Tính danh học Việt Nam: Tên Đệm - Lịch sử tên đệm tại Việt Nam

VietCatholic News (Thứ Năm 13/1/2005)

CHƯƠNG BA: TÊN ĐỆM

Trong thành phần tên người Việt Nam, giữa tên họ và tên chính, có thể có một hay hai từ ngữ mà cho đến nay các nhà ngôn ngữ học cũng như tính danh học chưa thống nhất gọi là ǵ. Nhà ngữ học Nguyễn Bạt Tụy và Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy gọi là tiếng lót, Giáo sư Hà Mai Phương gọi là tên đệm hay tên lót. Chúng tôi gọi từ này là tên đệm, v́ nó là thành phần ở giữa của tên. Từ ngữ tiếng lót không gợi ư niệm tên, trong khi tên đệm thực sự là thành phần của tên.

Mục đích nghiên cứu của chương này là t́m hiểu nguồn gốc, h́nh thức, và công dụng tên đệm của người tây phương và Việt Nam. Do đó, nội dung chương ba sẽ gồm ba mục: mục một: tên đệm của người Việt Nam, mục hai: tên đệm người tây phương, mục ba: so sánh tên đệm người tây phương và Việt Nam.

MỤC I : TÊN ĐỆM CỦA NGƯỜI VIỆT NAM

Để t́m hiểu tên đệm của người Việt Nam, nội dung mục một sẽ t́m hiểu: (a) Lịch sử tên đệm, (b) h́nh thức tên đệm, (c) nhiệm vụ tên đệm của người Việt Nam.

TIẾT A: LỊCH SỬ TÊN ĐỆM NGƯỜI VIỆT NAM

Dân Việt bắt đầu dùng tên đệm từ bao giờ? Đó là câu hỏi rất khó trả lời v́ không có sử liệu nào nói về vấn đề này. Tuy nhiên, nếu xét tên các nhân vật lịch sử th́ thấy hầu hết tên người trong giai đoạn dựng nước, chỉ có tên họ và tên chính, không có tên đệm. Cứ theo sử cũ, các vua Hùng đều không có tên đệm: Hùng Dương (Lộc Tục), Hùng Hiến, Hùng Lân, Hùng Việp. Đến nhà Thục ta có Thục Phán. Sang nhà Triệu ta có Triệu Đà. Đến hai bà Trưng ta có Trưng Trắc, Trưng Nhị. Về các nhân vật lịch sử khác ta có Lữ Gia, Lư Tiến, Lư Cầm. Sang thời Sĩ Nhiếp có Sĩ Khuông, Sĩ Hâm, Sĩ Huy.

Trước thời Lư Bôn, ta thấy rất ít người có tên đệm. Một vài nhân vật như Triệu Thị Trinh tức bà Triệu, Lư Ông Trọng là có tên đệm. Sau thời Lư Bôn (544-602) thấy rải rác một số nhân vật lịch sử có tên đệm. Điều đó chứng tỏ khi xưa việc đặt tên đệm chưa phổ thông lắm. Chúng ta có hai dữ kiện lịch sử để hỗ trợ cho nhận xét này. Thứ nhất là vấn đề tên đệm tại Trung Quốc. Thứ hai là việc phổ biến Hán tự tại Việt nam.

Tại Trung Quốc, vào triều đại tiền Hán, Vương Măng ra lệnh dân chúng không ai được đặt tên đệm. Gia đ́nh nào bị đặt tên đệm th́ đó là điều nhục nhă cho gia đ́nh ấy. Cháu của Vương Măng là Vương Hội Tông, khi nhận được lệnh này, đă đổi lại là Vương Tông. Đến khi Vương Tông phạm tội, phải tự sát th́ Vương Măng bắt người ta gọi Vương Tông là Vương Hội Tông để hạ nhục.

Sự kiện người Trung Quốc thời Hán không có tên đệm có thể kiểm chứng qua các nhân vật trong Tam Quốc Chí. Hầu như hoàn toàn các nhân vật trong chuyện này đều không có tên đệm, như các ông Viên Thiệu, Viên Thuật, Tào Tháo, Lưu Bị, Tôn Quyền, Tôn Càn, Bàng Thống, Từ Thứ, Triệu Vân, Trương Phi, Quan Công, Hàn Hạo, Lỗ Túc, Lă Bố, Điêu Thuyền, Hoàng Trung v.v…Nếu có gặp các tên như Lă Phụng Tiên th́ đó là tên tự của Lă Bố, hay Trương Dực Đức là tên tự của Trương Phi, hay Tôn Trọng Mưu là tên tự của Tôn Quyền. Các tên khác như Tư Mă Ư, Công Tôn Toản, Hạ Hầu Đôn, Gia Cát Lượng, Thái Sử Từ cũng là tên đơn v́ Tư Mă, Công Tôn, Hạ Hầu, Gia Cát, Thái Sử là các tên họ kép tại Trung Quốc mà chúng tôi đă nói trong chương hai.

Sự kiện thứ hai chứng minh cho việc Việt Nam không có tên đệm trong những thế kỷ đầu sau Công Nguyên là việc truyền bá chữ Hán tại Việt Nam. Cứ theo sử cũ, Việt Nam bắt đầu dùng chữ Hán trong giấy tờ hành chánh vào thời nhà Triệu. Nhưng việc dậy chữ Hán bắt đầu mạnh vào thời Sĩ Nhiếp, tức vào khoảng thế kỷ thứ ba trở đi.

Trong khi đó tên đệm người Việt Nam hầu hết là các từ Hán Việt, tức thứ chữ nho đọc theo giọng Việt Nam. Muốn được vậy, chắc chắn dân ta phải nhuần nhuyễn chữ Hán lắm. Điều đó có nghĩa là phải mất thời gian khá dài. Vậy cứ theo hai dữ kiện trên, ta có thể tạm thời kết luận là tên đệm của người Việt Nam chỉ được thông dụng vào khoảng từ thế kỷ thứ 6 trở đi.

TIẾT B: H̀NH THỨC TÊN ĐỆM NGƯỜI VIỆT NAM

Về h́nh thức, tên đệm người Việt Nam có thể là: Một từ ngữ: Nguyễn Đ́nh Chiểu, Hồ Xuân Hương, Hoàng Kim Vui. Hai từ ngữ : Lê Thanh Minh Châu, Đỗ Văn Quang Minh. Rất họa hiếm người Việt Nam có ba từ ngữ. Tại nghĩa trang Oak Hill ở San Jose, California, trên mộ phần một em bé, chúng tôi đọc thấy Nguyễn Hoàng Gia Anh Quốc. Dù một, hai hay ba, tất cả đều gọi là tên đệm. Tuy nhiên, xét về mặt liên kết với các thành phần khác trong tên, tên đệm có thể là thành phần độc lập, cũng có thể liên kết với tên họ hoặc với tên chính:

1. Tên Đệm Đứng Độc Lập: Là loại tên đệm không phối hợp được với tên họ hay tên chính để làm thành từ ngữ kép. Ví dụ Nguyễn Đ́nh Chiểu, Lê Văn Trương. Từ ngữ Đ́nh hay Văn không thể phối hợp với tên họ, hoặc tên chính để làm thành từ ngữ kép có ư nghĩa rộng hơn.

2. Tên Đệm Phối Hợp Với Tên Chính: Hầu hết tên chính người Việt Nam xuất phát từ nguồn gốc Hán Việt, và trong văn chương, các từ ngữ này được coi là hay hơn các từ Nôm. Do đó, các bậc cha mẹ, khi đặt tên cho con, đă cố gắng lựa tên đệm nào có thể đi chung với tên chính để có ư nghĩa rộng hơn, tốt đẹp hơn như Nguyễn Văn Quang Minh, Trần Hùng Dũng, Lê Phú Quư, Nguyễn Văn Thông Minh, Lê An B́nh, Trần Thị Xuân Hương, Phan Thanh Giản, Huỳnh Ngọc Diệp.

