|
Chuyện bảo
hiểm y tế tại Hoa Kỳ
Tổ Chức Y Tế Thế Giới đă xếp chương tŕnh y tế của
Mỹ vào hạng thứ 15 trên 19 quốc gia tiên tiến về khả năng chữa khỏi
những bệnh hiểm nghèo. Canada được xếp hạng 7, c̣n Pháp đứng vào
hạng đầu. Như vậy nền y tế của Mỹ c̣n có nhiều vấn đề phải cải tổ.
Nhưng việc cải tổ rất căm go v́ các thế lực tư bản đứng đàng sau
muốn bảo vệ các quyền lợi của họ.
Hôm 23.3.2010, sau khi kư đạo luật cải tổ y tế,
Tổng thống Obama đă tuyên bố:
“Ngày hôm nay, sau gần một thế kỷ thử nghiệm, sau
một năm tranh căi, chương tŕnh cải cách bảo hiểm sức khỏe đă trở
thành luật tại nước Mỹ”.
Chúng ta nhớ lại, trong một lá thư gởi cho một
người bạn đề ngày 21.12.1933, Tổng Thống Franklin D. Roosevelt đă
viết:
“Như bạn đă biết, thật sự vấn đề là một bộ phận
tài chánh tại các trung tâm lớn đă làm chủ chính phủ Hoa Kỳ kể từ
thời Tổng Thống Andrew Jackson."
C̣n Thẩm Phán Tối Cao Pháp Viện Liên Bang Felix
Frankfurter tuyên bố:
“Những người thật sự cai trị ở Washington là vô
h́nh, và thực thi quyền hành từ sau hậu trường.”
Những thế lực vô h́nh đứng đàng sau chính quyền Mỹ
mà Tổng Thống Roosevelt và Thẩm Phán Tối Cao Pháp Viện Frankfurter
nói đến là những “siêu tổ chức” có quyền lực cao độ với những phương
thức hoạt động hết sức tinh vi và táo bạo để bảo vệ và triển khai
các quyền lợi của họ, có khi bất chấp quyền lợi quốc gia và an sinh
của xă hội.
Không phải riêng tại nước Mỹ, ở Ấn Độ t́nh trạng
c̣n tệ hơn. Hiến Pháp Ấn có hiệu lực kể từ ngày 26.1.1950 hủy bỏ chế
độ đẳng cấp (castles) và hạng khốn cùng (untouchables) trong xă hội.
Nhưng hiện nay vẫn c̣n có khoảng 360 triệu người thuộc giai cấp hạng
thấp đang sống trong cảnh nghèo khó hay khốn cùng. Tài liệu kiểm tra
cho biết số người có lợi tức dưới 2 USD một ngày chiếm 97,5% dân số
Ấn, tức hơn 900 triệu người. Một tài liệu của Liên Hiệp Quốc cho
biết tại Ấn Độ hiện có khoảng 40 triệu công nhân, đa số là người
Dalit, đang phải làm việc trong t́nh trạng như nô lệ để trả những
món nợ do các thế hệ trước đă mắc! Các thành phần cấp cao muốn tiếp
tục duy tŕ t́nh trạng này để bốc lột, nhưng chính phủ Ấn và LHQ
không làm ǵ được.
Tại Hoa Kỳ, tính từ ngày lập quốc đến nay, đă có
những sự thay đổi đáng kể theo thời gian nhờ truyền thống tôn trọng
nhân bản của những người Mỹ gốc Âu Châu và những cách nh́n sáng suốt
trước sự biến chuyển của t́nh h́nh đất nước và t́nh h́nh thế giới,
nhưng các thế lực tư bản đứng đàng sau hậu trường vẫn c̣n nắm quyền
quyết định nhiều chính sách của quốc gia với mục tiêu lư tài.
Sự phát triển của nhân loại và sự xuất hiện của
chủ nghĩa cộng sản là những yếu tố chính đ̣i hỏi nước Mỹ phải giải
quyết những vấn đề của đất nước này, trước tiên là vấn đề của người
da đỏ và người nô lệ da đen gốc Phi Châu. Tiếp đến là số phận của
những người nghèo. Cũng như ở Ấn Độ, việc giải quyết những vấn đề
của người nghèo tại nước Mỹ đă đụng chạm rất lớn đến quyền lợi của
khối đại tư bản, do đó sự phản kháng lúc nào cũng quyết liệt.
