|
Thử
nhận diện con người Việt Nam
Gs. Nguyễn Thái Hợp, O.P.
Một trong những câu hỏi nền tảng
được nhiều người nêu lên và
hầu như chưa ai t́m ra lời giải
thỏa đáng : Tại sao một dân tộc có
truyền thống đoàn kết chống
ngoại xâm lại rất khó hợp tác với
nhau để thực hiện mục tiêu dân giàu
nước mạnh ? Tại sao một dân tộc
đă anh dũng đánh bại tất cả
những mưu đồ xâm lược đến
từ bên ngoài, nhưng xem ra lại quá nhẫn
nhục trong thời b́nh và hơn nữa bước
đi quá khó nhọc trên con đường công
nghiệp hóa ? Tính cách nào mang lại cho dân
tộc Việt Nam một sức sống mănh
liệt đến thế, để vẫn
tồn tại, vẫn chiến đấu và
chiến thắng qua mọi cuộc xâm lăng
bạo tàn ?... Nhưng tính cách nào đă có, đang
có “trong ta”, để trở thành một
lực cản, một sự níu kéo, làm ta bước
khó khăn hơn trên con đường hiện
đại hóa và công nghiệp hóa đất nước
? Làm sao tạo ra trong xă hội một lối tư
duy sáng tạo, một kiểu nghĩ nhất quán,
dài hơi, chứ không chắp vá, “ăn xổi
ở th́” ?
Trong “Cơ hội của Thánh Gióng”, tiến sĩ
Vũ Minh Khương cũng thẳng thắn nói
lên nỗi bức xúc của ḿnh trước
hiện t́nh của đất nước. Trả
lời câu hỏi của phóng viên báo Tuổi
Trẻ về nguyên nhân của những tiêu
cực trong xă hội ta và đâu là Thánh Gióng hôm
nay, ông nói : “Theo tôi, trước hết chúng ta
phải nh́n thẳng vào ḿnh và phải biết
xấu hổ, nếu cần. Ta hăy tự hỏi
: tại sao một dân tộc giàu nhân văn, yêu
cái đẹp như vậy mà tỉ lệ người
bị HIV, nghiện ma túy lại cao hơn Trung
Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản... ? Tại sao
người Việt vốn trọng tín nghĩa,
khẳng khái, chân chính, thậm chí sẵn sàng
chết v́ ḷng trung nghĩa mà nay lại bị
xếp hạng nạn tham nhũng cao nhất nh́
Đông Á ? Giới trẻ ngày nay sao không có
Trần Quốc Toản, Lê Hồng Phong, Kim Đồng...
? Tại sao trong các cán bộ nhà nước không
c̣n ai nói : bệ hạ muốn hàng xin chém đầu
thần trước ?
Chúng ta từng làm nên Điện Biên Phủ, mùa
xuân đại thắng 1975, vậy 30 năm qua ḥa
b́nh độc lập ta làm được ǵ
để không hổ thẹn với cha ông ? Chúng
ta hoan hỉ về xuất khẩu gạo hàng
đầu thế giới là đúng. Nhưng hăy
nhớ rằng cha ông ta đă từng đạt
được danh hiệu này từ hàng thế
kỷ trước. Trong t́nh huống nào đó ta
phải chấp nhận tạm thời nhưng
đừng quá vui về các chỉ số xuất
khẩu lao động. Hăy luôn canh cánh về
thể diện quốc gia, tự hào dân
tộc”[2].
Những ḍng dưới đây không phải là
những câu trả lời thoả đáng cho
những câu hỏi hóc búa ở trên. Đây
chỉ là đôi nét phác thảo để
nhận diện con người Việt Nam qua
những giai đoạn thăng trầm của
lịch sử, với hy vọng hiểu thêm đôi
chút về con người Việt Nam hôm nay.
1- Mẫu người của Nho giáo
Suốt dọc nhiều thế kỷ dưới
chế độ quân chủ theo ư thức hệ
Nho giáo, quyền lănh đạo đất nước
được đặt vào tay vua, chúa, quan
quyền. Ngoài giới thượng lưu đó,xă
hội Việt Nam ngày xưa được chia thành
bốn giai tầng : sĩ, nông, công, thương.
Trên thực tế, hai nhân vật chính của
một nước nông nghiệp theo ư thức
hệ Nho giáo vẫn là nhà Nho và nhà nông. Thật
vậy, thủ công nghệ và thương
nghiệp chưa có vai tṛ quan trọng trong xă
hội, hơn nữa c̣n bị đánh giá
thấp, nhất là đối với người
buôn bán.
Giới sĩ phu, trái lại, được
triều đ́nh ưu đăi và nhân dân kính
trọng. Tuy họ chưa thuộc thành phần
quan lại, nên chưa được hưởng
bổng lộc vua ban, nhưng giới sĩ phu cũng
được Triều đ́nh miễn tô
thuế và miễn lao dịch. Trong làng xă, nhà Nho
có một thế lực tinh thần và đóng
một vai tṛ đặc biệt. Họ sống
dựa vào danh vị và vào uy tín, được
dân làng và họ hàng vị nể, trọng
vọng, biếu xén, giúp đỡ.
Nhà nông chiếm đại đa số dân chúng và
là lực lượng sản xuất nền
tảng của quốc gia. V́ ruộng đất
ít và phương tiện canh tác thô sơ, nên nông
dân Việt Nam ngày xưa rất cơ cực.
Ngoại trừ một thiểu số ít ỏi
thuộc thành phần địa chủ, phú nông và
trung nông, c̣n lại phần đông nông dân
Việt Nam vừa thất học, vừa thiếu
ăn, thiếu mặc, nhà cửa rách nát. Nhưng
chính họ lại là lực lượng sản
xuất và đóng góp kinh tế chủ yếu cho
Nhà nước. Hàng năm họ phải nộp
thuế bằng thóc, bằng tiền và bằng
cả lao dịch (đi phu, đi xâu).
V́ điều kiện cụ thể của sinh
hoạt nông nghiệp lệ thuộc rất
nhiều vào thiên nhiên, nhà nông Việt Nam gắn
bó mật thiết với thiên nhiên và luôn hướng
tới nếp sống hài ḥa, nhưng có phần
thiên về âm tính : lấy tĩnh làm gốc, cái
vô h́nh trên cái hữu h́nh, t́nh nặng hơn lư,
xu thế ổn định nổi trội hơn
xu thế phát triển. Khuynh hướng hài ḥa
nặng âm tính này biểu hiện rơ rệt qua
lối sống t́nh cảm, mềm dẻo, kín
đáo, tế nhị, linh hoạt, du di, xuề x̣a,
tương đối, “chín bỏ làm mười”.
Sinh hoạt nông nghiệp, đặc biệt
nghề trồng lúa nước, với đặc
tính thời vụ cao, đ̣i hỏi phải
dựa vào nhau để sống. Chính v́ vậy,
tính cộng đồng, tinh thần tương thân
tương trợ và tổ chức phường
hội, giáp thôn, làng xă luôn được đặt
nổi. Ngoài ra mỗi gia đ́nh riêng lẻ cũng
không đủ khả năng để đối
phó một cách hữu hiệu với những
bất trắc của môi trường tự nhiên,
như thiên tai hay lụt lội, và điều
kiện xă hội, như nạn trộm cướp
chẳng hạn. Do đó, không phải ngẫu nhiên
mà ở Việt Nam tổ chức nông thôn theo
huyết thống thường đặt căn
bản trên yếu tố gia tộc. Các khái
niệm truyền thống như “cửu
tộc” (chín đời), “tọc trưởng”
(trưởng họ); “từ đường”
(nhà thờ họ), “gia phả”; “ruộng
kị”; “giỗ họ”; “giỗ tổ”...
đều liên quan đến gia tộc chứ không
phải gia đ́nh[3].
Ca dao Việt Nam diễn tả thật sắc nét
vai tṛ của gia tộc, với khả năng yêu
thương, cưu mang và đùm bọc nhau :
“Con người có tổ, có tông. Như cây có
cội, như sông có nguồn”. Hay “con có
mẹ như măng ấp bẹ”. Trái lại,
“con không cha như nhà không nóc”. Trong mọi trường
hợp, chắc chắn “máu loăng c̣n hơn nước
lă”.
Trong hệ thống đại gia tộc của
Việt Nam, “chú là cha” và “anh em như thể
tay chân, rách lành đùm bọc dở hay đỡ
đần”. Nhờ vậy, dù có sa cơ
thất thế thế nào đi chăng nữa,
con người cũng không cảm thấy bơ vơ
côi cút, v́ “sẩy cha c̣n chú, sẩy mẹ bú d́”.
Gia tộc không những hỗ trợ về
vật chất, mà c̣n là điểm tựa
về tinh thần và xă hội. Người xưa
thường nói : “Nó lú nhưng chú nó khôn”, và
vẫn đinh ninh rằng “một người làm
quan cả họ được nhờ”.
Theo truyền thống, tổ chức gia tộc là
quan hệ theo hàng dọc, có tôn ti trật tự,
có cấp bậc trên dưới, với vai tṛ rơ
rệt của tộc trưởng và gia trưởng.
Mệnh lệnh và kiến thức thường cũng
được truyền đạt theo tương
quan chiều dọc từ trên xuống. Ngoài
họ nội, c̣n có họ ngoại, họ đàng
vợ, đàng mẹ, đàng bà. Mỗi người
đều nằm trong một mạng lưới
rộng lớn và phức tạp về họ hàng.