3. Tên Đệm Phối Hợp Với Tên Họ: Rất ít tên người Việt có tên đệm phối hợp được với tên họ để làm thành từ ngữ kép có ư nghĩa. Ngoại trừ một số họ như Hoàng, Vơ. Ví dụ Hoàng Kim Vui. Vơ Văn Trung. Tên đệm Kim phải đi chung với từ ngữ Hoàng, thành Hoàng Kim mới có ư nghĩa v́ cả hai đều là từ ngữ Hán Việt. Nếu từ Kim đi chung với từ Vui th́ không có nghĩa. C̣n hai từ Vơ Văn có thể hiểu là người văn vơ kiêm toàn.

4. Tên Đệm Có Hai Chữ, Một Đứng Độc Lập, Một Phối Hợp Với Tên Chính: Ta lấy một ví dụ cụ thể như tên anh Đỗ Văn Quang Minh. Trường hợp này ta có tên đệm Văn đứng độc lập, têm đệm thứ hai là Quang đi với tên chính là Minh, làm thành Quang Minh, nghĩa là sáng sủa.

TIẾT C: NHIỆM VỤ TÊN ĐỆM NGƯỜI VIỆT NAM

Đối với người Việt Nam, tên đệm rất quan trọng, nếu đă có, không thể bỏ đi, v́ có phần vụ rơ ràng. Phân tích ư hướng dân gian, ta thấy tên đệm có sáu nhiệm vụ sau đây: (1) Tên đệm để phân biệt nam nữ, (2) Tên đệm để phân biệt gia tộc, (3) Tên đệm để phân biệt nội ngoại, (4)Tên đệm để phân biệt thứ cấp, (5) Tên đệm phối hợp với tên họ hay tên chính để có ư nghĩa rộng hơn, (6) Tên đệm thành tên chính.

1. Tên Đệm Để Phân Biệt Nam Hay Nữ: Tại tây phương, đọc tên một cá nhân, người ta thường biết được đó là đàn ông hay đàn bà v́ tên chính đàn bà khác đàn ông. Ngược lại, tại Việt Nam, gặp tên Minh chẳng hạn, ta không thể quyết đoán đây là đàn ông hay đàn bà. Do vậy, dân gian đă có kiểu thức đặt tên đệm để phân biệt nam hay nữ.

a. Tên đệm trong tên nữ giới: Khi Hán tự c̣n phổ thông người ta thường chọn ba tiếng sau đây để làm tên đệm cho nữ giới. Đó là Thị, Diệu, Nữ. Xét về cấu trúc Hán tự, hai chữ Diệu và Nữ đều có chung một ngữ căn là chữ Nữ. Riêng chữ Diệu có nghĩa là đẹp, khéo léo, một đức tính vốn có của nữ giới. Trong ba chữ đó, chữ Thị được sử dụng rất sớm và có nghĩa là ḍng họ. Sử liệu cho thấy bà Triệu có tên chính là Triệu Thị Trinh. Nghiên cứu về chữ Thị, ta thấy dân gian có hai khuynh hướng: Khuynh hướng chữ Hán và khuynh hướng chữ Nôm.

Khuynh hướng chữ Hán tức theo tinh thần Trung Quốc, chữ Thị đi với tên họ. Ví dụ Cù Thị, người đàn bà lịch sử thời Lữ Gia, không phải tên chính là Thị mà chỉ có nghĩa là người đàn bà họ Cù. Trong các cổ thư như Đại Việt Sử Kư Toàn Thư, tên đàn bà được ghi là Trần Thị, Đặng Thị. Ngoài dân gian, trên các bia mộ, người ta thấy: Trần Thị Chi Mộ nghĩa là mộ phần người đàn bà họ Trần.

Khuynh hướng chữ Nôm, tức theo tinh thần Việt Nam, chữ Thị đi với tên chính. Nhân vật Thị Mầu, Thị Kính trong truyện Quan Âm Thị Kính là một bằng chứng cụ thể. Để chỉ người đàn bà nói chung, dân gian thường nói Thị Mẹt.

Tại Huế, các gia đ́nh nho gia, học thức thường dùng chữ Diệu hay Nữ thay cho chữ Thị. Ngày nay, nhiều gia đ́nh và chính bản thân người phụ nữ coi chữ Thị không được ra vẻ lắm, cho là quê mùa, nên càng ngày càng có khuynh hướng bỏ hẳn chữ Thị trong tên đàn bà. Điều này chẳng qua là vấn đề tâm lư xă hội, v́ bản chất chữ Thị chẳng có ǵ xấu, chỉ v́ tên người nào cũng đệm chữ Thị, thành ra chữ Thị bị mất giá. Một câu hỏi được đặt ra là tại sao tên đàn bà Trung Quốc không đệm chữ Thị, mà tên đàn bà Việt Nam lại luôn luôn đệm chữ Thị?

Hiện nay chúng tôi chưa có sử liệu nào để trả lời câu hỏi này. Tuy nhiên, theo sự suy luận, có lẽ tên người đàn bà Trung Quốc không đệm chữ Thị v́ trong tiếng Hán thời Tam Đại, Thị để chỉ đàn ông và Tính để chỉ đàn bà. Và khi người con gái đi lấy chồng, theo phong tục Trung Quốc, bà sẽ lấy họ chồng rồi đệm chữ Thị, và được gọi là Trần Thị phu nhân, Vương Thị phu nhân, nghĩa là bà vợ ông họ Trần, bà vợ ông họ Vương. Chữ Thị trong trường hợp này có nghĩa là họ. Đối với Việt Nam, khi ư nghĩa chữ Thị đă bị biến đổi, trở thành tiếng chỉ đàn bà, th́ các cụ dùng chữ này làm tên đệm cho nữ giới để phân biệt nam nữ.

b.Tên đệm trong tên đàn ông:Trong tên đàn ông Việt Nam, từ ngữ nào cũng có thể là tên đệm, nhưng nhất định không bao giờ là chữ Thị. Tiếng thông dụng nhất là tiếng Văn. Trong khi tiếng Văn là tiếng độc quyền của đàn ông Việt Nam th́ tại Trung Quốc, tiếng Văn cũng được dùng trong tên đàn bà. Nàng Trác Văn Quân, v́ nghe nhạc khúc Phụng Cầu Hoàng mà trở thành người t́nh của Tư Mă Tương Như, là một ví dụ điển h́nh. Tại sao từ ngữ Văn lại thông dụng như vậy? Muốn giải thích vấn đề này, ta phải trở về với quan niệm phân chia giai cấp trong xă hội cổ truyền Việt Nam.

Bốn giai cấp trong xă hội cổ truyền là sĩ, nông, công, thương. Giai cấp sĩ là giai cấp cao nhất, được kính trọng hơn cả. Điều kiện cần thiết để bước vào giai cấp này là văn, hiểu một cách rộng răi là phải có văn chương chữ nghĩa. Do điều kiện này mà các bậc cha mẹ mong ước cho con có văn chương chữ nghĩa để bước vào giai cấp trên. Ước vọng này thể hiện qua việc đặt chữ văn trong thành phần tên của con. Chữ văn trở nên thông dụng đến độ làm ư nghĩa của nó trở nên mập mờ và lạm dụng. Ví dụ một ông Trần Văn Hóa, Nguyễn Văn Minh nào đó lại không biết đọc, biết viết. Đó là lời phê b́nh của nhiều nhà tính danh học Việt Nam. Phê b́nh như vậy là đứng trên quan điểm của người đă hiểu ư nghĩa chữ văn để lư luận. Thực ra, khi xưa, đa số dân gian bị thất học, không hiểu ư nghĩa chữ Văn, mà chỉ biết đại khái chữ Văn chỉ đàn ông, chữ Thị chỉ đàn bà. Sự hiểu biết này được thể hiện qua tập tục nói tên. Theo tập tục này, khi người Việt muốn nói tên kép của một người nào đó, mà không biết tên đệm, chỉ biết tên chính, họ áp dụng ngay nguyên tắc đặt chữ Văn vào trước tên chính như Văn Đức, Văn Hiệp. Người nghe mặc nhiên hiểu đó là ông Đức, ông Hiệp. Cũng như nói Thị Mẹt, người nghe mặc nhiên hiểu đó là đàn bà.