CUỘC CÁCH MẠNG CĂM GO
Hoa Kỳ có một hệ thống bảo hiểm y tế tư rất khắc
nghiệt, đó là những doanh nghiệp có mục đích vụ lợi (for-profit
organization), không quan tâm ǵ đến sức khỏe của toàn dân, nhất là
những người nghèo. Họ chỉ muốn kiếm được càng nhiều lời càng tốt.
Phải đến năm 1935, sau nhiều cuộc đấu tranh căm
go, ngày 14.8.1935 chính phủ Hoa Kỳ mới đưa ra được Đạo Luật An Sinh
Xă Hội (Social Security Act), thiết lập một hệ thống phúc lợi dành
cho những người cao niên. Cũng phải qua nhiều cuộc tranh cải căm go,
đến ngày 30.7.1965 chính phủ mới ban hành được Các Tu Chính Án Luật
An Sinh Xă Hội (Social Security Act Amendments) thiết lập hai chương
tŕnh Medicare và Medicaid về bảo hiểm y tế cho những người trên 65
tuổi và những người nghèo.
Trong cuộc tranh cử năm 1992, ông Clinton đă đặt
nặng chương tŕnh cải tổ y tế như là một đề tài chính để tranh cử.
Sau khi đắc cử, năm 1993, Tổng Thống Chinton đă đưa ra một kế hoạch
cải tổ y tế, đ̣i hỏi mọi công dân Mỹ và thường trú nhân phải ghi
danh vào một kế hoạch y tế. Chi phí khởi sự dành cho kế hoạch này từ
năm 1993 là $13,5 tỷ sẽ tăng đến $38,3 tỷ vào năm 2003. Kế hoạch này
đă bị nhóm tư bản tài chính Mỹ đánh bại qua chính đảng Dân Chủ vào
tháng 9 năm 1994.
Mặc đầu đạo luật cải tổ y tế mà Tổng Thống Obama
mới ban hành chưa có ǵ khả quan lắm nếu so với các chương tŕnh y
tế hiện nay tại các quốc gia tiên tiến khác như Canada, Pháp, Đức,
Anh, Nhật hay Thụy Sĩ, nhưng nó cũng sẽ giải quyết được nhiều khó
khăn về y tế mà nhiều người đang gặp phải.
Trước khi nh́n lại các mô thức y tế hiện đang áp
dụng tại một số quốc gia tiên tiến và những khuyết điểm của chương
tŕnh y tế Mỹ được áp dụng trong một thế kỷ qua, chúng tôi xin tổng
hợp những điểm chính của đạo luật cải tổ y tế mới được ban hành:
ĐẠI CƯƠNG VỀ NHỮNG CẢI TỔ
Mục tiêu chính của đạo luật “Affordable Health
Care for America Act” là nhằm mở rộng việc bảo hiểm y tế cho thêm 32
triệu người ở Hoa Kỳ và cải tổ một số điểm quan trọng trong chương
tŕnh y tế của Hoa Kỳ hiện nay. Thời gian có hiệu lực đầy đủ của đạo
luật kéo dài từ 2014 đến 2019, nhưng một số điều khoản của đạo luật
sẽ có hiệu lực ngay, đại khái như sau:
1.- Các hăng bảo hiểm không được phép giới hạn số
tiền trả cho việc chữa trị của khách hàng. Quy định này rất quan
trọng đối với những người bị những bệnh hiểm nghèo như ung thư.
2.- Những người đă bị các hăng bảo hiểm y tế từ
chối bán bảo hiểm do t́nh trạng bệnh hoạn sẵn có, được mua bảo hiểm
tạm thời từ nay cho đến năm 2014 khi luật mới được thi hành đầy đủ.
Một ngân khoản 5 tỷ USD sẽ được cung ứng cho dịch vụ này.
3.- Các hăng bảo hiểm y tề phải cung cấp bảo hiểm
cho các thanh niên không c̣n lệ thuộc gia đ́nh cho tới năm 28 tuổi.
Quy định này sẽ giúp cho các sinh viên mới ra trường và những người
c̣n t́m việc có bảo hiểm y tế.