Giữa những người thân thuộc, nội
cũng như ngoại, không những có liên
hệ t́nh cảm, mà c̣n có trách nhiệm liên
đới với nhau.
Nếu qui tắc xử thế của Tây phương
là luật pháp, khách quan, rơ rệt nhưng
cứng ngắc, th́ qui tắc xử sự ở
Việt Nam ngày xưa là tục lệ. Truyền
thống thiên về t́nh cảm của người
dân Việt đă làm “mềm đi” tính
cứng ngắc của luật pháp bằng
những tục lệ của làng xă. Vua được
coi là Con Trời (Thiên Tử), nắm trọn
quyền sinh sát trong tay. Nhưng trong thực
tại cuộc sống, có những lúc “phép vua
thua lệ làng”. Nhiều làng giống như
một ḥn đảo biệt lập, chung quanh có
luỹ tre và ao hồ bao bọc. Sau luỹ tre và
cổng làng là một cuộc sống riêng
biệt và đóng kín đến độ
nhiều khi mỗi làng trở thành một thế
giới riêng, với hương ước,
tục lệ, nếp sống tinh thần và ngay
cả điều kiện vật chất[4].
Nho giáo chủ trương dùng đức để
trị dân, nên phải giao phó công việc trị
nước trong tay những người có đức,
có tài. Lớp người này, nhà Nho gọi là quân
tử. Theo nguyên nghĩa, chữ quân tử lúc
đầu được sử dụng để
diễn tả địa vị của tầng
lớp sĩ phu, vua quan, đối lập với
đám tiểu nhân là tầng lớp nông dân và
thợ thuyền. V́ thế, quân tử th́ tốt
đẹp, cao quư, c̣n tiểu nhân chỉ là
bọn “phàm phu tục tử, thất học,
đê tiện, thấp hèn, lỗ mạng, vô
lễ, nhỏ nhen, đáng khinh bỉ. Thành ra,
sự so sánh rơ rệt trắng đen : quân
tử thượng đạt, tiểu nhân hạ
đạt (quân tử đạt về cái lư cao
minh, tiểu nhân đạt về cái lư đê
tiện); quân tử cầu chư kỷ, tiểu
nhân cầu chư nhân (quân tử cầu ở ḿnh,
tiểu nhân cầu ở người); quân tử
hoà nhi bất đồng, tiểu nhân đồng
nhi bất hoà.
Bên cạnh nghĩa nguyên thuỷ đó, c̣n hai ư
nghĩa chính nữa, theo đó “quân tử ”
thuần tuư ám chỉ tư cách, hoặc vừa
địa vị vừa tư cách. Do đó, theo
Khổng Tử, quân tử phải là người
có đức nhân, hiểu rơ điều nghĩa
(quân tử dụ ư nghĩa), giữ vững khí
tiết trong hoàn cảnh bần cùng (quân tử
cố cùng), trọng trung tín (quân tử… chủ
trung tín), thận trọng trong lời nói mà hăng
hái trong việc làm, biết th́ nói là biết, không
biết th́ chịu là không biết (tri chi vi tri
chi, bất tri vi bất tri, thị tri giă), quân
tử truy tầm đạo, không lo nghèo (quân
tử ưu đạo bất ưu bần).
Dưới ư thức hệ Nho giáo và trong môi trường
cụ thể “làng – họ”, con người
Việt Nam ngày xưa chỉ là một bộ
phận phụ thuộc và hoàn toàn lệ
thuộc vào tập thể. Cho đến cuối
thế kỷ XIX, tại Việt Nam chưa
xuất hiện mô h́nh nhân cách và nhân vị
của con người độc lập, tự
do, tự tại, với nếp sống và nếp
nghĩ riêng. Con người Việt Nam lúc ấy
là “con người của gia đ́nh, của
họ hàng, của làng nước. Bản thân
họ không có ǵ là của ḿnh : thân thể là
của cha mẹ cho, phận vị là của vua
cho, số mệnh là của Trời cho. Họ có
được cái ǵ cũng là nhờ ơn vua,
ơn Trời. Giá trị của nó được
tính theo chỗ nó là con ai, thuộc họ nào, làng
nào, có chức sắc ǵ, chứ không theo chỗ
bản thân nó là ǵ. Trong xă hội tất cả
là thần dân của vua, đều được
xếp vào bậc thang tước vị, rồi
lại chia thành hạng cha chú hay con cháu. Con người
phải nh́n xuống, nh́n lên trong cái thang trật
tự trên dưới đó, tự xác định
vị trí của ḿnh mà ăn mặc, nói năng,
đi đứng cho phải phép. Đó là con người
chức năng trong xă hội luân thường
chứ không có nhân cách độc lập”[5].
Thân phận người phụ nữ c̣n bi đát
và thê thảm hơn, v́ suốt đời bị
trói buộc bởi “Tam ṭng”[6] : khi c̣n sống
trong gia đ́nh phục tùng cha, khi lấy chồng
phục tùng chồng, chồng chết phải theo
con, nghĩa là không được bước thêm
bước nữa. Rút cục suốt đời
phải quên hạnh phúc riêng tư và chính
bản thân để tận tụy lo lắng, hy
sinh cho chồng con. Hầu như người
phụ nữ lúc ấy không thể nghĩ đến
chuyện phát triển bản thân, mà phải
tận lực lo cho giang sơn nhà chồng, để
rồi suốt đời luẩn quẩn bên cái
cối xay sau lũy tre làng.
Hẳn chúng ta chưa quên câu nói đă được
người xưa lặp đi lặp lại như
một điệp khúc, từ đời nọ
sang đời kia : “Nhất nam viết hữu,
thập nữ viết vô” (một con trai kể là
có, mười con gái vẫn kể là không). Lư do
sâu xa của việc đối xử phân
biệt này nằm ở quan niệm Khổng
Mạnh về việc nối dơi tông đường,
nghĩa là triệt để đặt lợi ích
của gia đ́nh và ḍng họ trên quyền
lợi của con người cụ thể. Do
đó trong ba tội bất hiếu[7], tội
lớn nhất vẫn là không có con trai để
nối dơi tông đường (bất hiếu
hữu tam, vô hậu vi đại).
Mẫu gia đ́nh xây dựng theo tư tưởng
Nho giáo là gia đ́nh nề nếp. Trong gia đ́nh
này, mỗi thành viên đều biết và cố
gắng thi hành cặn kẽ nhiệm vụ,
lễ tiết và vị thế của ḿnh. Giáo
dục giữ một vai tṛ rất quan trọng và
là trách vụ đặc biệt của người
gia trưởng. Nguyên tắc nam tôn nữ ti,
chồng chính vợ tuỳ, con cái phải có
hiếu, anh em hoà thuận… là nguyên tắc căn
bản. Riêng người con gái, phải gắn
liền với “tam ṭng tứ đức”. Nhưng
trong thực tế, ở những gia đ́nh
nề nếp không ai v́ nguyên tắc nam tôn nữ
ti mà khinh thường người phụ nữ,
trái lại chồng luôn tôn trọng và nể
vợ. Khổng giáo quy định đôi vợ
chồng phải “tương kính như tân”[8].
Và cha mẹ dù tin yêu con ruột ḿnh hơn,
vẫn giao việc nhà cho con dâu, nghĩa là tôn
trọng chức năng người chủ
phụ[9].
Sau khi phân tích hai mẫu người cổ điển,
giáo sư Trần Đ́nh Hượu c̣n thêm
một mẫu người thứ ba : “bên
cạnh mô h́nh người quân tử, ta có
một mô h́nh khác, cũng là người nông dân,
nhưng không phải nh́n theo cách nhà Nho, mà
tổng hợp từ thực tế cuộc
sống của nền kinh tế cống nạp và
tự túc, của đời sống gia đ́nh, làng,
họ, của trật tự trên dưới vua
quan với dân, cha chú với con em…”. Ông gọi
rất đúng “con người đó là
“tiểu kỉ”– cái tôi bé nhỏ – cam
chịu thân phận hèn mọn, bị động,
nhờ ân huệ, vun quén, xà xẻo, khôn khéo
lẩn tránh… Con người đó cũng có quan
niệm thế giới của họ, ư thức
về bản thân và lựa chọn cho ḿnh cả
lí tưởng, cả cách ứng xử, cách
đánh giá lợi hại, khôn dại…”[10].
Dĩ nhiên “con người tiểu kỉ” này có
lư do và vai tṛ của nó trong một số hoàn
cảnh nhất định nào đó. Phải chăng
đây là một h́nh thức tự vệ cần
thiết, giúp người nông dân bảo toàn sinh
mạng trong những giai đoạn lịch
sử khắc nghiệt ? Tuy nhiên, hôm nay khi đất
nước đang nỗ lực đi vào ḍng
chảy chung của nhân loại th́ “con người
tiểu kỉ” nói trên lại trở thành
lực cản. Năo trạng khép kín, luồn cúi,
khúm núm, an phận, phụ thuộc, manh mún,
tiểu xảo, ŕnh được một cơ
hội nào đó thuận tiện th́ t́m cách xoay
xở, vun quén chút ít cho cái tôi nhỏ bé đang
làm thui chột óc sáng tạo, tính khách quan, tinh
thần tự lập, tự chủ của mô h́nh
nhân cách mới.