Điều đáng chú ư là ngày xưa đa số người ít học ở nông thôn hay giới quân nhân thường dùng chữ Văn làm tên đệm. Bằng chứng là dưới thời Nguyễn Phúc Ánh đánh Tây Sơn, trong danh sách 401 binh sĩ được thờ tại đền Tinh Trung ở phủ Diên Khánh, chúng tôi đếm được 384 người có tên đệm Văn, 17 người không đệm chữ văn. Như vậy tỷ lệ đàn ông thời xưa đệm chữ văn chiếm khoảng 96%.

Trái lại, đại đa số giới trí thức Việt Nam, xưa cũng như nay, đều không dùng chữ văn. Bằng chứng là đọc các cổ thư như Đại Việt Sử Kư Toàn Thư, An Nam Chí Lược, Đại Nam Liệt Truyện, ta thấy hầu hết các nhân vật trong các sách trên là các văn quan, đều không dùng tiếng văn làm tên đệm. Năm 2002, chúng tôi phân tích một danh sách 415 linh mục trên mạng lưới điện toán ở địa chỉ www.Vietcatholic . net. Kết quả cho thấy có 22 trên tổng số 415 vị là dùng tiếng Văn làm tên đệm. Nếu định lượng hóa, tỷ lệ người dùng chữ văn trong giới trí thức hiện nay là 5%.

2. Tên Đệm Để Phân Biệt Gia Tộc Hay Chi Họ: Như đă tŕnh bày trong chương trước, Việt Nam có khoảng 10 họ là phổ thông nhất. Do đó, không phải bất cứ ai cùng họ cũng đều từ một ông tổ hay một gia tộc mà ra. Để tránh ngộ nhận, nhiều gia tộc dùng tên đệm để phân biệt gia tộc hoặc chi họ. Theo tác giả Cuisinier, người Mường tích cực áp dụng tập tục này. Thí dụ người Mường có các họ Cao Viết, Đinh Công, Đinh Thế, Đinh Văn, Quách Ngay, Quách Đ́nh ở Ḥa B́nh, họ Phạm Bá, Phạm Văn ở Thanh Hóa.

Theo bản tin :”Làng Không Mang Họ” trong báo Gia Đ́nh và Xă Hội”đăng trên www.vnn.vn, xă Liên Khê huyện Khoái Châu tỉnh Hưng Yên có 13 ḍng họ trong đó 9 ḍng mang họ Đỗ. Để phân biệt, họ dùng tên đệm: Đỗ Trảng, Đỗ Bá, Đỗ Trọng, Đỗ Thúc, Đỗ Quang v.v..Các vị trưởng tộc cho rằng Đỗ không phải là tên họ mà các tên đệm : Trảng, Trọng, Bá, Thúc, Quang v.v… mới là tên họ. Từ đó các cụ xin đổi tên họ mới là Trảng, Trọng, Bá. Thúc.

Theo thiển ư, đây là chuyện hiểu lầm v́ như chúng tôi đă nói ở phần tên họ ghép, khi thành lập làng, thường chỉ có một hai ḍng họ. Đến khi gia tộc phát triển, các cụ dùng tên đệm để phân biệt chi phái. Bằng chứng là các tên đệm: Bá, Trọng, Thúc là các từ chỉ thứ cấp trong thân tộc. Các cụ cũng nại ra lư do con gái làng này có tục lệ lấy tên đệm làm họ, như Trảng Thị Hoa, Trọng Thị Nhung v.v…Từ đó các cụ cho rằng từ Trảng mới là tên họ. Đây lại là chuyện hiểu lầm v́ xưa có quan niệm nữ nhân ngoại tộc. Tổ tiên làng Liên Khê xưa không để nữ nhân mang ḍng họ Đỗ mà lấy tên đệm làm tên họ “tạm” với ư nghĩa người đàn bà này thuộc chi phái Trảng, Trọng, Thúc, Bá của ḍng họ Đỗ.

Đối với khối người kinh, nhiều gia đ́nh cũng áp dụng nguyên tắc này. Bằng chứng là nhiều gia tộc khi viết gia phả, đều ghi cả tên họ và tên đệm như gia phả họ Trần Đ́nh, gia phả họ Bùi Thái, Hoàng Ngọc. Vấn đề này đă được chúng tôi đă tŕnh bày kỹ ở chương hai, Tiết mục E: Tên Họ Ghép Để Biểu Lộ Ư Niệm Huyết Thống.

3. Tên Đệm Để Phân Biệt Liên Hệ Nội Ngoại: Trong xă hội cổ truyền Việt Nam, người phụ nữ bị coi là “nữ nhân ngoại tộc”, nghĩa là “con gái là con người ta” nên không được đặt tên đệm giống tên của các anh em trai ruột thịt. Ví dụ điển h́nh là gia đ́nh của ban hợp ca Thăng Long, nổi tiếng vào những thập niên 60, 70. Chỉ tên con trai được đệm chữ Đ́nh, tên con gái đệm chữ Thị. Thân phụ ca sĩ Mai Hương là cụ Phạm Đ́nh Sỹ, sau đó, đến cụ Phạm Đ́nh Chương, tức Hoài Bắc, rồi cụ Phạm Đ́nh Viêm, tức Hoài Trung. C̣n hai chị em gia đ́nh này là các cụ bà Phạm Thị Thái Hằng, vợ của nhạc sĩ Phạm Duy, cụ bà Phạm Thị Thái Thanh, tức ca sĩ Thái Thanh không được đệm chữ Đ́nh.

4. Tên Đệm Để Phân Biệt Vai Vế Trong Gia Tộc: Hậu quả tất nhiên của chế độ đa thê trong xă hội cổ truyền là gia đ́nh với cảnh con đàn cháu đống. Thêm vào đó, đơn vị xă hội nước ta không phải là cá nhân, mà là gia đ́nh. Những chuyện lũy đại đồng đường theo kiểu gia đ́nh Trương Công Nghệ vẫn được truyền tụng trong dân gian như một khuôn mẫu lư tưởng. Từ đó, người ta thấy cần thiết phải phân biệt ngôi thứ trong họ hàng bằng cách đặt tên đệm cho mỗi người trong gia tộc. Tập tục này có từ thời đầu nhà Hán. và sáng kiến này quả thực là nét độc đáo, nó vừa đề cao sự thống nhất gia đ́nh, vừa tách rời cá nhân ra khỏi tập thể, đồng thời giúp cho việc xác định thứ vị trong việc thờ cúng tổ tiên được dễ dàng. Mỗi giai cấp xă hội áp dụng cách thức khác nhau:

a. Cách thức của đa số dân gian: Khi xưa dân gian thường dùng 5 từ ngữ thân tộc là Bá, Mạnh, Trọng, Thúc, Quư làm tên đệm để phân biệt con bác, con chú. Con người anh cả đệm chữ Bá, con các em trai lần lượt đệm chữ Mạnh, Trọng, Thúc, Quư. Cũng có gia đ́nh dùng chữ Bá cho toàn thể các con trai đời thứ nhất, chữ Mạnh cho đời thứ hai, đến đời thứ năm dùng tiếng Quư.

b. Cách thức của các gia đ́nh danh giá, nho gia: Các cụ không dùng 5 từ ngữ trên mà tự đặt một bài thơ. Mỗi tiếng trong bài thơ là một tên đệm cho mỗi thế hệ. Thí dụ điển h́nh là gia đ́nh cụ Dương Khuê (1839-1902) được vua Tự Đức ban cho bài thơ 16 chữ dùng làm tên đệm cho các con trai, cháu trai để phân biệt người trong mỗi thế hệ. Theo sách Dương Gia Phả Kư, bài thơ của vua Tự Đức như sau:

Tự Thiệu Hồng Nghiệp

Vi Bang Gia Ky

Thế Tế Kỳ Mỹ

Chúc Khánh Dụ Chi

Theo bài thơ trên, ta biết nhạc sĩ Dương Thiệu Tước thuộc thế hệ thứ hai, tức hàng cháu của cụ Dương Khuê.