4.- Mỗi người già được thêm $250 trả tiền mua
thuốc bù vào khoảng trống mà Medicare Part D không chi trả. Trong
tương lai, khi đă sử dụng số tiền được mua thuốc trong Medicare Part
D ($2850), sẽ không c̣n phải trả 100% tiền túi như hiện nay mà sẽ
được giảm dần cho đến năm 2020 chỉ c̣n phải trả 25%.
Kể từ năm 2014, những biện pháp sau đây sẽ được áp
dụng:
1.- Hầu hết mọi người dân Mỹ phải mua bảo hiểm,
nếu không sẽ bị phạt. Tiền phạt khởi đầu là 1% thu nhập cá nhân, tối
thiểu là $95, sau đó đến năm 2016 sẽ tăng lên tới 2.5% thu nhập hoặc
tối thiểu $695. Mức tiền phạt giới hạn cho cả gia đ́nh là $2.085.
2.- Nếu không thể trả tiền mua bảo hiểm v́ quá
nghèo, th́ có thể được hưởng Medicaid, một chương tŕnh bảo hiểm sức
khỏe của liên bang cho người nghèo. Chương tŕnh này sẽ được mở rộng
đáng kể từ năm 2014. Những gia đ́nh nghèo được miễn giảm thuế, hoặc
nếu gồm 4 người có thu nhập dưới $88.000 một năm, sẽ được tài trợ để
mua bảo hiểm.
3.- Các tiểu thương, các công ty nhỏ được hưởng
điều kiện dễ dăi và nhận trợ giúp trong việc mua bảo hiểm sức khỏe.
Cơ sở dưới 50 người không bị phạt nếu không mua bảo hiểm cho nhân
viên. Cơ sở dưới 25 người với mức lương dưới $50.000 được giảm thuế
35% chi phí đóng bảo hiểm năm nay và 50% năm 2014. Cơ sở trên 50
người không mua bảo hiểm cho nhân viên có thể bị phạt tới $2.000 cho
mỗi nhân viên làm toàn thời gian.
Chương tŕnh cải tổ y tế sẽ tốn khoảng $940 tỷ
trong 10 năm. Tuy nhiên, chính phủ quyết định sẽ tăng tiền thuế của
công ty lớn và những người có thu nhập cao, đồng thời giảm chi phí
trong chương tŕnh Medicare Advantage (không phải Medicare cho người
già). Theo ước lượng của Văn pḥng Ngân sách Quốc Hội, kế hoạch này
sẽ giúp ngân quỹ liên bang tiết kiệm được $138 tỷ.
Dưới đây, xin mời đọc giả đọc bài “T́m Hiểu về Cải
Cách Y Tế ở Mỹ” của ông Trương Đ́nh Trung. Bài này nói về các mô
h́nh bảo hiểm trên thế giới và so sánh chương tŕnh y tế của Mỹ với
các quốc gia tiên tiến khác trên thế giới như Pháp, Anh, Đức, Nhật
Bản và Canada. Chúng tôi chỉ xin trích lại những phần chính, v́ bài
báo có giới hạn.
CÁC MÔ H̀NH BẢO HIỂM Y TẾ TRÊN THẾ GIỚI
A.- Mô h́nh Bismarck: Đức, Nhật, Pháp, Thụy sĩ,
v.v.: Giới cung cấp dịch vụ và người chi trả cho các dịch vụ y tế
hoàn toàn là tư nhân, trên căn bản từ thiện, không kiếm lời (not for
profit); với luật lệ chặt chẽ về dịch vụ và lệ phí. Mô h́nh này do
cố Thủ tướng Von Bismarck của Đức đưa ra vào năm 1883, nằm trong nỗ
lực thống nhất quốc gia, xây dựng một dân tộc khỏe mạnh làm nền tảng
cho một đội lục quân tinh nhuệ. Trong mô h́nh này, chủ và thợ cùng
chia nhau trách nhiệm về bảo hiểm y tế. Chính phủ đảm trách việc
giúp chi phí y tế cho người nghèo; c̣n những người giàu có nhất được
miễn khỏi mua bảo hiểm y tế.
B.- Mô h́nh Beveridge: Là mô h́nh của Anh quốc,
theo đó Chính phủ cung cấp toàn bộ dịch vụ y tế cho người dân qua
National Health Services. Có bệnh viện và bác sĩ tư, nhưng đa số c̣n
lại nằm trong tay của chính quyền. Ư, Tây Ban Nha, Na Uy, Đan Mạch,
Thuỵ Điển, Hong Kong theo mẫu này. Mô h́nh này cung cấp bảo hiểm y
tế phổ quát cho mọi người.