2- Dưới thời Pháp thuộc
Vào cuối thế kỷ XIX, bộ máy cai trị
của thực dân Pháp đă ổn định. Năm
1887, nghĩa quân của Mai Xuân Thưởng ở
B́nh Định – Phú Yên bị Trần Bá
Lộc đánh tan tành. Tám năm sau 1895, Phan Đ́nh
Phùng bị bệnh lị và từ trần ở
Hà Tĩnh. Nghĩa quân của ông, số tuẫn
tiết, số chạy trốn ra nước ngoài,
số c̣n lại ra đầu thú để mong
được an thân, nhưng rồi cũng
bị người Pháp giết gần hết. Hai
năm sau, ở Băi Sậy tiếng súng đă im
bặt và Nguyễn Thiện Thuật phải
trốn sang Tàu. Cũng vào cuối năm đó,
Đề Thám tạm giảng ḥa với Pháp
để lập ấp ở gần Nhă Nam, nhưng
chỉ ít lâu sau ông bị Pháp bắt tại Nhă
Nam vào năm 1898.
Được rảnh tay với công việc b́nh
định thuộc địa, nhà cầm
quyền Pháp bắt đầu khai thác và phát
triển Việt Nam. Một mô h́nh xă hội
mới đang h́nh thành với những thay đổi
rơ rệt về cơ cấu chính trị, sinh
hoạt thương mại, tổ chức xă
hội, đường hướng giáo dục,
nếp sống, lối nghĩ. Đường
giao thông, cơ sở hành chánh, trường
học, bệnh viện và thị trấn thi nhau
mọc lên. Đô thị chiếm vai tṛ chủ
yếu trong mọi sinh hoạt chính trị, kinh
tế, văn hoá, xă hội. Văn hoá Tây phương
và nếp sống mới bắt đầu lan
toả, thâm nhập ngay cả đàng sau luỹ
tre làng và bên trong các gia đ́nh.
Ngay các nhà Nho yêu nước vào đầu
thế kỷ XX như Phan Bội Châu, nhất là
Phan Chu Trinh, Trần Cao Vân, Huỳnh Thúc Kháng… cũng
nh́n nhận sự thấp kém và bế tắc
của chế độ quân chủ chuyên chế
theo ư thức hệ Nho giáo, so với ưu
thế của văn minh Tây phương. Thấm
thía nỗi nhục của người dân mất
nước, họ kịch liệt lên án chế
độ phong kiến của ta và ca ngợi
chế độ dân chủ của người. Các
tư tưởng dân chủ của các tác
giả nước ngoài như J.J. Rousseau, Voltaire,
Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu được
đề cao.
Thay v́ giải pháp bạo động và vọng
ngoại[11], Phan Chu Trinh đề nghị phát
động phong trào duy tân nhằm mục đích
“chấn dân khí, khai dân trí, hậu dân sinh”. Ngược
với quan điểm của đại đa
số nhà cách mạng lúc đó muốn cầu
viện Nhật hay Tàu, Phan Chu Trinh chủ trương
“tự lực khai hóa”. Mấy ḍng ngắn
ngủi sau đây, viết tại Côn đảo,
bộc lộ tâm huyết và chí hướng
của ông : “Chưa có tư cách quốc dân
độc lập, dẫu có nhờ cậy
sức nước ngoài chỉ diễn cái tṛ “đổi
chủ làm đầy tớ lần thứ hai”,
không ích ǵ (...). Ḿnh không tự lập, ai cũng
là cừu địch của ḿnh, Triều Tiên,
Đài Loan, cái gương rơ ràng, người
Nhật chắc ǵ hơn người Pháp”[12].
Phong trào duy tân chủ trương Âu hoá theo mô h́nh
Nhật Bản và coi đó như con đường
cứu quốc khả thi nhất. Yêu cầu băi
bỏ lối học từ chương và con
đường khoa cử ngày xưa để
mở học đường theo kiểu phương
Tây. Họ đề nghị lập hiệu buôn và
phát triển thương nghiệp và khuyên
quốc dân theo lối sống mới : cắt tóc
ngắn, bỏ tục nhuộm răng, mặc Âu
phục…
Vào khỏang cuối thập niên 20, chế độ
thuộc địa đă khai sinh lớp người
mới theo Tây học và làm biến đổi xă
hội nho phong cũng như thôn ấp ngày xưa.
Trước hết, việc khai thác kinh tế
thuộc địa đă tạo ra một lớp
doanh nhân bản xứ. Họ chính là lớp phú hào
mới và hấp thụ nhanh chóng nếp sống
Tây phương. Việc phát triển kinh tế,
khuyếch trương thương mại và
mở mang hay kiến thiết đô thị
tạo thêm nhiều việc làm : công chức,
tiểu thương, công nhân, thủ công
nghệ… Đông đảo quần chúng rời
nông thôn để lên thành thị kiếm
sống. Với thời gian, họ trở thành dân
thành phố, với nếp sống, nếp nghĩ
và tâm lư khác hẳn với quần chúng tại nông
thôn. Đặc biệt, việc thay thế Hán
học cổ truyền bằng chương tŕnh
Pháp đă tạo ra một lớp trí thức
mới xuất thân từ trường Tây, thông
thạo ngôn ngữ, hiểu rơ văn hoá, tư tưởng
và nếp sống phương Tây hơn các nhà
Nho yêu nước trước đây.
Ba thành phần này có điểm gặp gỡ
chung là sống gần người Pháp, trong khung
cảnh đô thị và đường lối
sinh họat do chính quyền thuộc địa
tạo ra. Họ tiếp thu nhanh văn hoá phương
Tây. Về kinh tế, nếp sống của
họ tiện nghi và thoải mái hơn dân quê chân
lấm tay bùn. Về văn hoá, đời
sống thành thị văn minh, cởi mở,
tự do và dân chủ hơn nếp sống u
buồn sau luỹ tre xanh.
Từ khung cảnh văn hoá Tây phương và
điều kiện sống mới ở thành
thị, giới trí thức trẻ gắt gao đả
phá xă hội nho phong cũ và hăng say truyền
bá lối sống mới. Họ cương
quyết loại trừ mô h́nh đại gia đ́nh
“tứ đại đồng đường”,
với chế độ gia trưởng, với
những bổn phận hiếu đễ, tam ṭng,
tứ đức. Theo họ, những tục
lệ cũ như cúng tế lễ bái, kiêng
kị huư nhật, cha mẹ đặt đâu con
ngồi đó… được coi là lạc
hậu, cần phá vỡ để giải thoát
con người. Cần tôn trọng nhân phẩm,
hạnh phúc và quyền tự do lựa chọn
của cá nhân trong hôn nhân.
Nhóm Tự Lực Văn đoàn được thành
lập với mục đích hô hào bỏ cũ
theo mới. Văn đoàn triệt để
chủ trương đổi mới và thẳng
tay phá đổ tất cả những cái cũ
cản trở bước tiến của họ.
Trong cuộc chiến này, văn đoàn sử
dụng nhiều thứ khí giới khác nhau, nhưng
thứ khí giới lợi thế nhất vẫn là
tiểu thuyết. Hai tác phẩm tiên phong là “Đoạn
Tuyệt” của Nhất Linh và “Nửa
Chừng Xuân” của Khái Hưng. Nhất Linh
kịch liệt đả phá tất cả
những tệ đoan, hủ tục, mê tín
dị đoan… của xă hội cũ, để
sau đó xây dựng một nếp sống
tiến bộ hơn. Rất tiếc là h́nh
ảnh xă hội mới c̣n rất mơ hồ và
mông lung, ngay cả con đường cách mạng
được giới thiệu qua nhân vật Dũng
cũng chưa có ǵ rơ nét.
Qua ng̣i bút của Nguyễn Tường Long,
tức Hoàng Đạo, được coi là nhà xă
luận của nhóm, Tự Lực văn đoàn
đă bắn thẳng vào Tam Giáo cổ truyền
: “Những lư tưởng của các cụ xưa
không hợp với tŕnh độ học thức
của thiếu niên nữa. Nho giáo lung lay sắp
đổ, sắp sửa theo mấy nhà thâm nho c̣n
sót lại mà tiêu diệt với thời gian. C̣n
đạo Lăo, đạo Phật chỉ đem
lại cho thiếu niên những tư tưởng
chán đời, ta không thể nương tựa
vào đấy mà sống c̣n được”.
Tạp chí Phong hoá và Ngày nay cũng lớn
tiếng đ̣i cải cách hương thôn.
Nguyễn Tường Long viết về nếp
sống nông thôn như sau : “Ta phải thay
thế cái mớ lễ nghi cũ rích nó phân đẳng
cấp xằng, nó xướng lên rằng một
miếng giữa làng bằng một sàng trong xó
bếp bằng một cái lễ nghi mới.
Những điều lễ nghi mới ấy
dạy cho dân quê rằng một người trong
làng là một người công dân, có đủ
quyền tự do làm một người công dân,
dù là một bạch đinh hay một ông Lư ông
Chánh, quư hồ ḿnh đóng góp đủ sưu
thuế theo đúng luật lệ là không ai
ức hiếp được ḿnh, chớ không
cần phải khoác cái chức nọ, chức
kia”.