Gia đ́nh cụ Dương Lâm (1845-1915), em cụ Dương Khuê, đă áp dụng tên đệm để phân biệt con gái, con dâu, cháu gái, chắt gái.

Con gái đệm chữ Hà

Cháu gái đệm chữ Nguyệt

Chắt gái đệm chữ Vân

Con dâu đệm chữ Nhật

c. Cách thức của hoàng tộc nhà Nguyễn: Vua Minh Mạng có nhiều quyết định liên quan đến vấn đề tên người Việt Nam. Ngài ban tên họ cho nhiều sắc dân thiểu số, kể cả cho người Lào, người Miên. Với hoàng tộc, ngài quyết định những người họ Nguyễn theo chúa Nguyễn Hoàng vào Nam th́ gọi là họ Tông Thất Nguyễn Phúc, những người ở lại Bắc gọi là Công Tính Nguyễn Hựu. Đối với 11 con trai của vua Gia Long (1802-1819), vua Minh Mạng đặt ra Đế Hệ Thi, Ngự Chế Mạng Danh Thi, Phiên Hệ Thi để quy định cách đặt tên trong hoàng tộc. Đế Hệ Thi là bài thơ gồm 20 chữ, mỗi chữ sẽ được dùng làm tên đệm cho các thế hệ sẽ lên ngôi thiên tử.

Đế Hệ Thi

Miên Hồng Ưng Bửu Vĩnh

Bảo Quư Định Long Trường

Hiền Năng Kham Kế Thuật

Thế Thoại Quốc Gia Xương.

Theo bài thơ trên, con vua Minh Mạng đệm chữ Miên: Nguyễn Phúc Miên Tông, tức vua Thiệu Trị, Nguyễn Phúc Miên Thẩm: Tùng Thiện Vương, Nguyễn Phúc Miên Trinh: Tuy Lư Vương.

Hàng cháu vua Minh Mạng đệm chữ Hồng: Nguyễn Phúc Hồng Nhậm tức vua Tự Đức, Nguyễn Phúc Hồng Hưu, Nguyễn Phúc Hồng Y.

Hàng chắt vua Minh Mạng đệm chữ Ưng: Nguyễn Phúc Ưng Đăng: vua Kiến Phúc. Nguyễn Phúc Ưng Lịch,

Nguyễn Phúc Ưng Chân: vua Dục Đức.

Hàng chút vua Minh Mạng đệm chữ Bửu: Nguyễn Phúc Bửu Lân: vua Thành Thái. Bác sĩ Nguyễn Phúc Bửu Hội, Linh mục Nguyễn Phúc Bửu Dưỡng, Giáo sư Nguyễn Phúc Bửu Cầm, Nguyễn Phúc Bửu Lịch.

Hàng dưới nữa đệm chữ Vĩnh, Bảo v.v… Nguyễn Phúc Vĩnh Thụy tức vua Bảo Đại. Nguyễn Phúc Bảo Long tức con vua Bảo Đại.

Ngự Chế Mạng Danh Thi là bài thơ liên quan đến quy tắc đặt tên chính nên sẽ nói trong chương bốn: Tên Chính Của Người Việt Nam.

Phiên Hệ Thi gồm 10 bài. Mỗi bài dành cho một người anh em của vua Minh Mạng và thế hệ con cháu của các người đó sẽ dùng một chữ trong bài thơ làm tên đệm.

Bài 1: ngài Tăng Duệ, Hoàng Thái Tử của vua Gia Long

Mỹ Duệ Tăng Cường Tráng

Liên Huy Phát Bội Hương

Linh Nghi Hàm Tốn Thuận

Vỹ Vọng Biểu Không Quang.

Bài 2: ngài Kiến An Vương, hoàng tử thứ 5

Lương Kiến Ninh Ḥa Thuật

Du Hành Suất Nghĩa Phương

Dưỡng Di Tương Thực Hảo

Cao Túc Thể Vi Tường.

Bài 3: ngài Định Viễn Quận Vương, hoàng tử thứ 6

Tịnh Hoài Chiêm Viễn Ái

Cảnh Ngưỡng Mậu Thanh Kha

Nghiễm Khác Do Trung Đạt

Liên Trung Tập Cát Đa.

Bài4: ngài Diên Khánh Vương, hoàng tử thứ 7

Diên Hội Phong Hanh Hiệp

Trùng Phùng Tuấn Lăng Nghi

Hậu Lưu Thành Tú Diệu

Diễn Khánh Thích Phương Huy.

Bài 5: ngài Điện Bàn Công, hoàng tử thứ 8

Tín Diện Tư Duy Chánh

Thành Tồn Lợi Thỏa Trinh

Túc Cung Thừa Hữu Nghị

Vinh Hiển Tập Khanh Danh.

Bài 6: ngài Thiệu Hóa Quận Vương, hoàng tử thứ 9

Thiện Thiệu Kỳ Tuần Lư

Văn Tri Tại Mẫn Du

Ngưng Lân Tài Chí Lạc

Địch Đạo Doăn Phu Hưu.

Bài 7: ngài Quảng Oai Công, hoàng tử thứ 10

Phụng Phủ Trưng Khải Quảng

Kim Ngọc Trác Tiêu Kỳ

Điển Học Kỳ Gia Chí

Đôn Di Khắc Tự Tŕ.

Bài 8: ngài Thường Tín Quận Vương, hoàng tử thứ 11

Thường Cát Tuân Gia Huấn

Lâm Trang Túy Thạnh Cung

Thận Tu Di Tấn Đức

Thọ Ích Mậu Tân Công.

Bài 9: ngài An Khánh Vương, hoàng tử thứ 12

Khâm Tùng Xưng Ư Phạm

Nhă Chánh Thủy Hoằng Quy

Khải Dễ Đang Cần Dự

Quyến Ninh Công Tráp Hy.

Bài 10: ngài Từ Sơn Công, hoàng tử thứ 13

Từ Thể Dương Quỳnh Cẩm

Phu Văn Ái Diệu Dương

Bách Chi Quân Phụ Dực

Vạn Diệp Hiệu Khuông Tương.

Theo các bài thơ trên, những người thế hệ thứ nhất, sẽ lấy những chữ đầu của 11 bài thơ làm tên đệm là Miên, Mỹ, Lương, Tịnh, Diên, Tín, Thiện, Phụng, Thường, Khâm, Từ. Ví dụ:

Ḍng Đế :Vua Thiệu Trị: Miên Tông.

Ḍng Tăng Duệ Hoàng Thái Tử: Công tử Mỹ Đường.

Ḍng Kiến An Vương: Công tử Lương Kỳ.

Ḍng Định Viễn Quận Vương: Công tử Tịnh Cơ.

Ḍng Diên Khánh Vương: Công tử Diên Vực.

Ḍng Điện Bàn Công: Công tử Tín Kiên.

Ḍng Thiệu Hóa Quận Vương: Công tử Thiện Khuê.

Ḍng Quảng Oai Công: Công tử Phụng Tại.

Ḍng Thường Tín Quận Vương: Công tử Thường Nhậm.

Ḍng An Khánh Vương: Công tử Khâm Thịnh.

Ḍng Từ Sơn Công: Công tử Từ Đàn.

Những người trên đây là con bác, con chú, ngang hàng với hoàng tử Miên Tông, tức vua Thiệu Trị. Cũng nhờ các bài phiên hệ thi mà ta biết được Hoàng Thân Nguyễn Phúc Cường Để là ḍng dơi đời thứ 4 của Hoàng Tử Cảnh, và con ông Cường Để là Nguyễn Phúc Tráng Liệt. Chữ Cường và chữ Tráng có trong bài thơ thứ nhất dành cho Tăng Duệ Hoàng Thái Tử.