C.- Mô h́nh Bảo Hiểm Y tế Quốc gia: Dịch vụ y tế
do khu vực tư nhân cung cấp, nhưng người trả phí tổn là chính phủ
thông qua hăng bảo hiểm y tế do chính phủ kiểm soát. Chính phủ là
người quyết định dịch vụ y tế nào nên được làm và thời gian chờ đợi.
Canada, và ở mức độ nào đó, Đài Loan, Nam Hàn là những nước theo mô
h́nh này.
D.- Mô h́nh trả tiền túi (out-of-pocket model): Đa
số hơn 150 quốc gia trên thế giới không có hệ thống chi trả cho chi
phí y tế. Bệnh nhân phải tự trang trăi cho các chi phí y tế bằng
tiền túi của ḿnh; không có những chương tŕnh bảo hiểm do tư nhân
hay chính phủ điều hành. Chẳng hạn, ở Campuchia, 91% chi phí y tế
trong nước được trả bằng tiền túi; 85% ở Ấn Độ và 73% ở Ai Cập.
Trong khi đó ở Anh, có chừng 3% và Mỹ có chừng 17% dịch vụ y tế được
trả bằng tiền túi của bệnh nhân (từ hơn 47 triệu người không có bảo
hiểm).
CƠ CẤU HỆ THỐNG BẢO HIỂM Y TẾ HIỆN NAY CỦA MỸ (trước
khi cải tổ)
1.- Hệ thống y tế hiện nay của Mỹ là một hổn hợp
của cả 4 mô h́nh nêu ở phần đầu:
A.- Đối với những người trên 65 tuổi th́ Mỹ lại
theo mô h́nh của Canada. Hệ thống Medicare, do chính phủ Liên bang
điều hành, là một hệ thống bảo hiểm y tế phổ quát áp dụng cho mọi
công dân trên 65 tuổi. Mỹ hoàn toàn sao chép chương tŕnh này từ
Canada, kể cả tên gọi, từ năm 1965. Chính phủ chi trả cho tất cả mọi
chi phí y tế cho các thành viên của chương tŕnh Medicare. Số người
trên 65 tuổi chiếm khoảng 13%, tức chừng 40 triệu (con số năm 2007).
B.- Người Da đỏ, Quân nhân và Cựu chiến binh th́
được hưởng bảo hiểm y tế theo mô h́nh Beveridge của Anh. Chính phủ
Liên bang đảm nhiệm cả việc cung cấp dịch vụ y tế lẫn việc chi trả
cho các dịch vụ đó. Các trạm xá và bệnh viện đều là của chính phủ
Liên bang; các bác sĩ là nhân viên của chính phủ.
C.- Những người trong độ tuổi lao động lại thuộc
về mô h́nh Bismarck. Các chủ nhân và các công ty cùng với công nhân,
viên chức chia nhau chi phí mua bảo hiểm. Và công nhân trả thêm
co-payment cho một số dịch vụ y tế. Các hăng bảo hiểm y tế hoàn toàn
là tư nhân, là những tổ chức có mục đích kiếm lời (for profit
entity). Nhóm này chiếm đại đa số dân chúng, đến khoảng 160 triệu
người.
D.- Cuối cùng là những người không có bảo hiểm y
tế. Thành phần này rơi vào mô h́nh trả tiền túi (out-of-pocket
model) nói ở trên. Nghĩa là họ phải dùng tiền riêng của ḿnh để trả
cho toàn bộ những chi phí y tế do họ phát sinh. Hiện nay có chừng
hơn 47 triệu người Mỹ thuộc vào mô h́nh này!
2.- Những vấn đề hiện nay của hệ thống y tế Mỹ
- Phẩm chất của nền y tế kém so với chi phí cao và
gia tăng nhanh. Mỹ là nơi quy tụ các bác sĩ, chuyên gia y tế, y cụ
và phương pháp điều trị tối tân vào bậc nhất trên thế giới. Tuy
nhiên, một cách tổng quát th́ phẩm chất của nền y tế, xét theo các
tiêu chuẩn quốc tế, lại không cao so với các quốc gia khác và so với
mức chi phí. Có đến gần 47 triệu người không có bảo hiểm, khoảng 25
triệu với bảo hiểm giới hạn và hàng năm có đến cả trăm ngàn người
chết chỉ v́ lư do đơn giản là không có bảo hiểm để được gặp bác sĩ,
được chẩn đoán và điều trị.
