TIẾT F: NGHỆ DANH.
1. Định Nghĩa Nghệ Danh:
Nghệ danh là danh hiệu của giới
nghệ sĩ trong các ngành ca nhạc kịch,
hội họa, điêu khắc gia. Theo dơi
sự phát triển của ngành ca nhạc
kịch qua ḍng lịch sử, ta thấy
nghệ danh có h́nh thức và nội dung khác
nhau qua mỗi giai đoạn lịch sử.
2. Nghệ Danh Dưới Ảnh Hưởng
Hán Nho: Khi xă hội Việt Nam chịu
ảnh hưởng Nho Giáo, chỉ giới trí
thức mới lấy tên tự, tên hiệu.
C̣n nghiệp cầm ca bị coi là “xướng
ca vô loại” nên không ai đặt nghệ
danh cho ḿnh. Nhưng, đọc cổ sử
ta thấy giới nghệ sĩ lấy
nghệ danh như sau:
a. Lấy tên họ làm nghệ danh:
Nghệ thuật sân khấu có mặt tại
Việt Nam từ thời Lư. Tuy vậy,
lịch sử không cho biết ai là người
nổi tiếng nhất và có nghệ danh là ǵ.
Tuy nhiên, có một trường hợp
được Đại Việt Sử Kư
Tiền Biên ghi lại như sau:
Năm Ất Sửu (1025) Lư Thái Tổ
định người đứng đầu
các con hát là Quản Giáp. Khi ấy có con hát
họ Đào giỏi nghề hát nổi
tiếng, thường được ban thưởng.
Người bấy giờ hâm mộ tiếng
tăm của người họ Đào
ấy cho nên phàm con hát đều gọi cô
Đào.
b. Lấy tên chính làm nghệ danh. Khi xưa,
tại nông thôn Việt Nam, ngoài hội hè
đ́nh đám, c̣n có những buổi hát
tuồng, hát chèo, hát ví. Diễn viên trong các
phường hát này là những người
trong làng. Họ không có nghệ danh nên dân chúng
gọi họ bằng tên chính. Ví dụ
ở Nam Đàn, Nghệ Tĩnh, có những
đêm hát ví phường vải của các
bà Thơn, Chánh Diên, Dũng, o Lượng và
các tay lỗi lạc như Phan Bội Châu, Vương
Thúc Qúi, Tú Sách, Tú C̣, Cử Quyền.
3. Nghệ Danh Dưới Ảnh Hưởng
Văn Hóa Tây Phương: Vào đầu
thế kỷ 20, khi văn hóa tây phương
bắt đầu ảnh hưởng đến
tâm lư người Việt th́ quan niệm xướng
ca vô loại thời Nho học bớt
dần. Đến khoảng giữa thế
kỷ 20, phong trào tân cổ nhạc phát
triển mạnh nhờ những chương
tŕnh phát thanh, đại nhạc hội, pḥng
trà. Số nghệ sĩ tăng lên và họ
cũng bắt chước nhà văn, nhà thơ,
lấy cho ḿnh một nghệ danh để
che dấu tên thật. Về nghệ danh ta có
thể phân hai loại:
a. Nghệ danh trong ngành cải lương: Khuynh
hướng rất phổ quát là các nghệ
sĩ trong ngành cải lương đă
lấy những chữ rất mộc mạc
để đặt nghệ danh cho ḿnh. Xin nêu
ra một số ví dụ: Sáu Lầu,Tám Chí,
Chín Đ́nh, Cô Năm Phỉ, Phùng Há, Ba Vân,
Sáu Hẩu, Tư Đàn C̣, Ngọc Giàu,
Ngọc Nuôi, Út Trà Ôn, Út Bạch Lan, Thanh Kim
Huê, Thanh Thanh Hoa v.v…Nguyên nhân sự mộc
mạc này là v́ ngành cải lương
xuất phát từ đồng quê miền Nam
và theo phong tục ở đây, dân chúng thường
gọi một người nào đó bằng
tên thứ tự trong gia đ́nh và tên chính.