Thực ra, chỉ các tên đệm đặt cho ḍng đế trong bài Đế Hệ Thi là thấy con cháu tích cực lưu truyền, nên trong thực tế, ta gặp nhiều tên như: Miên Thẩm, Miên Trinh, Hồng Hưu, Hồng Dân, Hồng Nhậm, Ưng Đăng, Ưng Lịch, Bửu Lộc, Bửu Dưỡng, Bửu Cầm, Bửu Lịch, Vĩnh Thụy, Vĩnh San. C̣n các tên đệm khác trong 10 bài phiên hệ thi, ta không thấy con cháu vua Minh Mạng triệt để áp dụng, nên không gặp các tên khởi đầu với các chữ như Mỹ, Lương, Tịnh, Diên v.v… giống kiểu thức Miên Trinh, Ưng Đăng, Bửu Lộc, Vĩnh Thụy của ḍng đế hệ. Con cháu thuộc ḍng đế chỉ viết tên đệm và tên chính để dân chúng biết họ thuộc hoàng phái nên người Việt thường bị lầm tưởng các từ Miên, Hồng, Ưng, Bửu, Vĩnh là tên họ. Thực ra, đó là tên đệm và tên đầy đủ của họ là Nguyễn Phúc Ưng Đăng hay Nguyễn Phúc Bửu Lộc..

5. Tên Đệm Phối Hợp Với Tên Chính Hay Tên Họ Để Có Nghĩa Rộng Hơn: Tuyệt đại đa số tên đệm của người Việt Nam được đặt để phối hợp với tên chính hoặc tên họ để có ư nghĩa rộng hơn, và khi đọc lên có âm thanh hài ḥa, phản ảnh đúng nguyện vọng của cha mẹ mong muốn cho con cái. Ví dụ để diễn tả ước vọng cho con có dung nhan đẹp đẽ, tên đọc lên có âm thành hài ḥa, cha mẹ đặt tên cho con là Ngọc Diệp. Ngọc Diệp nghĩa là chiếc lá bằng ngọc. Hoàng Điệp: con bướm màu vàng. Thanh Lan: hoa lan màu xanh. Kim Liên: hoa sen bằng vàng. Để diễn tả ước vọng con có đức hạnh tốt, cha mẹ đặt tên cho con là Nhân Nghĩa, Trung Tín, Tấn Đức v.v…

Tên đệm sẽ c̣n biến chuyển ra sao nữa, chúng tôi chưa dám có dự đoán, nhưng cuối thế kỷ 20, đă thấy mộ phần một em bé Việt Nam tại San Jose có tên 5 chữ: Nguyễn Hoàng Gia Anh Quốc.

6. Dùng Tên Đệm Làm Tên Chính: Một hiện tượng thấy xuất hiện trong các gia đ́nh quư phái là các người trong gia đ́nh đều có tên chính giống nhau, nhưng tên đệm khác nhau. Tên đệm lúc đó trở thành tên chính. Ví dụ các công chúa của vua Minh Mạng có tên là Trọng Khanh, Trúc Khanh và Quư Khanh. Gia đ́nh học giả Nguyễn Đổng Chi, tác giả của nhiều sách văn chương, lịch sử, đă đặt tên cho con là Nguyễn Việt Chi. Gia đ́nh người bạn chúng tôi là ông bà Nguyễn Việt Anh đă đặt tên cho các cô con gái là Nguyễn Trâm Anh, Nguyễn Lan Anh, Nguyễn Tố Anh, và cậu con trai là Nguyễn Quốc Anh.

Hiện tượng trên đây đă thấy xuất hiện tại Trung Quốc từ lâu. Gia đ́nh họ Tống nổi tiếng ở Trung Quốc có bốn chị em đều tên là Linh. Tống Khánh Linh tức bà Tôn Văn, Tống Mỹ Linh tức bà Tưởng Giới Thạch, Tống Ái Linh, Tống Diệu Linh. Con ông Tưởng Giới Thạch là Tưởng Kinh Quốc và Tưởng Vĩ Quốc.

Qua sáu nhiệm vụ nói trên, ta thấy đa số tên đệm được đặt ra để phối hợp với tên chính làm thành tên kép. Nhưng, thật là điều khó khăn khi ta phải phân biệt trường hợp nào là tên đệm, trường hợp nào để phối hợp với tên chính làm thành tên kép. Lư do là v́ chúng ta không hiểu được ư hướng của gia đ́nh khi đặt tên ấy. Ví dụ chữ Văn trong tên ông Trần Văn Minh hoặc Trần Văn Hóa nào đó, vừa có nghĩa chỉ đàn ông như đă nói trên, vừa có thể đi chung với tên chính để diễn tả ư nghĩa văn minh, văn hóa. Tên em Nguyễn Hoàng Gia Anh Quốc phải chăng có tên họ kép Nguyễn Hoàng, hay tên chính của em là Hoàng Gia Anh Quốc. Và như thế, giả sử phải xưng hô với em, ta gọi em là Quốc hay cả bốn tên Hoàng Gia Anh Quốc?

MỤC II: TÊN ĐỆM CỦA NGƯỜI TÂY PHƯƠNG

Để t́m hiểu tên đệm của người tây phương, nội dung mục hai gồm hai tiết: (a) nguồn gốc tên đệm của người tây phương, (b) nhiệm vụ tên đệm của người tây phương.

TIẾT A: NGUỒN GỐC TÊN ĐỆM NGƯỜI TÂY PHƯƠNG

Trước thế kỷ thứ 10, người Âu Châu chỉ có tên chính để phân biệt những cá nhân. Đến thế kỷ 11 và 12, Âu Châu bắt đầu có tên họ. Đến thế kỷ 14, vào năm 1363, tại Anh Quốc người ta thấy một người đầu tiên có tên đệm. Đó là ông John Philip Capel.

Nhiều nhà tính danh học cho rằng người tây phương đă có tên đệm trước thế kỷ thứ 10 với bằng chứng là tại các nước theo Kitô Giáo như Tây Ban Nha, Ư, người Công Giáo thường có tên thánh đôi, gồm một vị thánh nam, một vị thánh nữ như Juan-Maria, Anna-Jose, Jean-Marie. Tục lệ này từ Tây Ban Nha lan sang Pháp và từ Pháp ra khắp cả Âu Châu. Ngày nay, người ta vẫn giữ tục lệ đặt tên thánh đôi, như ứng cử viên Tổng Thống Pháp năm 2002 có tên là Jean-Marie Le Pen. Nhiều nhà tính danh học khác bác bỏ lập luận này và cho rằng tên Jean-Marie hay Anne-Joseph chỉ là tên chính ở h́nh thức kép. Họ cũng nêu bằng chứng là các nước Bắc Âu ít chịu ảnh hưởng Kitô Giáo, dân chúng chỉ có tên đơn. Tại Mỹ Châu, đến đầu thế kỷ 19, theo tác giả Mary P. Lee, người ta mới có tên đệm. Bằng chứng là trong số 56 đại biểu kư tên vào bản Tuyên Ngôn Độc Lập Hoa Kỳ, ngày 4 tháng 7 năm 1776, chỉ có 3 đại biểu là có tên đệm. C̣n lại 53 vị chỉ có tên chính và tên họ.

Đối với Việt Nam, bất cứ từ ngữ nào cũng có thể là tên chính hay tên đệm, nhưng với các nước tây phương, tên họ, tên đệm và tên chính khác hẳn ngôn ngữ thông thường. Riêng tên đệm, v́ xuất hiện sau cùng nên đă mượn cả tên họ lẫn tên chính làm tên đệm. Công thức tổng quát tên người Âu Mỹ như sau: TÊN CHÍNH + TÊN ĐỆM + TÊN HỌ. Với người tây phương, tên đệm không quan trọng như tên đệm người Việt Nam hay Trung Quốc, người ta có thể bỏ đi. Ví dụ Nikita Khrushchev (1894-1971), bỏ tên đệm Sergeyevich, Karl Marx (1818-1883), bỏ tên đệm Heinrich. Nếu có viết tên đệm, người ta cũng chỉ viết tắt như John F. Kennedy (1917-1963), George W. Bush (1947- ).