- Chi phí săn sóc y tế hàng năm của Mỹ cao hơn các
nước khác; chẳng hạn gấp đôi Canada, chiếm đến gần 17% tổng sản phẩm
nội địa (GDP). Và mức chi phí y tế gia tăng quá nhanh; gần gấp đôi
chỉ trong ṿng chưa đầy một thập niên.
- Các hăng bảo hiểm khống chế thị trường, đẩy giá
bảo hiểm lên cao khiến nhiều người không mua nổi. Có trường hợp hăng
bảo hiểm từ chối bảo hiểm khi bệnh xảy ra cho những người đă có mầm
bệnh, hoặc những chứng liên quan, trước khi mua bảo hiểm, nhưng
không ghi trong hợp đồng bảo hiểm; tiếng Mỹ gọi là pre-existing
conditions.
- Tất cả các hăng bảo hiểm ở Mỹ đều thuộc loại
doanh nghiệp có mục đích kiếm lời, for-profit organization; lư do
tồn tại của các hăng bảo hiểm là lợi nhuận, chứ không phải v́ sức
khoẻ của khách hàng. Quyền lợi kinh tế của hăng bảo hiểm và quyền
lợi y tế của khách hàng luôn mâu thuẩn và tiêu trừ lẫn nhau. Một
trong những thủ thuật thông thường của các hăng bảo hiểm là từ chối,
hoặc tŕ hoản, chi trả phí tổn dịch vụ y tế cho khách hàng (deny or
delay customer’s claim payments). Họ mướn những chuyên viên để lo
việc này (gọi là các claim adjusters), hoặc thiết lập các hệ thống
computer tối tân để tự động hoá việc từ chối chi trả. Họ cũng tưởng
thưởng cho những nhân viên nào thực hiện được tốt những sự từ chối
hoặc tŕ hoăn như vậy. Theo National Association of Insurance
Commissioner th́ chỉ riêng trong năm 2008 có đến hơn 195,000 khiếu
nại của khách hàng về việc bị các hăng bảo hiểm từ chối chi trả dịch
vụ y tế. Có trường hợp khách hàng đă chết rồi mà sự khiếu nại vẫn
chưa giải quyết
- Ngoài ra c̣n có trường hợp huỷ bỏ hồi tố hợp
đồng bảo hiểm (retroactive cancellations/ after-the-fact policy
cancellations) nếu hăng bảo hiễm khám phá ra là khách hàng trước đó,
khi kư hợp đồng bảo hiểm, đă cố ư hay vô t́nh không khai một chi
tiết bệnh lư nào đó trong hồ sơ cá nhân của ḿnh. Ngay cả những
người v́ không biết mà không khai cũng chịu sự chế tài đó. Và sự huỷ
bỏ này có thể áp dụng cho cả gia đ́nh dù chỉ một thành viên trong
gia đ́nh sai phạm. Chẳng hạn một phụ nữ ở Texas bị phát hiện có bướu
trong vú. Ngay lúc đó hăng bảo hiểm điều tra và t́m ra là trước đó
người phụ nữ này đă mắc chứng rỗng xương (osteoporosis) mà không
khai khi lập hợp đồng bảo hiểm. Tuy rằng chẳng có mối liên hệ ǵ
giữa hai căn bệnh, hăng bảo hiểm vẫn lấy lư do đó để huỷ bỏ hợp đồng
bảo hiểm!
- Sự an toàn của các dịch vụ y tế là một vấn đề
khác. Hàng năm có đến gần 100.000 người chết trong các bệnh viện gây
ra do các nhầm lẫn có thể tránh được trong dịch vụ y tế (preventable
medical errors), nhiều hơn thương vong do tai nạn xe cộ hay do bệnh
AIDS! Vấn đề này dẩn đến việc giới cung cấp dịch vụ y tế: bác sĩ,
dược sĩ, bệnh viện, v.v., phải trả bảo hiểm nghề nghiệp cao hơn
nhiều lần so với đồng nghiệp ở các quốc gia khác. Nó cũng làm gia
tăng các vụ kiện tụng giữa bệnh nhân và các bác sĩ. Tất cả những vấn
đề này góp phần không nhỏ vào việc đẩy chi phí y tế nói chung lên
cao rất nhanh; hơn gấp đôi chỉ trong một thập niên.