Đến khoảng thập niên 1950-1960,
tại thành thị xuất hiện nhiều gánh
hát cải lương, lúc đó mới
thấy những nghệ danh có ư nghĩa và bóng
bảy.Ví dụ: Hùng Cường, Bạch
Tuyết, Thanh Nga.
b. Nghệ danh trong ngành tân nhạc và
kịch nghệ: Vào khoảng năm 1930,
một cuộc cách mạng về văn
học và nghệ thuật xảy ra tại
Việt Nam. Về âm nhạc, loại nhạc
ngũ cung mất dần vị thế và thay
vào đó là âm nhạc chịu ảnh hưởng
tây phương. Trong loại âm nhạc
mới này, các tác giả viết nhạc không
đặt nghệ danh cho ḿnh như các văn
thi sĩ đương thời, trừ
một số nhỏ như Văn Cao, Văn
Giảng, Văn Chung, Đan Thọ, Tuấn
Khanh v.v…C̣n tuyệt đại đa số
bắt chước nhạc sĩ tây phương
lấy tên thật làm nghệ danh. Ví dụ:
Tư Chơi Huỳnh Hữu Trung, Năm Châu
Nguyễn Thành Châu, Nguyễn Văn Tuyên, Doăn
Mẫn, Lê Yên, Nguyễn Xuân Khoát, Bùi Công
Kỳ, Đoàn Chuẩn, Dương Thiệu
Tước, Đặng Thế Phong, Nguyễn
Văn Tư, Hoàng Quư, Nguyễn Hiền,
Trịnh Công Sơn, Từ Công Phụng,
Trần Thiện Thanh v.v…
Ngược lại, những người hát
các nhạc phẩm này là các ca sĩ lại
chọn cho ḿnh một nghệ danh. Và nếu
nghiên cứu nghệ danh từ những năm
1930 đến giờ, ta thấy có ba khuynh hướng
rơ rệt.
Khuynh hướng thứ nhất: Chọn
nghệ danh từ những từ ngữ có ư
nghĩa hoa mỹ, đọc lên có âm thanh hài
ḥa. Đa số các ca sĩ chọn loại
nghệ danh này như: Quỳnh Giao, Ái Vân, Mai
Hương, Khánh Ly, Hoài Bắc, Thanh Lan, Phương
Dung, Anh Ngọc, Nhật Trường v.v…
Khuynh hướng thứ hai: Chọn nghệ
danh từ những từ ngữ gợi lên h́nh
ảnh, âm thanh trong trẻo, cao vút của các
loại chim quư như Kim Tước, Sơn
Ca, Hoàng Oanh, Thái Thanh, Hà Thanh, Thanh Tuyền,
Họa Mi v.v…
Khuynh hướng thứ ba: Chọn một tên
Pháp hay Mỹ làm nghệ danh. Khi làn sóng âm
nhạc Pháp Mỹ tràn ngập Việt Nam vào
những năm cuối thập niên 1960, người
ta thấy ngay một hiện tượng là
một số ca sĩ Việt Nam nhận tên
ngoại quốc làm nghệ danh. Có ba lư do
để giải thích hiện tượng này:
Thứ nhất, có thể họ là người
có quốc tịch ngoại quốc như trường
hợp Julie, Jo Marcel. Thứ hai, v́ muốn
bắt chước tiếng hát, cách tŕnh
diễn của ca sĩ ngoại quốc. Đó
là trường hợp Elvis Phương
muốn bắt chước Elvis Presley của
Mỹ. Thứ ba, v́ muốn có tên lạ
để thu hút khán giả, nhất là tâm
trạng giới trẻ đang có khuynh hướng
thích văn hóa tây phương.
Ngày nay, tại hải ngoại, nhiều ca sĩ
trẻ đă chọn hai từ một
Việt, một Mỹ làm nghệ danh Ví
dụ: Don Hồ, Tommy Ngô, Linda Trang Đài,
Cathy Huệ v.v…Nghệ danh mới xuất
hiện khoảng hơn nửa thế kỷ,
nhưng đă biến hóa rất đa
dạng. Hiện nay, một khuynh hướng
đă thấy xuất hiện là các ca sĩ
trẻ thích chọn cho ḿnh nghệ danh đọc
lên nghe “kêu” hơn là có ư nghĩa.
Ngày mai: Thương Hiệu |