TIẾT B: NHIỆM VỤ TÊN ĐỆM NGƯỜI TÂY PHƯƠNG

1. Tên Đệm Ghi Dấu Tích Lịch Sử Gia Đ́nh: Người tây phương lấy tên họ làm tên đệm để ghi dấu lịch sử gia đ́nh. Nguyên tắc này áp dụng cho phụ nữ và con cái.

a. Đối với phụ nữ: Theo luật pháp và tục lệ, khi người phụ nữ tây phương lập gia đ́nh, cô được giữ tên chính, và phải nhận tên họ chồng. C̣n tên họ của cô, tục lệ quy định để làm tên đệm. Xin nêu trường hợp cụ thể của cô Jacqueline Bouvier (Jacqueline: tên chính, Bouvier: tên họ). Khi cô này lập gia đ́nh với ông John F. Kennedy, th́ tên bà là Jacqueline Bouvier Kennedy. Đọc tên này, ta biết bà Jacqueline có họ là Bouvier, lập gia đ́nh với ông họ Kennedy. Đến khi Tổng Thống Kennedy chết, bà Jacqueline tái giá, tên mới của bà là Jacqueline Bouvier Kennedy Onassis. Đọc tên này, ta biết lai lịch của bà Jacqueline có họ là Bouvier, đă kết hôn với ông Kennedy và bây giờ có chồng tên họ là Onassis. Khi người phụ nữ Anh và Hoa Kỳ ly dị, luật pháp cho phép họ lấy lại tên họ cũ.

b. Đối với các con trong gia đ́nh: Tên họ người phụ nữ Anh Mỹ trước khi lấy chồng gọi là maiden name và người Âu Châu, nhất là người Tô Cách Lan, lấy tên này làm tên đệm cho các con để kỷ niệm cuộc hôn nhân giữa hai ḍng họ. Ví dụ anh chàng Mỹ John Walker Lindh ở California, theo Taliban tại Afghanistan, chống lại Hoa Kỳ, có tên đệm là Walker. Tên Walker là tên họ của mẹ anh ta. Trong các mẫu đơn xin thẻ tín dụng tại Hoa Kỳ, các cơ sở tín dụng thường hỏi tên họ mẹ của người xin thẻ v́ tên họ mẹ chính là tên đệm của đương đơn. Đôi khi, người ta dùng cả tên ông bà nội, ông bà ngoại hay ông bà cố tổ làm tên đệm, nếu những người này nổi tiếng.

Chúng ta hăy xét gia phả của hai cha con đều là Tổng Thống Hoa Kỳ có tên là George W. Bush để chứng minh cho định luật này. Gia phả được báo Time xuất bản ở Hoa Kỳ công bố trong số ra ngày 27 tháng 12 năm 2004. Tổng Thống cha có tên đầy đủ là George Herbert Walker Bush (1924 - ) và Tổng Thống con có tên đầy đủ là George Walker Bush (1946- ). Ông Bush cha lấy hai từ Herbert Walker làm tên đệm v́ đó là tên đệm và tên họ của ông ngoại. Ông ngoại tên là George Herbert Walker ( 1875-1953). C̣n Tổng Thống Bush con lấy tên đệm Walker v́ đó là tên họ của bà nội. Bà nội của Tổng Thống Bush con là Dorothy Walker Bush (1901-1992)

Tác giả Mary P. Lee nêu một thí dụ cụ thể: Tại tiểu bang Pennsylvania, người ta lấy tên họ Ambler của vị nữ anh hùng ở đó để đặt tên cho thành phố và ông Harold Ambler Wilcox là hậu duệ của bà cố tổ này đă lấy tên Ambler làm tên đệm cho gia đ́nh.

Phong tục ở các nước nói tiếng Tây Ban Nha, hay Bồ Đào Nha, c̣n dùng cả tên họ bố, tên họ mẹ trong tên người con. Công thức là: Tên Con + Tên Họ Bố + Tên Họ Mẹ. Ví dụ tên nhà lănh tụ Cộng Sản Nicaragua là Daniel Ortega Saavedra. Daniel là tên chính, Ortega là tên họ bố, Saavedra là tên họ mẹ.

Phong tục Ba Tây, Mễ Tây Cơ c̣n dùng tên họ ông bà nội ngoại làm tên đệm cho con cháu. Tại Ba Tây, công thức đặt tên của một người là: Tên Chính + Tên Đệm + Tên Họ Bà Cố Nội + Tên Họ Ông Cố Nội + Tên Họ Bố. Ví dụ tên đầy đủ của một người Ba Tây: Eliana Marcia Villela Gomes Soares.

Người ta cũng có thể dùng tên của một người tổ tiên trong ḍng tộc để làm tên đệm. Trường hợp này tổ tiên thường là người nổi tiếng và con cháu muốn dùng tên người này làm tên đệm để tưởng nhớ tổ tiên. Tác giả Mary P. Lee kể rằng ông Stephen Livingstone Price đă lấy tên đệm là Livingstone v́ ông Livingstone, một nhà thám hiểm thời danh của Hoa Kỳ, là ông cố của gia đ́nh ông Price.

2. Tên Đệm Để Phân Biệt Thế Hệ: Người Anh Mỹ áp dụng bốn phương cách để phân biệt thế hệ:

a. Thứ nhất, dùng chữ Junior. Người Anh Mỹ có tục đặt tên cha con giống nhau như hai cha con ông Bush đều làm Tổng Thống Hoa Kỳ. Một ông là George Herbert Walker Bush (1924- ), ông kia là George Walker Bush (1946). Để phân biệt cha con, cách thứ nhất là thêm từ ngữ Junior, thường viết tắt là Jr., nghĩa là ít tuổi hơn. Đọc tên George W. Bush Jr. ta biết ông này là con, và ông George Bush là cha. Một khi cha qua đời, ông con sẽ bỏ chữ Junior.

b. Thứ hai, dùng tên đệm khác nhau: Khi tên chính của cha con giống nhau, người Anh Mỹ áp dụng phương pháp đặt tên đệm khác nhau để phân biệt thế hệ cha con. Ví dụ các con của ông Gordon Connelly Jackson đều có tên là Gordon. Ông sẽ chọn tên đệm khác nhau cho mỗi người con: Gordon Wood Jackson, Gordon Smith Jackson, Gordon Lee Jackson. Để tránh lẫn lộn, gia đ́nh dùng tên đệm để xưng hô.

c. Thứ ba, lấy tên bố rồi thêm tiếp vĩ ngữ làm tên đệm. Nguyên tắc tổng quát ở Nga là con trai dùng tiếp vĩ ngữ ICH hay OVICH, con gái dùng tiếp vĩ ngữ VA hay OVA. Ví dụ đọc tên vị cựu Tổng Bí Thư Đảng Cộng Sản Liên Sô Mikhail Sergeyevich Gorbachev (1931- ), ta biết ông này có bố tên là Sergeyev v́ từ Sergeyevich có nghĩa là con của ông Sergeyev. Ví dụ khác: Đọc tên ông Pyotr Ivanovich Krylov, ta biết ông này là con ông Ivan v́ có tiếp vĩ ngữ Ovich. Nếu ông Ivan có con gái, tên là Nadia chẳng hạn, tên đầy đủ của cô sẽ là Nadia Ivanova Krylova. Đọc tên này, ta biết cô Nadia là con ông Ivan v́ có tiếp vĩ ngữ Ova.

d. Thứ tư, lấy tên bố rồi thêm tiếp đầu ngữ làm tên đệm. Ở Hoa Kỳ và Ái Nhĩ Lan, người ta thêm tiếp đầu ngữ Fitz vào tên chính của người cha, làm thành tên đệm của người con. Đọc tên Tổng Thống Hoa Kỳ John Fitzgerald Kennedy, ta biết ông này có bố tên là Gerald v́ Fitzgerald có nghĩa là con ông Gerald. Từ ngữ Fitz do tiếng Fis trong Pháp ngữ, có nghĩa là con. Nói chung, người tây phương cũng áp dụng phương pháp đặt tên để biểu lộ liên hệ huyết thống gia đ́nh.