Đối với nền luân lư cũ, Nguyễn Tường
Long tuyên bố không úp mở : “Nền luân lư
ấy bắt ta phải bái phục lời nói
cổ nhân, dầu lời nói có sai cũng
mặc, không được đem lư luận ra mà
bẻ bác. Cha mẹ đẻ ra ta th́ những câu
bảo ban, ta phải cúi đầu vâng theo dù
những câu ấy trái với tư tưởng
của ta. Mà kể thực ra th́ dưới
chế độ đó ta chẳng c̣n có tư tưởng
ǵ nữa, mà ta là của gia đ́nh. Chữ
tự do cá nhân là một chữ từ xưa
đến nay ta không biết nghĩa là ǵ. Ngày
nay, cái óc biết suy xét của ta bắt ta không
nhắm mắt như xưa, mà bắt ta đem
lẽ phải, lương tri, ra mà suy nghĩ
cứu cánh mọi sự ở đời”[13].
Cũng chính Hoàng Đạo Nguyễn Tường
Long đă đưa ra “Mười điều tâm
niệm” để kết hợp các phần
tử trẻ tiến bộ hầu tạo một
lực lượng cách mạng trong tiến tŕnh
đ̣i hỏi tự do và dân chủ : Thanh niên nam
nữ phải dứt khoát theo mới, phải tin
ở sự tiến bộ, phải có lư tưởng
dấn thân hành động, phải bỏ óc
vị kỷ để góp sức xây dựng xă
hội, phải cố gắng rèn luyện
nghị lực và một thân thể cường
tráng, phải loại trừ mê tín dị đoan,
xây dựng tinh thần khoa học, bài trừ thói
cẩu thả, học hỏi cách quản lư và
tổ chức. Cuối cùng phải biết xem thường
danh lợi nhỏ mọn của xă hội phong
kiến và thực dân để lo xây dựng
một sự nghiệp lớn lao cho ngày mai.
Những nhận xét của Ḥang Đạo khá sát
với một thực tế xă hội đang
bị ch́m ngập dưới lớp bùn của
Tống Nho thời đó. Điều đáng
tiếc là tác giả Mười điều tâm
niệm chưa sáng suốt “gạn đục khơi
trong”, chắt lọc phần tinh hoa trong gia
sản của dân tộc.
Cùng với phong trào thể dục – thể thao,
phong trào thẩm mỹ và cải cách y phục
phụ nữ ra đời. Năm 1934, hoạ sĩ
Nguyễn Cát Tường hô hào trên báo Phong Hoá :
“Ngày xưa các cụ ăn mặc cốt để
che khuất thân thể, nên làm ra một bề ngoài
lụng thụng, bây giờ phải ăn mặc
sao cho dáng điệu thân thể được
tự nhiên phô bày. Hay có khi để chữa cái
dáng điệu ấy được uyển
chuyển tha thướt thêm”. Trong bối
cảnh đó, chiếc áo dài Cát Tường
xuất hiện và chẳng bao lâu lan tràn từ Hà
Nội về các tỉnh, từ Bắc vào Nam.
Nói chung, giới trí thức Tây học đă ư
thức về hạnh phúc cá nhân, tự do
kết hôn, quyền b́nh đẳng nam nữ, nhân
cách tự lập, sáng tạo, trách nhiệm… Dĩ
nhiên, đây chỉ là một thiểu số
tiểu tư sản rất ít ỏi sống
ở thành thị. Đại đa số người
Việt Nam vẫn cam chịu thân phân người
dân bị trị, nghèo khổ và lạc hậu. V́
điều kiện nghiệt ngă của lịch
sử Việt Nam vào giai đoạn đó, mô h́nh
“người trí thức tự do” vừa ló
dạng và chưa kịp phát triển đă
bị đi vào quên lăng. Nó chỉ để
lại một số dấu ấn mờ nhạt
ở thành thị và chưa có ảnh hưởng
quan trọng nào trên nếp sống, cũng như
lối nghĩ thâm căn cố đế ở nông
thôn.
Về phương diện kinh tế, Việt Nam lúc
đó mới chập chững bắt đầu
phát triển và bị chi phối nặng nề
bởi chế độ thuộc địa. Trên
tổng thể, Việt Nam vẫn là một nước
nghèo, chậm tiến và bị đô hộ. Nhưng
đó là t́nh trạng chung của các nước
Đông Nam Á, nên sự khác biệt giữa
Việt Nam với các nước láng giềng
hầu như không có. Bảng đối chiếu
sau đây của tiến sỹ Lê Đăng
Doanh, nguyên Viện trưởng nghiên cứu
quản lư kinh tế Trung ương, cho chúng ta
một ư niệm : “Nếu lấy mốc tính là
năm 1950, thu nhập b́nh quân đầu người
của Việt Nam bằng 80.5% của Thái Lan, th́
năm 1999 chúng ta chỉ c̣n bằng 20%. So với
Hàn Quốc th́ năm 1950 ta bằng 85.5%, tức là
Hàn Quốc với Việt Nam lúc bấy giờ cũng
đói như nhau, c̣n bây giờ ta chỉ c̣n
bằng khoảng độ 11, 12% Hàn Quốc. Lúc
bấy giờ ta giàu có hơn Trung Quốc, Trung
Quốc lúc bấy giờ đói khổ hơn ta.
Ta bây giờ thu nhập b́nh quân đầu người
bằng khoảng 20% Trung quốc mà thôi”[14]. Các
con số ở trên cho thấy các nước láng
giềng đă phát triển mạnh trong mấy
thập niên vừa qua, c̣n Việt Nam đă
dậm chân tại chỗ hay tiến quá chậm.
Kết quả hiển nhiên là sau 50 năm,
khoảng cách giữa họ và ta thay v́ thu hẹp
lại, đă nới rộng thêm.
3- Ảnh hưởng thời bao cấp
Cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945 đă
tạo nên một sự thay đổi lớn lao
và triệt để trong mọi lănh vực chính
trị, kinh tế, văn hoá, xă hội… Chính
quyền cách mạng được thành lập
để thay thế cơ cấu chính trị cũ,
Hiến pháp mới được ban hành,
nhiều đoàn thể cách mạng ra đời.
Vai tṛ của Nhà nước và xă hội
được đề cao, trong khi vị trí
của gia đ́nh trong cuộc sống toàn xă
hội bị giảm nhẹ và thu hẹp.
“Chế độ dân chủ xă hội chủ
nghĩa xây dựng trên cơ sở cộng đồng
xă hội, coi cá nhân chỉ tồn tại trong xă
hội, cộng đồng xă hội bằng hành
động tập thể, bằng nhà nước
tập quyền, hành động theo kế
hoạch không gián đoạn để thực
hiện một lí tưởng chung đă vạch
sẵn là chủ nghĩa Cộng sản để
đem lại tự do hạnh phúc cho mọi người”[15].
Con người xă hội chủ nghĩa chủ
yếu sống với xă hội và sống cho
đoàn thể, chứ không phải sống trong
gia đ́nh. Hậu quả tất nhiên là con người
có thói quen hành xử như một thành viên
của tổ chức, một bộ phân phụ
thuộc và phục vụ toàn thể thay v́ là
một nhân vị tự tại, tự lập, có
trách nhiệm và sáng tạo.
Trong giai đọan đó, tất cả tổ
chức làng xă và quan hệ họ hàng được
vận dụng tối đa để phục
vụ kháng chiến. Có những lúc phải
triệt để “tiêu thổ kháng chiến” và
di tản tất cả về nông thôn. Dần
dần đi đến chỗ nông thôn hoá đô
thị, trường học và cả nếp
sống. Nền kinh tế căn bản vẫn là
nông nghiệp. Cơ cấu tổ chức khép kín
và h́nh thức gia đ́nh cũng rất đơn
điệu. Theo giáo sư Trần Đ́nh Hượu,
trong thời bao cấp chủ yếu có hai
loại gia đ́nh tiêu biểu : gia đ́nh xă viên
và gia đ́nh cán bộ.
a)- Gia đ́nh xă viên : V́ nông thôn đă
hợp tác hoá, nên mọi người phải gia
nhập hợp tác xă và trâu ḅ nông cụ cũng
tập trung ở hợp tác. Giờ lao động
theo kế hoạch và sản xuất theo hợp tác
: làm chung và chia sản phẩm theo công điểm
lao động.
Mô h́nh sản xuất này đă xóa bỏ
được sự phân chia cố hữu
giữa các loại gia đ́nh địa chủ,
phú nông, trung nông hay bần cố nông. Trên nguyên
tắc, tất cả các xă viên sống giống
nhau, nhưng trên thực tế lại nẩy sinh
sự khác biệt sâu xa giữa cán bộ và xă
viên. So với trước, điều kiện
sống của các gia đ́nh xă viên khá hơn gia
đ́nh bần cố nông, nhưng vẫn chưa
bằng gia đ́nh trung nông ngày xưa, mặc dù
làm ăn tất bật, ít thoải mái và
thiếu ấm cúng hơn. Môi trường
mới tạo điều kiện để phát
triển gia đ́nh hạt nhân, nhưng thanh niên
thoát ly đi bộ đội, làm công nhân, làm cán
bộ, đi học… chưa đủ khả năng
để sống tự lập, nên trên thực
tế vẫn phổ biến gia đ́nh nhiều
thế hệ. “Những đứa trẻ,
phần lớn vắng mặt cha mẹ, ở
với ông bà, cũng được thả rông,
phó mặc cho xă hội. Khi lớn lên, chúng đă
chán cuộc sống nông thôn, nếu không thoát ly
được th́ ngả sang buôn bán để
được đi đây đi đó, từ
đó đâm ra đua đ̣i, sống bừa băi,
làm ăn phi pháp… Việc làm suy yếu gia đ́nh
và kinh tế gia đ́nh, việc ào ạt
đưa thanh niên vào biên chế, làm việc nhà
nước đă làm cho nông thôn xơ xác, tiêu
điều. Và hơn thế nữa đă làm cơ
sở xă hội rệu ră, mất ổn định,
làm phát sinh nhiều tiêu cực trong đời
sống cả ở nông thôn, lẫn ở thành
thị”[16].
