TIẾT B: TÊN TƯỚC
1. Định Nghĩa Tên Tước: Tên
tước là tên của vua ban cho các người
trong hoàng tộc hay những người có công
với tổ quốc. Quyền phong tước
là đặc quyền của vua và những
người được phong tước
coi đó là một ân điển. Để
hiểu tên tước, ta cần phân biệt
hai định chế chức và tước.
Theo định nghĩa của những nhà
khảo cứu pháp chế sử, chức là
một trách vụ trong bộ máy chính
quyền, tước là tôn hiệu danh
dự, không hàm ư trách nhiệm và quyền hành.
2. Nguồn Gốc Tên Tước: Trước
triều đại nhà Đinh, sử cũ không
cho biết ǵ về tên tước. Đến
đời nhà Đinh, tài liệu cổ
về đời này thấy ghi tước Vương
và Quốc Công. Quốc Công là một tước
dưới tước Quận Vương và
bắt đầu được dùng ở
Trung Quốc về đời nhà Tùy (581-618).
Sang triều Lư, ngoài tước Thái Sư, các
đại thần c̣n được phong tước
Thái Phó và Thái Bảo là những tước
thuộc hàng tam công đời nhà Ân và Chu bên
Trung Quốc. Công thức đặt tên tước
là lấy một địa danh đặt trước
tên tước. Ví dụ Kiến An Vương
là tên tước của Nguyễn Phúc Miên
Đài. Kiến An là tên phủ thuộc tỉnh
Định Tường, Vương là tên tước.
3. Phẩm Trật Tên Tước: Hệ
thống tên tước dưới đời
hậu Lê được vua Lê Thánh Tông
(1460-1497) ấn định rất rơ rệt,
gồm 6 bậc: vương, công, hầu, bá,
tử, nam.
Tước Vương: Dành cho Hoàng
tử. Cách đặt tước Vương
là lấy tên phủ làm tên hiệu kèm theo
chữ Vương. Ví dụ Kiến Hưng Vương.
Con của hoàng tử cũng được tước
Vương nhưng lấy tên huyện kèm
theo chữ Vương như Hải Lăng Vương.
Tước Công: Dành cho các con hoàng thái
tử và thân vương. Tước Công
gồm một mỹ tự và từ ngữ Công
như Triệu Khang Công.
Tước Hầu: Dành cho con trưởng
của tự thân vương hay thân công
được phong. Tước hầu
gồm một mỹ tự và từ ngữ
Hầu như: Vĩnh Kiến Hầu.
Tước Bá: Dành cho các hoàng thái tôn,
các con của tự thân vương, tự thân
công, con trưởng của thân công chúa. Tước
Bá gồm một mỹ tự và chữ Bá. Ví
dụ Tĩnh Cung Bá.
Tước Tử Thuộc hàng chánh
nhất phẩm, dành cho các con thứ của
thân công chúa, con trưởng tước
hầu, tước bá. Tước tử
gồm một mỹ từ và chữ Tử.
Ví dụ Kiến Xương Tử.
Tước Nam: Được coi như
hàng ṭng nhất phẩm, dành cho con trưởng
của thân công chúa được truy
tặng, con thứ của tước hầu,
tước bá. Tước Nam gồm một
mỹ từ và chữ Nam. Ví dụ Quảng
Trạch Nam.
Về phẩm trật, năm 1471, vua Lê Thánh
Tôn ấn định cửu phẩm. Mỗi
phẩm lại chia làm hai bực: chánh và tùng.
Để định vị trí cao thấp
của hệ thống tên tước,
phải căn cứ vào đơn vị tư.
Người càng có nhiều tư th́ càng có
tước cao. Tư là đơn vị
của hàng tùng cửu phẩm. Cửu
phẩm là hàng thấp nhất có 1 tư. Cao
hơn là chánh cửu phẩm có 2 tư. Hàng
tùng bát phẩm có 3 tư. Hàng chánh bát
phẩm có 4 tư. Như vậy hàng cao
nhất là chánh nhất phẩm có 18 tư.
Hệ thống cửu phẩm dành cho quan
chức nhỏ và thường dân.
Bên trên hệ thống cửu phẩm, c̣n có
6 tước được xếp theo
thứ tự từ thấp đến cao là:
nam tước, tử tước, bá tước,
hầu tước, quận công, quốc công.
Những người được phong các tước
trên, mỗi người sẽ được
thêm một tư. Như vậy nam tước
có 19 tư và quốc công có 24 tư. Hệ
thống tên tước của triều Lê
được áp dụng dưới
triều Nguyễn và c̣n được
bổ túc thêm nhiều tước vị.