Ngày nay, theo Elsdon C. Smith, hơn 80% dân số Anh Mỹ có tên đệm và những người không có tên đệm lại bị rắc rối đối với các máy điện toán của các cơ sở tín dụng. Các nhà tính danh học Mỹ thường nêu trường hợp Tổng Thống Hoa Kỳ Harry Truman (1884-1972) làm thí dụ. Ông này không có tên đệm, nhưng công chúng cứ thắc mắc sao Tổng Thống không có tên đệm. Biết vậy, Tổng Thống Truman đă thêm mẫu tự S vào giữa, thành ra là Harry S Truman. Theo nguyên tắc, chữ viết tắt S phải có dấu chấm. Đàng này Tổng Thống không chấm và ông giải thích mẫu tự S là do chữ STAND FOR, nghĩa là thay thế, không phải là tên đệm, nên không có dấu chấm. Trong quân ngũ Hoa Kỳ, nhiều binh sĩ không có tên đệm, nên máy điện toán bộ quốc pḥng quy định chữ N.M.I. nghĩa là No Middle Initial, dịch ra việt ngữ là không có tên đệm viết tắt.

3. Đặt Tên Đệm Để Có Âm Thanh Hài Ḥa: Khi đặt tên cho con, cha mẹ tây phương rất chú ư đến vấn đề làm sao chọn được tên mà khi đọc lên tạo được âm thanh hài ḥa. Người Hoa Kỳ thường nói: It sounds nice and goes well with the surname nghĩa là tên này nghe hay, phù hợp với tên họ. Theo các nhà tính danh học Hoa Kỳ, nếu ba loại tên: tên chính, tên đệm, tên họ, tên nào cũng chỉ có một âm tiết, th́ khi đọc lên sẽ có âm thanh cụt ngủn, khó nghe. Ví dụ James John Jones (công thức về âm tiết là 1+1+1) Để tránh t́nh trạng này, nhà tính danh học Mỹ Elsdon C. Smith đề nghị như sau:

a. Với tên họ có 1 âm tiết: Tên đệm và tên chính phải có hai âm tiết, theo công thức 2+2+1. Ví dụ Edgar Allen Poe, hoặc 3+2+1. Ví dụ Benjamin Howard Taft, hoặc 3+3+1 như Christopher Robertson Smith.

b. Với tên họ có 2 âm tiết: Tên đệm và tên chính phải theo công thức 3+1+2 như Jacqueline Lee Hunter, hoặc 2+3+2 như Terry Augustus Lindberg, hoặc 1+2+2 như John Jacob Astor.

c. Với tên họ có 3 âm tiết: Tên đệm và tên chính phải theo công thức 2+1+3 như Jason Gibbs McAdoo, hoặc 1+2+3 như John Baldwin Emerson, hoặc 2+2+3 như Kevin Megan Carpenter.

TIẾT C: NHIỆM VỤ TÊN ĐỆM NGƯỜI VIỆT NAM

Đối với người Việt Nam, tên đệm rất quan trọng, nếu đă có, không thể bỏ đi, v́ có phần vụ rơ ràng. Phân tích ư hướng dân gian, ta thấy tên đệm có sáu nhiệm vụ sau đây: (1) Tên đệm để phân biệt nam nữ, (2) Tên đệm để phân biệt gia tộc, (3) Tên đệm để phân biệt nội ngoại, (4)Tên đệm để phân biệt thứ cấp, (5) Tên đệm phối hợp với tên họ hay tên chính để có ư nghĩa rộng hơn, (6) Tên đệm thành tên chính.

1. Tên Đệm Để Phân Biệt Nam Hay Nữ: Tại tây phương, đọc tên một cá nhân, người ta thường biết được đó là đàn ông hay đàn bà v́ tên chính đàn bà khác đàn ông. Ngược lại, tại Việt Nam, gặp tên Minh chẳng hạn, ta không thể quyết đoán đây là đàn ông hay đàn bà. Do vậy, dân gian đă có kiểu thức đặt tên đệm để phân biệt nam hay nữ.

a. Tên đệm trong tên nữ giới: Khi Hán tự c̣n phổ thông người ta thường chọn ba tiếng sau đây để làm tên đệm cho nữ giới. Đó là Thị, Diệu, Nữ. Xét về cấu trúc Hán tự, hai chữ Diệu và Nữ đều có chung một ngữ căn là chữ Nữ. Riêng chữ Diệu có nghĩa là đẹp, khéo léo, một đức tính vốn có của nữ giới. Trong ba chữ đó, chữ Thị được sử dụng rất sớm và có nghĩa là ḍng họ. Sử liệu cho thấy bà Triệu có tên chính là Triệu Thị Trinh. Nghiên cứu về chữ Thị, ta thấy dân gian có hai khuynh hướng: Khuynh hướng chữ Hán và khuynh hướng chữ Nôm.

Khuynh hướng chữ Hán tức theo tinh thần Trung Quốc, chữ Thị đi với tên họ. Ví dụ Cù Thị, người đàn bà lịch sử thời Lữ Gia, không phải tên chính là Thị mà chỉ có nghĩa là người đàn bà họ Cù. Trong các cổ thư như Đại Việt Sử Kư Toàn Thư, tên đàn bà được ghi là Trần Thị, Đặng Thị. Ngoài dân gian, trên các bia mộ, người ta thấy: Trần Thị Chi Mộ nghĩa là mộ phần người đàn bà họ Trần.

Khuynh hướng chữ Nôm, tức theo tinh thần Việt Nam, chữ Thị đi với tên chính. Nhân vật Thị Mầu, Thị Kính trong truyện Quan Âm Thị Kính là một bằng chứng cụ thể. Để chỉ người đàn bà nói chung, dân gian thường nói Thị Mẹt.

Tại Huế, các gia đ́nh nho gia, học thức thường dùng chữ Diệu hay Nữ thay cho chữ Thị. Ngày nay, nhiều gia đ́nh và chính bản thân người phụ nữ coi chữ Thị không được ra vẻ lắm, cho là quê mùa, nên càng ngày càng có khuynh hướng bỏ hẳn chữ Thị trong tên đàn bà. Điều này chẳng qua là vấn đề tâm lư xă hội, v́ bản chất chữ Thị chẳng có ǵ xấu, chỉ v́ tên người nào cũng đệm chữ Thị, thành ra chữ Thị bị mất giá. Một câu hỏi được đặt ra là tại sao tên đàn bà Trung Quốc không đệm chữ Thị, mà tên đàn bà Việt Nam lại luôn luôn đệm chữ Thị?

Hiện nay chúng tôi chưa có sử liệu nào để trả lời câu hỏi này. Tuy nhiên, theo sự suy luận, có lẽ tên người đàn bà Trung Quốc không đệm chữ Thị v́ trong tiếng Hán thời Tam Đại, Thị để chỉ đàn ông và Tính để chỉ đàn bà. Và khi người con gái đi lấy chồng, theo phong tục Trung Quốc, bà sẽ lấy họ chồng rồi đệm chữ Thị, và được gọi là Trần Thị phu nhân, Vương Thị phu nhân, nghĩa là bà vợ ông họ Trần, bà vợ ông họ Vương. Chữ Thị trong trường hợp này có nghĩa là họ. Đối với Việt Nam, khi ư nghĩa chữ Thị đă bị biến đổi, trở thành tiếng chỉ đàn bà, th́ các cụ dùng chữ này làm tên đệm cho nữ giới để phân biệt nam nữ.

b.Tên đệm trong tên đàn ông:Trong tên đàn ông Việt Nam, từ ngữ nào cũng có thể là tên đệm, nhưng nhất định không bao giờ là chữ Thị. Tiếng thông dụng nhất là tiếng Văn. Trong khi tiếng Văn là tiếng độc quyền của đàn ông Việt Nam th́ tại Trung Quốc, tiếng Văn cũng được dùng trong tên đàn bà. Nàng Trác Văn Quân, v́ nghe nhạc khúc Phụng Cầu Hoàng mà trở thành người t́nh của Tư Mă Tương Như, là một ví dụ điển h́nh. Tại sao từ ngữ Văn lại thông dụng như vậy? Muốn giải thích vấn đề này, ta phải trở về với quan niệm phân chia giai cấp trong xă hội cổ truyền Việt Nam.