Về mặt tổ chức, “chính quyền và
hợp tác quản lí hộ khẩu, quản lí
lao động, không để làm ăn riêng
lẻ và chạy ngoài. Việc đi lại
khỏi làng : nhập ngũ, đi học
nghề, làm công nhân hay viên chức phụ
thuộc khá nhiều vào ư kiến nhận xét
của xă. Người nông dân gắn chặt
với xă, đóng kín chỉ có môi trường
xă hội ở xă, khó năng động, linh
hoạt trong việc kiếm sống và cũng
trở lại t́m chỗ dựa ở quan hệ
họ hàng”[17]. Vô h́nh trung đă nẩy sinh
một thứ “lũy tre làng mới”, với
“hương ước” và “tập tục”
riêng, nhưng tựu trung vẫn trói buộc con người
một cách khắt khe và nghiệt ngă như hay
nhiều khi c̣n hơn “lũy tre làng cũ”.
b)- Gia đ́nh cán bộ : Đây là gia
đ́nh của những viên chức làm công tác Nhà
nước, Đảng hay Đoàn thể và
sống bằng lương tháng. V́ chế độ
lương bổng thấp và b́nh quân nên đời
sống của công nhân, công chức, sĩ quan, trí
thức ít cách biệt nhau và tất cả đều
chật vật. Gia đ́nh cán bộ chủ
yếu tập trung ở đô thị, nhưng v́
đồng lương thấp nên phải làm thêm
: nuôi lợn, nuôi gà, may vá nhận làm đồ
gia công[18]. Xuất hiện một thứ gia đ́nh
nửa quê, nửa tỉnh.
V́ hậu quả khốc hại của chiến
tranh, do những khiếm khuyết của chế
độ bao cấp, nhất là do chủ trương
xây dựng nhà nước, đoàn thể mà coi
nhẹ gia đ́nh, nên gia đ́nh rệu ră,
lộn xộn, chưa có nề nếp mới, chưa
thành tổ ấm. “Ở thành phố, có rất
nhiều gia đ́nh vợ chồng là cán bộ
ăn lương tháng, con cái được
phụ cấp ăn theo, cả gia đ́nh dựa
dẫm, trông đợi nền kinh tế bao
cấp của nhà nước. Công việc gia
đ́nh thành việc phụ, làm tranh thủ, làm
cho nhanh để c̣n nghỉ ngơi, c̣n đi làm
(…). Gia đ́nh thành một thứ nhà tập
thể tạm trú, lỏng lẻo. Chịu hậu
quả nặng nề của t́nh trạng lỏng
lẻo đó là trẻ con. Phần th́ do cha
mẹ đều bận việc xă hội, về
đến nhà đă mệt phờ, phần th́ do
quan niệm tôn trọng tự do, hạnh phúc
“cho con được sung sướng hơn ḿnh”,
nhiều gia đ́nh thả lỏng, chiều
chuộng, bỏ mặc con cái cho nhà trường
và đoàn thể. Bố mẹ đi làm, người
th́ nhốt con lại, người th́ đuổi
con đi chơi để khoá cửa. Cả hai cách
đều đẩy trẻ con đến chỗ
ghét gia đ́nh, thích la cà lang thang ngoài đường
phố, mà đường phố th́ có nhiều
cái lôi kéo trẻ con vào con đường hư
hỏng”[19].
Đứng trên phương diện ư thức
hệ, mô h́nh “người cán bộ cách
mạng” xuất hiện và trở thành mẫu
người lư tưởng thay thế cho mô h́nh
nhân cách “người quân tử” của Nho giáo
và mô h́nh “người trí thức tự do” dưới
thời Pháp thuộc. “Qua vận động
quần chúng giành chính quyền, lập chính
quyền cách mạng, kháng chiến, xây dựng
chủ nghĩa xă hội, mô h́nh người cán
bộ cách mạng hoàn chỉnh dần. Mô h́nh
đó phủ định những mô h́nh có
từ trước và cụ thể hoá trong quan
niệm về người đảng viên, anh
bộ đội Cụ Hồ, người
phụ nữ mới,… Phải nói rằng,
những nhân vật đó không khác nhau nhiều,
mà chỉ là h́nh thức cụ thể của
“người cán bộ cách mạng”[20].
Đức tính căn bản của người cán
bộ cách mạng là tính giai cấp, đấu
tranh chống áp bức bóc lột, căm thù đế
quốc thực dân, loại trừ phong kiến,
tuyệt đối tin tưởng ở Đảng
và có tinh thần cách mạng. Các giá trị đạo
đức và các đức tính nhân bản
bị giảm giá hay đặt xuống hàng
thứ yếu. Cũng chẳng c̣n chủ ư rèn
luyện tinh thần trách nhiệm, khát vọng dân
chủ, tính tự lập, ḷng tự trọng và
tôn trọng kẻ khác. Kết quả là người
cán bộ cách mạng trở thành con người
“đơn nhất đồng loạt, lấy cái
bất biến là yêu nước, giác ngộ cách
mạng, ham lao động, có văn hoá, sẵn sàng
phục tùng sự sắp xếp của tổ
chức để ứng vạn biến”[21].
Nhiều người lấy làm tiếc là đáng
lẽ ra phải dồn tất cả năng
lực để hiện đại hoá nông thôn và
cải tạo con người tiểu kỉ, th́ dưới
thời bao cấp người ta lại nông thôn
hoá đô thị và đề cao quá đáng tính
cách của người nông dân tiểu kỉ như
cam phận hèn mọn, tính toán ích kỷ, sự
phục tùng tuyệt đối, thái độ khôn
ngoan vụn vặt. Hậu quả của nó là
đă tái sinh nhiều mê tín dị đoan cũ và
dẫn đến một thứ chủ nghĩa xă
hội của nông dân công xă. “Nếu chủ nghĩa
xă hội, hiểu là sở hữu công cộng
với chính quyền chuyên chính vô sản chỉ
huy cả kinh tế, sắp xếp cả công
việc làm ăn cho từng người, lo
chuyện tương cà mắm muối, và xây
dựng bằng cách xác lập quan hệ sản
xuất, đă dẫn đến quan liêu bao
cấp, đến trói buộc cả xă hội,
th́ làng – họ, với nền sản xuất nông
nghiệp tự túc và cống nạp, với tính
cộng đồng, tính đóng kín của nó, cũng
dẫn đến cách hiểu chủ nghĩa xă
hội “trại lính ” với bệnh địa
phương, nạn phe phái, tệ cường hào”[22].
Dưới cái nh́n của nhà nghiên cứu Cao
Tự Thanh, những ǵ đang trở thành nhược
điểm của người Việt Nam hiện
nay chủ yếu được h́nh thành trong
thế kỷ 20 này. “Ở miền Bắc h́nh thành
cơ chế bao cấp – không có cơ chế
đó chúng ta không thắng Mỹ được.
Nhưng bao cấp, nhất là bao cấp kéo dài sau
1975 làm nẩy sinh hai đứa con tệ hại là
thói đạo đức giả và thói vô trách
nhiệm” [23].
Chủ nghĩa xă hội đă đưa ra
những lư tưởng cao vời nhằm đạt
tới sự giải phóng con người khỏi
mọi h́nh thức áp bức và vong thân, tạo
điều kiện để mỗi người
thực hiện chính ḿnh. Theo lư thuyết, đây
là một tiến tŕnh cách mạng và phát
triển kinh tế – xă hội ở mức độ
cao. V́ thế, khó ḷng thực hiện được
mô h́nh lư tưởng này ở những nơi người
dân c̣n nghèo về trí thức và vật chất,
như nước ta trước đây. Tuy nhiên,
do sức ép của chế độ và thái độ
duy ư chí, người ta đă gồng ḿnh đốt
giai đoạn và nhất quyết thi đua đạt
thành tích.
Trên thực tế, xă hội chủ nghĩa đó
mang tính cách “hữu danh vô thực”. Thời
đó, khi ở nơi công cộng, hầu như
mọi người phải làm ra vẻ ḿnh là người
tiến bộ, phải lặp lại như
vẹt tính ưu việt của lư tưởng xă
hội chủ nghĩa và xác quyết tính khả
thi của nó, nhưng trong chốn riêng tư
lại nghĩ khác hẳn. Có một khoảng cách
sâu thẳm giữa thực tại và khẩu
hiệu, giữa việc làm và lời nói,
giữa con người thật và con người
xuất hiện trước đám đông.