Bảng Phẩm Trật Và Số Tư Dưới
Triều Lê Thánh Tông
Quốc công : 24 tư
Quận công : 23 tư
Hầu tước : 22 tư
Bá tước : 21 tư
Tử tước : 20 tư
Nam tước : 19 tư
Nhất phẩm/ Hàng chánh: 18 tư/ Hàng tùng :
17 tư
Nhị phẩm/ Hàng chánh: 16 tư/ Hàng tùng :
15 tư
Tam phẩm/ Hàng chánh : 14 tư/ Hàng tùng : 13 tư
Tứ phẩm/ Hàng chánh : 12 tư/ Hàng tùng :
11 tư
Ngũ phẩm/ Hàng chánh : 10 tư/ Hàng tùng :
9 tư
Lục phẩm/ Hàng chánh : 8 tư/ Hàng tùng :
7 tư
Thất phẩm/ Hàng chánh : 6tư/ Hàng tùng :
5 tư
Bát phẩm/ Hàng chánh : 4 tư/ Hàng tùng : 3 tư
Cửu phẩm/ Hàng chánh : 2 tư/ Hàng tùng :
1 tư
4. Các Trường Hợp Được
Ban Tên Tước: Vua thường ban tên tước
cho ba trường hợp sau đây:
a. Người giữ chức vụ quan
trọng: Những người giữ
chức vụ quan trọng trong triều đ́nh
thường được vua phong cho một
tước.Ví dụ Trần Quốc Tuấn
có chức Quốc Công Tiết Chế,
thống lĩnh quân đội, nhưng cũng
được phong tước Hưng Đạo
Vương.
b. Người trong hoàng tộc và
những công thần: Người trong hoàng
tộc và những người có công với
quốc gia được vua tặng tên tước.
Dưới triều Nguyễn, các hoàng tử
đều được phong tước vương,
quận vương, công hay quận công. Cách
thức đặt tên tước là vua
chọn một địa danh của tỉnh,
phủ, huyện, xă rồi thêm tên tước
vào, với ngụ ư người đó có
quyền tại địa phương
ấy. Sách Khâm Định Đại Nam Hội Điển
Sự Lệ ghị rơ nguyên tắc phong tước
như sau: Phàm người được
phong tước có đất làm thái ấp,
nhự Thân Vương th́ lấy tên
tỉnh; Quận Vương, Thân Công,
Quốc Công, Quận Công th́ lấy tên
phủ; Huyện Công, Huyện Hầu th́
lấy tên huyện; Hương Công, Hương
Hầu, Đ́nh hầu th́ lấy tên xă. Dưới
nữa theo chức mà gọi ”
Vua Minh Mạng có 78 hoàng tử, mỗi ông
đều có tên tước. Xin trích dẫn
một số tước vị làm ví dụ:
Miên Định/ Địa Danh và Tên Tước:
Thọ Xuân Vương
Miên Nghi/ Địa Danh và Tên Tước: Ninh
Thuận Quận Vương
Miên Hoành/ Địa Danh và Tên Tước: Vĩnh
Tường Quận Vương
Miên Áo/ Địa Danh và Tên Tước: Phú B́nh
Công
Miên Thần/ Địa Danh và Tên Tước:
Nghi Hào Quận Công
Miên Phú/ Địa Danh và Tên Tước: Phù
Mỹ Quận Công
Miên Thủ/ Địa Danh và Tên Tước: Hàm
Thuận Quận Công
Miên Thẩm/ Địa Danh và Tên Tước: Tùng
Thiện Quận Công
Riêng những người trong hoàng tộc,
khi được phong tước, c̣n
được hưởng bổng lộc
của triều đ́nh. Vào năm 1840, vua Minh
Mạng quy định bảng bộc lộc
hàng năm cấp cho những người
được phong tước trong hoàng
tộc.
Tên Tước/ Tiền (quan)/ Gạo (phương)
Thân Vương / 1500/ 1200
Quận Vương/ 1200/ 1000
Thân Công/ 1000/ 800
Quận công/ 700/ 500
Huyện Công/ 500/ 350
Hương Công/ 450/ 300
Huyện Hầu/ 180/ 100
Kỳ Nội Hầu/ 180/ 100
Kỳ Ngoại Hầu/ 170/ 90
Đ́nh Hầu/ 160/ 80
Trợ Quốc Khanh/ 150/ 70
Tá Quốc Khanh/ 150/ 70
Phụng Quốc Khanh/ 130/ 60
Trợ Quốc Uư/ 45/ 35
Tá Quốc Uư/ 42/ 32
Trợ Quốc Lang/ 38/ 28
Tá Quốc Lang/ 36/ 26
Phụng Quốc Lang/ 34/ 24
Tên tước không những được
phong cho các người c̣n sống, mà cho
cả những công thần đă chết. Thí
dụ linh mục Trần Lục, chánh xứ
Phát Diệm, tạ thế năm 1899. Đến
năm 1925, vua Khải Định xét tiểu
sử thấy linh mục có công dưới
triều Tự Đức, nên phong cho ngài: Phát
Diệm Nam Tước.
c. Những thần thánh: Những
thần thánh nhân dân thờ trong các đ́nh
miếu cũng được vua tặng tên
tước. Thành Hoàng Ma La Cẩn được
thờ tại Phú Nhuận Đ́nh, Gia Định,
được phong là Ma La Cẩn Thành Hoàng
Đại Vương Tôn Thần. Loài rái cá
cũng được thần thánh hóa,
được ban tên tước. Theo
truyền tụng, rái cá cứu vua Gia Long khi
bị Tây Sơn đuổi đánh, nên khi lên
ngôi, đă phong rái cá tước Lăng
Lại Đại Tướng Quân Tôn
Thần. Tên tước đă đi vào
lịch sử, khi chế độ quân
chủ chấm dứt vào năm 1945.
Sau tên tước, giai cấp thượng lưu
trong xă hội cổ truyền Việt Nam có
một tên rất quan trọng. Đó là tên
Tự.
Ngày mai: tên Tự
|