Bốn giai cấp trong xă hội cổ truyền là sĩ, nông, công, thương. Giai cấp sĩ là giai cấp cao nhất, được kính trọng hơn cả. Điều kiện cần thiết để bước vào giai cấp này là văn, hiểu một cách rộng răi là phải có văn chương chữ nghĩa. Do điều kiện này mà các bậc cha mẹ mong ước cho con có văn chương chữ nghĩa để bước vào giai cấp trên. Ước vọng này thể hiện qua việc đặt chữ văn trong thành phần tên của con. Chữ văn trở nên thông dụng đến độ làm ư nghĩa của nó trở nên mập mờ và lạm dụng. Ví dụ một ông Trần Văn Hóa, Nguyễn Văn Minh nào đó lại không biết đọc, biết viết. Đó là lời phê b́nh của nhiều nhà tính danh học Việt Nam. Phê b́nh như vậy là đứng trên quan điểm của người đă hiểu ư nghĩa chữ văn để lư luận. Thực ra, khi xưa, đa số dân gian bị thất học, không hiểu ư nghĩa chữ Văn, mà chỉ biết đại khái chữ Văn chỉ đàn ông, chữ Thị chỉ đàn bà. Sự hiểu biết này được thể hiện qua tập tục nói tên. Theo tập tục này, khi người Việt muốn nói tên kép của một người nào đó, mà không biết tên đệm, chỉ biết tên chính, họ áp dụng ngay nguyên tắc đặt chữ Văn vào trước tên chính như Văn Đức, Văn Hiệp. Người nghe mặc nhiên hiểu đó là ông Đức, ông Hiệp. Cũng như nói Thị Mẹt, người nghe mặc nhiên hiểu đó là đàn bà.

Điều đáng chú ư là ngày xưa đa số người ít học ở nông thôn hay giới quân nhân thường dùng chữ Văn làm tên đệm. Bằng chứng là dưới thời Nguyễn Phúc Ánh đánh Tây Sơn, trong danh sách 401 binh sĩ được thờ tại đền Tinh Trung ở phủ Diên Khánh, chúng tôi đếm được 384 người có tên đệm Văn, 17 người không đệm chữ văn. Như vậy tỷ lệ đàn ông thời xưa đệm chữ văn chiếm khoảng 96%.

Trái lại, đại đa số giới trí thức Việt Nam, xưa cũng như nay, đều không dùng chữ văn. Bằng chứng là đọc các cổ thư như Đại Việt Sử Kư Toàn Thư, An Nam Chí Lược, Đại Nam Liệt Truyện, ta thấy hầu hết các nhân vật trong các sách trên là các văn quan, đều không dùng tiếng văn làm tên đệm. Năm 2002, chúng tôi phân tích một danh sách 415 linh mục trên mạng lưới điện toán ở địa chỉ www.Vietcatholic . net. Kết quả cho thấy có 22 trên tổng số 415 vị là dùng tiếng Văn làm tên đệm. Nếu định lượng hóa, tỷ lệ người dùng chữ văn trong giới trí thức hiện nay là 5%.

2. Tên Đệm Để Phân Biệt Gia Tộc Hay Chi Họ: Như đă tŕnh bày trong chương trước, Việt Nam có khoảng 10 họ là phổ thông nhất. Do đó, không phải bất cứ ai cùng họ cũng đều từ một ông tổ hay một gia tộc mà ra. Để tránh ngộ nhận, nhiều gia tộc dùng tên đệm để phân biệt gia tộc hoặc chi họ. Theo tác giả Cuisinier, người Mường tích cực áp dụng tập tục này. Thí dụ người Mường có các họ Cao Viết, Đinh Công, Đinh Thế, Đinh Văn, Quách Ngay, Quách Đ́nh ở Ḥa B́nh, họ Phạm Bá, Phạm Văn ở Thanh Hóa.

Theo bản tin :”Làng Không Mang Họ” trong báo Gia Đ́nh và Xă Hội”đăng trên www.vnn.vn, xă Liên Khê huyện Khoái Châu tỉnh Hưng Yên có 13 ḍng họ trong đó 9 ḍng mang họ Đỗ. Để phân biệt, họ dùng tên đệm: Đỗ Trảng, Đỗ Bá, Đỗ Trọng, Đỗ Thúc, Đỗ Quang v.v..Các vị trưởng tộc cho rằng Đỗ không phải là tên họ mà các tên đệm : Trảng, Trọng, Bá, Thúc, Quang v.v… mới là tên họ. Từ đó các cụ xin đổi tên họ mới là Trảng, Trọng, Bá. Thúc.

Theo thiển ư, đây là chuyện hiểu lầm v́ như chúng tôi đă nói ở phần tên họ ghép, khi thành lập làng, thường chỉ có một hai ḍng họ. Đến khi gia tộc phát triển, các cụ dùng tên đệm để phân biệt chi phái. Bằng chứng là các tên đệm: Bá, Trọng, Thúc là các từ chỉ thứ cấp trong thân tộc. Các cụ cũng nại ra lư do con gái làng này có tục lệ lấy tên đệm làm họ, như Trảng Thị Hoa, Trọng Thị Nhung v.v…Từ đó các cụ cho rằng từ Trảng mới là tên họ. Đây lại là chuyện hiểu lầm v́ xưa có quan niệm nữ nhân ngoại tộc. Tổ tiên làng Liên Khê xưa không để nữ nhân mang ḍng họ Đỗ mà lấy tên đệm làm tên họ “tạm” với ư nghĩa người đàn bà này thuộc chi phái Trảng, Trọng, Thúc, Bá của ḍng họ Đỗ.

Đối với khối người kinh, nhiều gia đ́nh cũng áp dụng nguyên tắc này. Bằng chứng là nhiều gia tộc khi viết gia phả, đều ghi cả tên họ và tên đệm như gia phả họ Trần Đ́nh, gia phả họ Bùi Thái, Hoàng Ngọc. Vấn đề này đă được chúng tôi đă tŕnh bày kỹ ở chương hai, Tiết mục E: Tên Họ Ghép Để Biểu Lộ Ư Niệm Huyết Thống.

3. Tên Đệm Để Phân Biệt Liên Hệ Nội Ngoại: Trong xă hội cổ truyền Việt Nam, người phụ nữ bị coi là “nữ nhân ngoại tộc”, nghĩa là “con gái là con người ta” nên không được đặt tên đệm giống tên của các anh em trai ruột thịt. Ví dụ điển h́nh là gia đ́nh của ban hợp ca Thăng Long, nổi tiếng vào những thập niên 60, 70. Chỉ tên con trai được đệm chữ Đ́nh, tên con gái đệm chữ Thị. Thân phụ ca sĩ Mai Hương là cụ Phạm Đ́nh Sỹ, sau đó, đến cụ Phạm Đ́nh Chương, tức Hoài Bắc, rồi cụ Phạm Đ́nh Viêm, tức Hoài Trung. C̣n hai chị em gia đ́nh này là các cụ bà Phạm Thị Thái Hằng, vợ của nhạc sĩ Phạm Duy, cụ bà Phạm Thị Thái Thanh, tức ca sĩ Thái Thanh không được đệm chữ Đ́nh.


Nguyễn Long Thao