Hố phân cách thê thảm này nhiều khi chỉ
được lấp đầy bằng những
tuyên ngôn đẹp đẽ, khẩu hiệu choáng
ngợp và những lời nói dối hoa mỹ. Báo
“Ong Đất” của Bungari đă diễn
tả giai đoạn đặc biệt này
một cách sâu sắc và hóm hỉnh qua sáu
nghịch lư điển h́nh sau đây :
- Ai cũng có việc làm, nhưng không ai làm
việc
- Ai cũng không làm việc, nhưng ai cũng có lương
- Ai cũng có lương, nhưng không ai đủ
sống
- Ai cũng không đủ sống, nhưng ai cũng
sống
- Ai cũng sống, nhưng không ai hài ḷng
- Ai cũng không hài ḷng, nhưng ai cũng giơ
tay “đồng ư”.
V́ quá đề cao xă hội tính và tập
thể tính của con người đến độ
lăng quên hay, tệ hơn nữa, phủ nhận nét
độc đáo của mỗi nhân vị,
chế độ bao cấp đă đi đến
chỗ đoàn ngũ hóa và đoàn lũ hóa con
người bằng các đoàn thể, phong trào,
những cuộc thi đua, b́nh bầu, xếp
hạng, khen thưởng, đạt thành tích…
ba giảm, bốn quyết tâm, năm thi đua,
v.v. Mô h́nh này đă đúc khuôn và nhào nặn nên
nhiều “chiến sỹ thi đua”, nhiều
“anh hùng lao động”… đáp ứng cho
đ̣i hỏi của phong trào thi đua tập
thể. Họ được dựng nên từ
những phong trào thi đua và chỉ t́m được
niềm hăng say phấn khởi trong bầu không
khí thi đua, chạy theo thành tích, chạy theo
đám đông và t́m cách khẳng định ḿnh
bằng những thành tích được khen thưởng.
Môi trường này ít tạo nên những con người
có nội lực, có bản lănh và t́m cách
khẳng định ḿnh bằng những giá
trị đạo đức : sống chân thành
với lương tâm, không chấp nhận tính
đoàn lũ, không nịnh bợ, luồn cúi…
Đây là những con người có nội
lực, biết t́m thấy niềm tự hào khi
thể hiện được giá trị nhân sinh
trong đời thường hay cố gắng liêm
chính v́ lư tưởng đạo đức,
chứ không v́ chạy theo thành tích. Cố
gắng trở nên tốt trong hành vi tốt và cái
tốt này gắn liền với chính bản
chất con người, chứ không phải để
đạt thành tích thi đua.
Ngay từ thập niên 60’ một vài thức
giả đă cảm nhận được
sự bế tắc của mô h́nh này. Nhà dân
tộc học Nguyễn Từ Chi là một thí
dụ. Nhân dịp kỷ niệm 10 năm từ
trần của Từ Chi, nhà nghiên cứu Huệ
Chi đă kể lại một nhận định
sắc bén của người anh họ, mà
gần như chưa ai đề cập đến
: “Ông (Nguyễn Từ Chi) là một người
sớm nhạy cảm với những bế
tắc của con đường nghiên cứu khoa
học xă hội chính thống ở Việt Nam.
Sự nhạy cảm này bắt nguồn từ
một năng khiếu cũng khá đặc
biệt, ấy là nhận thức tỉnh táo
của ông về mọi chuyển động âm
thầm của thời cuộc, hay đúng hơn
là một nhăn quan minh mẫn về chính trị.
Kể từ năm 1963, sau hai năm làm chuyên gia
giáo dục và mải mê điền dă dân tộc
học ở Guinée và một số nước trên
hai bờ con sông Niger của châu Phi, trên đường
trở về ghé qua Moskova khoảng một
tuần lễ, khi gặp lại người thân,
ông đă có một nhận xét khiến nhiều
người trong gia đ́nh sửng sốt : “Mô
h́nh xă hội chủ nghĩa xem ra không ổn
rồi, v́ nó sans humanité (không người)”[24].
4- Thời tranh tối tranh sáng
Nói chung nếp sống tinh thần của Nho, Lăo,
Phật và Kitô giáo xây dựng trên đạo
đức cá nhân, với sự tự chế bên
trong và sự kiểm soát của lương tâm,
cũng như của Trời, Phật, Chúa. Con người
sống với nhau được ràng buộc
bởi đạo đức cá nhân, t́nh liên
đới và t́nh đồng bào.
Tự cổ chí kim, tiền tài, sắc dục,
danh vọng, tiện nghi vật chất... luôn
mời mọc và quyến rũ con người. Trước
ma lực của chúng, không c̣n cách nào khác hơn
là lựa chọn : buông thả sống theo xung
lực sôi động của bản năng hay
biết tự chế trước sức thúc
đẩy của bản năng tự phát và thăng
hóa dần những khuynh hướng xấu
tiềm ẩn trong ta để tạo cho ḿnh
một nhân cách, một sự nghiệp, một
thế đứng trong xă hội. Giá trị đạo
đức cổ truyền đă góp phần
tạo nên một lối sống, cách thế
ứng xử và sức tự chế bên trong, giúp
người dân sống ngay thẳng, cố
gắng làm lành lánh dữ, biết sợ tội
và gắn bó t́nh cảm với người thân,
bạn bè, láng giềng, đồng loại.
Kể từ năm 1945 ở miền Bắc và năm
1975 ở miền Nam, các giá trị xă hội
chủ nghĩa được sử dụng làm
kim chỉ nam cho cuộc sống, thay thế các giá
trị đạo đức cổ truyền. Dưới
thời bao cấp, bộ máy tuyên truyền và
những h́nh thức chế tài đă được
Nhà nước sử dụng để thay
thế những giá trị đạo đức cũ
bằng đạo đức cách mạng và lư tưởng
Cộng sản về một xă hội không giai
cấp... Cho đến cuối thập niên 80’, có
thể nói các giá trị xă hội chủ nghĩa
phần nào đă trở thành chuẩn mực cho
cuộc sống và trở thành tư tưởng
chủ đạo trong xă hội Việt Nam.
Nhưng từ khi bức tường Bá-linh
sụp đổ và việc du nhập “kinh
tế thị trường”, các giá trị xă
hội chủ nghĩa đă bị xói ṃn. Không
những về mặt kinh tế, chế độ
bao cấp đă đưa đất nước
đến bên bờ vực thẳm, mà ngay cả
về mặt chính trị – xă hội cũng không
c̣n đủ khả năng giải quyết các
vấn đề thực tế và trả lời
cho những khát vọng muôn mặt của con người.
Xă hội Việt Nam đă rệu rạo, mất
định hướng và rơi vào t́nh trạng
tranh tối tranh sáng.
Luật sư Nguyễn Ngọc Bích ví von việc
“chuyển hướng từ kinh tế kế
hoạch sang kinh tế thị trường trong năm
1987 giống như một người điêu
khắc, lúc đầu định khắc một
h́nh kim tự tháp, được nửa chừng
th́ quyết định chuyển từ kim tự
tháp sang h́nh cầu. Về mặt tri thức
việc này khó. Phần nào của kim tự tháp
phải cắt đi và cắt đi bao nhiêu,
để – trong ngôn ngữ chính trị –
vẫn đạt được sự phát
triển kinh tế mà không phải hy sinh an ninh
quốc gia cũng như các lư tưởng
của Chủ nghĩa Xă hội. Về mặt
vật chất, sự chuyển đổi kia
giống như việc một chiếc xe buưt
chở đầy khách và hàng hóa đang leo núi.
Nửa chừng người ta khám phá ra chiếc
xe không đủ nhiên liệu để đi lên
đỉnh. V́ vậy, chiếc xe buưt phải quay
ngang, không quay lại, nhưng rẽ sang trái t́m cách
đi về hướng biển mà không thấy có
một đường ṃn nào trước
mặt. Vấp ngă, sa lầy, nghiêng ngả
của chiếc xe trên con đường đi
xuống là không thể tránh được.
Việc hàng rơi, người ngă chỉ là
hệ quả. Chiếc xe buưt tiêu biểu cho
nền kinh tế thị trường định
hướng, hàng rơi, người ngă tiêu
biểu cho tư bản hoang dă. Chuyển đổi
sang nền kinh tế thị trường mà
vẫn duy tŕ những giá trị xă hội
chủ nghĩa là một điều chưa
xảy ra trước đây. Nó đ̣i hỏi chính
phủ Việt Nam phải thực hiện
nhiều công tác cùng một lúc từ việc
chuyển những định chế hiện
thời sang những cái mới phù hợp với
nền kinh tế mới, trong khi phải chống
lại những cách suy nghĩ đă tồn
tại từ nền kinh tế cũ”[25].
Đất nước càng mở cửa th́
sức ép của chế độ trên đời
sống của người dân ngày càng lỏng
lẻo. Lư tưởng xă hội chủ nghĩa
hầu như chỉ c̣n là những kư ức xa
mờ hay những khẩu hiệu đẹp
của một thời đă qua. Kinh tế thị
trường được áp dụng ở
Việt Nam thực ra chỉ là một thứ tư
bản hoang dă và chế độ tự do ở
Âu Mỹ nhiều khi bị đồng hóa với
thứ tự do phóng túng. Các giá trị đạo
đức cổ truyền bị phủ nhận dưới
thời bao cấp vẫn chưa được
phục hồi đúng mức. Trong khi đó,
một số h́nh thức mê tín dị đoan và
tục lệ trước đây bị nghiêm
cấm lại bùng nổ, ngoài tầm kiểm soát
của Nhà nước[26].
