hoàn cảnh là anh em,
coi vùng đất Nam bộ là quê hương mới. Tất cả coi nhau như anh em
và chính thái độ này đă tạo ra phong cách đặc trưng của vùng đất
này: thực thà, học hỏi lẫn nhau, phóng khoáng, thực dụng và không
câu nệ.
Một văn hóa mới đă được sinh ra dựa trên quan niệm và giá trị
là mọi người đều b́nh đẳng không phân biệt với chí khí giúp kẻ cô
thế, chống bất công và tinh thần hảo hán anh hùng “trọng nghĩa
khinh tài”, không sợ, tiên phong t́m hay thử những cái mới, cái
hay có thể áp dụng được làm tăng giá trị hay có lợi trong cuộc
sống. Văn hóa Nam bộ đă có những đóng góp to lớn từ người Minh
Hương trong nhiều lănh vực, đúng hơn là con người nam bộ một phần
là con người Minh hương.
Trong lănh vực kinh tế, văn hóa, xă hội và chính trị, họ đă có
những đóng góp lớn lao và ḥa hợp như mọi công dân Việt Nam. Tùy
theo từng thời kỳ của lịch sử, sự đóng góp tài năng có lên xuống
là do thái độ và chính sách của chính quyền. Đă có những thời kỳ
họ bị nghi kỵ và đối xử không công bằng như những đối tượng ngoại
vi của cộng đồng dân Việt. Những chính sách sai lầm này là những
kinh nghiệm quư báu mà chúng ta nên suy ngẫm và học hỏi.
Tham khảo
(1) Vương Hồng Sển, Saigon năm xưa, Nxb Trẻ, 2002.
(2) Vương Hồng Sển, Hơn nữa đời hư, Nxb Trẻ, 2003.
(3) Cao Văn Lương, "Vài nét về giai cấp tư sản mại bản ở miền
Nam dưới chế độ thực dân mới của Mỹ", Nghiên cứu lịch sử, số 2,
tháng 3 và 4, 1976
(4) Phan An, Trần Đại Tân, Lưu Kim Hoa, Lê Quốc Lâm, “Gáp phần
t́m hiểu văn hóa người Hoa ở Nam bộ”, Hội Văn học nghệ thuật các
dân tộc thành phố Hồ Chí Minh, Nxb Văn hóa-thông tin, 2006.
(5) Trần Hồng Liên, “Văn hóa người Hoa ở Nam bộ”, Nhà xuất bản
Khoa học Xă hội, 2005.
(6) Nguyễn Cẩm Thúy, Định cư của người Hoa trên đất Nam bộ (từ
thế kỷ 17 đến năm 1945), Nxb Khoa học Xă hội, Hà nội, 2000.
(7) Trần Khánh, Vai tṛ của người Hoa trong nền kinh tế các
nước Đông Nam Á, Viện Khoa học Xă hội, Hà Nội, 1992.
(8) Tsai Maw Kuey, Người Hoa ở miền Nam Việt Nam, Thư viện quốc
gia, Paris, 1968.
(9) Trịnh Hoài Đức, Nguyễn Xuân Khoang - Phong tục Nam bộ xưa,
tục thờ cúng thần thành hoàng tại làng thôn bắc bộ, Nxb Trẻ 1996.
(10) Nguyễn Đức Hiệp, Thăm mộ Trần Thượng Xuyên,
http://213.251.176.152:8080/diendan/BanDocVaZD/thu-ban-111oc-15-1.2007/
(11) Dương Đức Dũng, Những gương mặt tỷ phú Saigon trước năm
1975, Nxb Trẻ
(12) Nguyễn Thị Thanh Xuân, Nguyễn Khuê - Trần Khuê, SàiG̣n Gia
Định qua thơ văn xưa, Nhà Xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh, 1987.
(13) Huỳnh Minh, Gia Định xưa, Nxb Văn Hóa-Thông Tin, 2007.
(14) Phạm Quỳnh, Một tháng ở Nam Kỳ, http://vannghesongcuulong.org/vietnamese/tulieu_tacpham.asp?TPID=2346&LOAIID=17&TGID=567
(15) Lại Nguyên Ân, Một cuộc thảo luận về sách giáo khoa tiếng
Việt trên báo chí Sài G̣n 1929–1930, Talawas 2006, http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=8049&rb=06
(16) Nguyễn Thị Hậu, Đi t́m quá khứ Sài G̣n, Xóm Ḷ Gốm xưa,
http://www.vannghesongcuulong.org/vietnamese/tulieu_tacpham.asp?TPID=5238&LOAIID=18&LOAIREF=5&TGID=1046.
(17) Hứa Hoành, Những phú hộ lừng danh Nam Kỳ: Trương Văn Bền:
nhà kỹ nghệ không bằng cấp kỹ sư, http://vnthuquan.net/truyen/truyen.aspx?tid=2qtqv3m3237n4nnntn1n31n343tq83a3q3m3237nnn0n
(18) Li Tana, P. Van Dyke, Canton, Cancao and Cochinchina: New
data and new light on eighteenth-century Canton and the Nanyang,
Chinese Southern Diaspora Studies, Vol.1, 2007, p.10-28.
(19) B́nh Nguyên Lộc, Lột trần Việt ngữ, http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=9922&rb=08
(20) Vương Trí Nhàn, Ảnh hưởng văn hoá Trung Hoa trong sự h́nh
thành tiểu thuyết Việt Nam trước 1930 http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=8433&rb=0102
|
|