- Một thiếu sót khác liên quan đến vấn đề pḥng
bệnh (preventive care). Khác với các quốc gia tiên tiến khác, như
Anh Quốc chẳng hạn, hệ thống y tế của Mỹ không chú ư đúng mức đến
công tác pḥng bệnh. Những bệnh trạng đứng đầu trong danh sách gây
tử vong hàng năm như các chứng tim mạch, tiểu đường, ung thư phổi,
ung thư vú, v.v., là những chứng bệnh có thể ngăn ngừa được với hiệu
quả cao nếu như sự pḥng bệnh được thực hiện chu đáo và người dân có
bảo hiểm y tế đầy đủ. Sự thiếu chú trọng đến vấn đề pḥng bệnh phản
ảnh trong hiện tượng thiếu thốn bác sĩ gia đ́nh. Một số ước tính
trong năm 2008 cho thấy nước Mỹ thiếu đến 14.000 bác sĩ gia đ́nh.
Hiện nay bác sĩ tổng quát chỉ chiếm 35% tổng số bác sĩ; so với Anh
Quốc là 60%. Thu nhập trung b́nh của một bác sĩ tổng quát là chừng
200.000 dollars/năm; của một bác sĩ giải phẩu chừng 350.000 dollars/năm.
Tỉ lệ sinh viên y khoa chọn đi chuyên ngành rất cao so với số chọn
đi toàn khoa. Học phí tại các trường Y khoa rất đắt, trung b́nh một
sinh viên y khoa tốt nghiệp nợ từ 60.000 cho đến 100.000 dollars!
- Sự hạn định dịch vụ y tế (healthcare rationing):
Một vấn đề khác trong bảo hiểm y tế ở Mỹ, ít được đề cập đến, là sự
hạn định các dịch vụ y tế đối với bệnh nhân. Trước hết là sự giới
hạn việc đi khám bác sĩ. Thông thường hăng bảo hiểm buộc bệnh nhân
chỉ được đến khám ở những bác sĩ có tên trong một mạng nhất định (in
network); hăng bảo hiểm sẽ không chi trả nếu người bệnh tự ư đi khám
ở những bác sĩ ngoài mạng (out-of network). Việc phải trả co-payment
hoặc deductible cũng là những h́nh thức buộc người bệnh phải tự hạn
định ḿnh trong việc đi khám bác sĩ hoặc chữa trị. Kế đến là hăng
bảo hiểm từ chối không chi trả cho những sự chữa trị hoặc các dược
liệu nào đó đối với bệnh nhân (như CT scan, làm răng giả, niền răng,
chiropractice, thuốc mới…). Các bác sĩ chỉ có quyền đề nghị sự chữa
trị hay các xét nghiệm; c̣n người quyết định cuối cùng trong mọi
trường hợp, ngoài bệnh nhân ra, là hăng bảo hiểm với quyền chi trả
của ḿnh.
Ngay cả bảo hiểm của chính phủ, như Medicare hay
Medicaid, cũng có sự hạn định nêu trên. Sự khác biệt là những hạn
định của bảo hiểm chính phủ không v́ mục đích kiếm lời, như của bảo
hiểm tư nhân, mà thường là để dành một số dịch vụ nào đó cho những
trường hợp cần thiết hơn.
(Hết trích bài của ông Trương Đ́nh Trung)
VƯỢT QUA NHỮNG THỬ THÁCH
Trong bài diễn văn nhận chức hôm 20.1.2009, Tổng
Thống Obama đă nói:
“Chúng ta hiện đang trong giữa cuộc khủng hoảng mà
ai ai cũng biết. Đất nước chúng ta đang trong thời chiến, chống lại
một mạng lưới bạo lực và thù hận rộng khắp, một phần là hậu quả của
thái độ tham lam, vô trách nhiệm của một số người, nhưng cũng là hậu
quả của việc chúng ta đă thất bại, không có những lựa chọn khó khăn,
chuẩn bị sẵn sàng cho đất nước trong kỷ nguyên mới.”
Mong ông can đảm vượt qua những thử thách đă thấy
trước để đem nước Mỹ tới những ngày tươi sáng hơn.
Ngày 30.3.2010
Lữ Giang
Nguồn : VietCatholic
|