T́nh trạng tranh tối tranh sáng và vàng thau
lẫn lộn này gây hoang mang cho nhiều người,
đặc biệt là giới trẻ. V́ không
được giáo dục theo tiêu chuẩn đạo
đức cổ truyền, đồng thời cũng
chẳng c̣n lư tưởng xă hội chủ nghĩa
làm chuẩn mực cho cuộc sống, nhiều người
đang chao đảo và mất định hướng
trước cuộc sống mới. Thật
vậy, nếu không cảm nghiệm được
giá trị đạo đức của những
tiêu chuẩn tự chế bên trong, mà cũng
chẳng c̣n những h́nh thức chế tài bên
ngoài của xă hội hay sức thuyết phục
của đạo đức cách mạng, th́ cái
ǵ sẽ là qui tắc chủ đạo cho
cuộc sống nói chung và sinh hoạt kinh tế nói
riêng ?
Từ đó, thiết tưởng chúng ta cũng
không nên quá ngạc nhiên khi thấy một số
người đă đồng hóa thị trường
tự do với “tự do phóng túng”, phi đạo
đức và bất chấp luật pháp. Ngày xưa,
người ta phủ nhận mọi giá trị tâm
linh, chối từ Thượng Đế và đối
xử tệ với khách hàng. Ngày nay, để
kiếm tiền, nhiều người đă không
ngần ngại phong khách hàng làm “thượng
đế” ! Một khi không c̣n giá trị đạo
đức, vắng bóng lương tâm, thiếu
vắng lư tưởng xă hội và t́nh tự
quốc gia dân tộc... con người biết
lấy ǵ để lấp đầy sự
trống vắng kinh hoàng đó ? Thôi th́ ai
muốn làm ǵ th́ làm, miễn sao kiếm
được nhiều tiền và có nhiều cơ
hội để hưởng thụ. Trong hoàn
cảnh đó, chúng ta hiểu được
tại sao một số người trẻ đang
choáng ngợp trước vẻ quyến rũ
của xă hội tiêu thụ, sống buông thả
phó mặc cho sức hấp dẫn của
tiền, t́nh, rượu, ma túy ![27]
Viết về con người và cuộc sống hôm
nay cho thấu đáo, với sự hiểu
biết cặn kẽ về những thay đổi
kinh tế, tâm lư và xă hội, hầu như người
ta chưa t́m được một cuốn sách
đắc ư. Đa số các tác giả vẫn
tiếp tục viết về chiến tranh và
những ngày đă qua. Một vài người
đề cập đến đề tài
đương đại th́ nội dung quanh
quẩn, vụn vặt, chưa dám xông thẳng vào
những bức xúc và vấn đề của con
người trong thời mở cửa.
Ít nhất Nguyễn Việt Hà qua cuốn “Cơ
hội của Chúa” đă diễn tả một
phần cuộc sống ở Hà Nội vào
cuối thập niên 80 và đầu 90, với cái
bức xúc, sôi động, quay cuồng của
một xă hội đang trải qua cơn sốt
vỡ da. Trong một xă hội xuống dốc,
đạo đức vắng bóng và khủng
hoảng lư tưởng đó, dĩ nhiên tiền
được phong thần, lên ngôi. Nguyễn
Việt Hà viết thẳng thừng, không rào
đón : “Muốn biết rơ về ai nên nhúng người
ấy nhiều lần vào tiền. Cái thứ dung
dịch siêu thặng này làm trôi đi tất
cả những màu mè bọc ngoài. Đạo
mạo trở nên hau háu lỗ măng. Dịu dàng
trở nên chua ngoa cướp giật. Lịch
sử nhân loại chứng kiến số người
tự tử v́ tiền gấp mười tám
lần số người tự tử v́ t́nh. Có
phải thế chăng mà đến thời kinh
tế thị trường nền văn minh
của chúng ta chết sạch những nhà đạo
đức thật”[28].
Tâm, nhân vật chính trong chuyện, là một thanh
niên đang học cuối năm thứ tư ban
Kinh tế kế hoạch, bỏ học để
đi lao động hợp tác ở Đông Đức,
nhưng kỳ thực là để buôn lậu.
Về nước, Tâm xây nhà, cưới vợ và
lập công ty sản xuất hàng nhựa. “Công
ty kư được ba hợp đồng có lăi, cường
độ sản xuất cao mà cung vẫn chưa
đủ cầu. Nhưng cái ǵ đến
phải đến. Không khí lạc quan phủ
đầy ba tháng rồi tắt ngấm (...).
Vấn đề đầu tiên vấp phải khá
cổ điển: Nguồn vốn (...). Cú vấp
thứ hai mang tính quyết định là mặt
trái của nền kinh tế thị trường,
93% các công ty tư doanh chọn sự lừa đảo
làm kim chỉ nam của hoạt động
nghiệp vụ. Khoảng hai năm sau bằng
sự dốt nát thượng thặng của các
quan chức ngân hàng, hệ thống hợp tác xă
tín dụng nhân dân ra đời. Nó chết
yểu một cách logic để lại danh thơm
là vụ bể bạc lớn nhất thế
kỷ của nền tài chính. Nó xứng đáng
là cú song phi cước, liên doanh giữa Ngân hàng
và Quỹ tín dụng, đá đúng vào trung tâm dưới
của các cụ về hưu. Các công ty, đặc
biệt là những công ty hay làm từ thiện,
lộ rơ bộ mặt bất thiện”[29].
Tiểu thuyết “Hai nhà” của Lê Lựu
diễn tả khá sắc nét bối cảnh xă
hội và tâm lư của một số người
trẻ ở giai đọan tranh tối tranh sáng này.
Trong lá thư tuyệt mệnh của Trần
Địa gửi người em kết nghĩa
Trần Thanh Tâm, chúng ta đọc thấy
những ḍng thật xót xa về một thế
hệ từng được nuôi dưỡng
bằng “hận thù” và đấu tranh, bỗng
nhiên bây giờ lại đang ngụp lặn trong
thứ “tự do phóng túng” cặn bă từ Âu
Mỹ du nhập vào. Dưới đây là một
đoạn tiêu biểu :
“Tôi và vợ tôi đều giống cô vợ chú,
những kẻ sống suốt đời bằng
ḷng hận thù. Tất nhiên ḷng hận thù
của tôi là có mục đích, tôi sẽ kể
sau, c̣n vợ tôi và cô ấy nhà chú th́ ḷng
hận thù hồn nhiên đơn giản lắm.
Nó hồn nhiên như thói quen tự nhiên, như
ta hút lấy khí trời mà sống. Vợ tôi và
cô ấy nhà chú, những lứa tuổi “con,
em” chúng ta ấy (cả tôi và chú đều
bằng tuổi bố vợ ḿnh chứ c̣n ǵ)
từ khi tập tễnh học nói và nghe hiểu
được điều người khác nói là
đă học căm thù chứ không học yêu thương,
ít ai dạy ḷng yêu thương thành thật. Căm
thù bọn giặc cướp nước và bán nước
là lẽ đương nhiên, hết sức
cần thiết, nhưng căm thù giàu sang, có lúc
lại căm thù đói nghèo, căm thù dốt nát
lạc hậu, căm thù bố, mẹ, căm thù
anh em, căm thù vợ, chồng, căm thù con cháu,
nếu họ rơi vào cái khung địa
chủ, phú nông (...). Sống căm thù nhiều quá
thành ra, lúc yêu thương chân thật không quen.
Thói quen “căm thù” của một cơ chế
cũ cộng với không khí dân chủ lưu
manh từ Tây Âu và nước Mỹ đưa
lại không phải chỉ phá tan tành lớp người
như vợ tôi và vợ chú mà c̣n nhiều
sự đổ vỡ tiếp theo nữa. Ai
sống không đúng ư họ, căm thù. Ai hơn
họ, căm thù. Ai bảo họ phải sống
có “đất lề, quê thói”, họ bảo
mất nhân quyền. Ai khuyên họ : Phải
sống “đói cho sạch, rách cho thơm,
giấy rách phải giữ lấy lề”.
Họ bảo “mất tự do”. Ai bắt
họ phải kính trọng yêu thương và nghe
lời bố mẹ, họ bảo mất dân
chủ. Cái dịch “căm thù” và “mất”
khiến loại người như vợ tôi và cô
ấy nhà chú không thể yêu ai hơn chính
bản thân họ. Mà họ th́ cái ǵ cũng
thấy ḿnh mất, mất rất nhiều
thứ nên phải cố giật lại, chụp
giật thật nhanh, thật nhiều thứ cũng
chả thấm tháp ǵ. Bao giờ cho đủ khi
ḷng tham của đàn bà muôn đời vẫn là
cái thùng không đáy. Giá như chú hiểu
được như thế th́ chú bớt đau
khổ đi rất nhiều ”[30].
Bên cạnh “con người tiểu kỉ” ngày
xưa, cùng với hai đứa con hư của
thời bao cấp là “thói đạo đức
giả ” và “vô trách nhiệm”, cơ chế
thị trường hoang dă đang được
áp dụng tại Việt Nam đă sinh thêm hai
đứa con hư nữa : đó là “nóng
ruột kiếm tiền” và “cắm đầu
hưởng thụ”. Mọi nhược điểm
và tệ nạn khác của xă hội Việt Nam
hôm nay có lẽ chỉ phát huy tác hại trong môi
trường của mấy đứa con hư này.
Nếu đất nước chúng ta c̣n đứng
vững cho đến hôm nay, đó là nhờ ông
bà ta cũng sinh được rất nhiều người
con ngoan khác. Chúng ta cần tích cực cộng tác
với những người con ngoan để
chống lại ảnh hưởng tiêu cực
của mấy đứa con hư nói trên.
--------------------------------------------------------------------------------
[1] Trích trong Nguyễn Thái Hợp, Để
họ lớn lên, 2005.
[2] Vũ Minh Khương, Cơ hội của Thánh
Gióng, Tuổi Trẻ, ngày 19 -7- 2005.
[3] Có lẽ tiếng Việt là một trong
rất ít ngôn ngữ trên thế giới có đủ
từ đơn để phân biệt rạch ṛi
chín thế hệ, chứ không phải dùng từ
ghép như các ngôn ngữ khác. Hệ thống
cửu tộc của Việt Nam gồm có :
Kị, Cụ, Ông, Cha, Tôi, Con, Cháu, Chắt, Chiu.
Tiếng Hán chỉ có từ đơn cho bốn
thế hệ, c̣n phần lớn các ngôn ngữ
khác chỉ phân biệt ba thế hệ thôi.
[4] Trần Ngọc Thêm, T́m về bản sắc văn
hóa Việt Nam, Nxb, HCM 2001; Nhất Thanh, “Đất
lề Quê Thói”, Đường Sáng, Sàig̣n, 1970;
Lê Gia, Tâm Hồn Mẹ Việt Nam, Nxb Văn
Nghệ, 1993; Phan Canh, Thi Ca B́nh Dân, Nxb Văn
Học, 1993; Lê Văn Siêu, Nếp Sống T́nh
Cảm của Người Việt Nam, Nxb Mũi Cà
Mau, 1993; Tương Lai, Những Nghiên Cứu Xă
Hội Học Về Gia Đ́nh Việt Nam, Nxb Khoa
Học Xă Hội, Hà Nội, 1996; Trần Bá Chí,
Tấm Gương Hiếu Thảo Thời Xưa,
Nxb Văn Hoá Dân Tộc, Hà Nội, 2000.
[5] Trần Đ́nh Hượu, Đến hiện
đại từ truyền thống, NXB Văn Hoá,
in lần thứ hai, 1996, tr. 394-395.
[6] Theo lễ giáo của Nho giáo :”Phụ nhân
hữu tam ṭng chi nghĩa, vô chuyên dụng chi
đạo, cố vị giá ṭng phụ, kí giá ṭng
phu, phu tử ṭng tử”, theo đó người
nữ có cái nghĩa phải theo ba điều mà
không có cái lẽ đạo làm theo ư ḿnh, cho nên
khi chưa lấy chồng th́ theo cha, khi đă
lấy chồng th́ theo chồng và khi chồng
chết th́ theo con.
[7] Ba điều bất hiếu là : Cha mẹ
sống không phụng dưỡng, cha mẹ
chết làm nhục vong linh các người, không có
con để nối dơi tông đường.
[8] Theo Gs Vũ Văn Mẫu, tam ṭng của
Khổng giáo không tước đoạt mọi năng
lực pháp lư hay mọi quyền lợi trong gia
đ́nh của người phụ nữ (Cổ
Luật Việt Nam lược khảo, Sàig̣n,
1970, 223).
[9] Xem Trần Trọng Kim, Nho Giáo, NXB Văn hoá Thông
tin, Hà Nội, 2001, tr. 114-125; Giản Chi &
Nguyễn Hiến Lê, Đại cương
Triết học Trung quốc, quyển hạ,
Cảo Thơm, 1966, tr. 572-577.
[10] Trần Đ́nh Hượu, sđd., tr. 390-391.
[11] “Vọng ngoại tắc ngu, bạo động
tắc tử ». Nhiều người c̣n nhớ
cuộc bút đàm lịch sử giữa nhà cách
mạng Trung quốc Lương Khải Siêu
với nhà cách mạng Việt Nam Phan Bội Châu
vào đầu thế kỷ XX. Cụ Phan nghĩ
rằng lật đổ chính quyền thuộc
địa bằng vũ trang là phương
tiện duy nhất để dành lại độc
lập, nhưng v́ người Việt tự ḿnh
chưa địch nổi Pháp nên cần sự
trợ lực của các nước “đồng
văn đồng chủng” như Nhật
bản và Trung quốc. Lương Khải Siêu
đă chân thành khuyên Phan Bội Châu không nên quá
tin tưởng vào chủ trương “bạo
động kịch liệt” và sự trợ
lực của nước ngoài, mà nên chú ư đến
yếu tố giáo dục trong công cuộc giải
phóng đất nước : “Quư quốc chớ
lo không có ngày độc lập, mà chỉ nên lo
quốc dân không có đủ tư cách độc
lập (...). Thực lực của quí quốc là
dân trí, dân khí và nhân tài”.
[12] Huỳnh Thúc Kháng, Thi tù tùng thoại, Nam Cường,
Sàig̣n, 1951, tr.105.
[13] Dẫn theo Phạm Thế Ngũ, Việt Nam văn
học sử, t. III, Quốc học Tùng thư, Sàig̣n,
1965, tr. 435.
[14] Lê Đăng Doanh, Bài nói chuyện với các
cán bộ, ngày 02/11/2004,
[15] Trần Đ́nh Hượu, Đến
hiện đại từ truyền thống, sđd.,
tr.275-276.
[16] Ibidem, tr. 367.
[17] Ibidem, tr. 345.
[18] Trong cuốn “101 truyện vui các nhà văn
hiện đại Việt Nam”, Nxb Thông tin, 1996,
ông Nguyễn Bùi Vợi kể lại một câu
chuyện xảy ra năm 1964, liên quan đến
việc nhà văn Đ̣an Phú Tứ nuôi lợn như
sau : “Hà Nội đă lên đèn. Xe Thủ tướng
Phạm Văn Đồng đi qua chợ Hàng Da,
thấy một người lom khom nhặt ǵ
ở chợ. Thủ tướng hỏi thư kư
:
- Ai trông giống anh Đoàn Phú Tứ thế ?
Thư kư của Thủ tướng xuống xe
chạy lại th́ đúng là Đoàn Phú Tứ.
Ông nói thản nhiên :
- Các con tôi có nuôi một con lợn. Tiền mua
rau không đủ, chiều chiều tôi ra đây
nhặt ít vỏ chuối, thêm vào rau cho chúng
nấu cám lợn.
Nghe thư kư thưa lại, Thủ tướng
xuống xe đến tận nơi mời Đoàn
Phú Tứ chiều mai đến nhà riêng ăn cơm.
Sau bữa cơm Thủ tướng bảo :
- Tôi biết anh rất giỏi tiếng Pháp. Tôi có
đọc một ít tiểu thuyết cổ điển
Pháp dịch ra tiếng Việt. Người
dịch chỉ dịch được ư mà không
giữ được văn. Sao anh không dịch
cho các nhà xuất bản ?
- Hoàn cảnh của tôi ! dịch ai in ?
- Tôi sẽ đảm bảo cho anh chuyện đó.
Sau bữa ấy, Thủ tướng trực
tiếp trao đổi ư kiến với giám đốc
NXB Văn hoá. Ít lâu sau, bạn đọc nước
ta được đọc tiểu thuyết
Đỏ và đen do Tuấn Đô, tức nhà văn
Đoàn Phú Tứ dịch”.
[19] Ibidem, tr. 366.
[20] Ibidem, tr. 392.
[21] Ibidem, tr. 393.
[22] Ibidem, tr. 303.
[23] Xét tật ḿnh, người Việt, op.cit.,
tr.14.
[24] Nguyễn Huệ Chi, “Từ Chi – Anh tôi“,
www.talawas.org, ngày 11.8.05. Xc. Trần Đức
Thảo, Vấn đề con người và
chủ nghĩa “Lư luận không có con người“,
Tp. HCM, 1988.
[25] Nguyễn Ngọc Bích, “Việt Nam trong
thời đại ṭan cầu hóa : kinh tế
thị trường định hướng hay tư
bản hoang dă“, trong Khơi Ḍng chảy cho đồng
vốn, NXB Trẻ, 2003, tr. 169-170.
[26] Xem Bài trừ mê tín dị đoan, NXB Sự
Thật, Hà Nội, 1982.
[27] Nguyễn Thái Hợp, Giá trị đạo
đức trong cơn lốc thị trường,
Dấn Thân, Houston, tái bản I, 2000, tr. 130-151;
Đỗ Lan Hiền, Vấn đề xây
dựng đạo đức trong bối cảnh
phát triển kinh tế thị trường,
Triết Học, 4 – 2002, 16-19; Nguyễn Đ́nh Tường,
Một số biểu hiện của sự
biến đổi giá trị đạo đức
trong nền kinh tế thị trường ở
Việt Nam hiện nay và giải pháp khắc
phục, Triết Học, 6 -2002, 20-22.
[28] Nguyễn Việt Hà, Cơ hội của Chúa,
Nxb Văn học, 1999, tr.436. Tiểu thuyết
Luật đời và cha con (Hà Nội, 2005)
của Nguyễn Bắc Sơn tiếp tục
giải phẫu một cơ chế có quá
nhiều tiêu cực, tham nhũng, thối nát...
[29] Ibidem, tr. 92.
[30]Lê Lựu, Hai nhà, NXB Thanh Niên, Hà Nội, 2000,
tr. 289 -291.
Nguồn: www.dunglac.net .
Đăng lại với sự đồng ư của Dũng Lạc
|
|