|
|
Sự xuống cấp của
đạo đức xă hội
trong nền kinh tế thị trường và thủ phạm của nó
Tác giả: Lê Anh Hùng - 18/11/2009
Nguồn :
talawas
Trong một vài thập niên gần đây, cùng với đà khởi sắc của nền
kinh tế sau khi nước nhà bước vào công cuộc đổi mới, báo chí và
người dân đă nhiều lần lên tiếng về t́nh trạng vi phạm đạo đức kinh
doanh trong xă hội, từ những người sản xuất, buôn bán nhỏ lẻ cho đến
cả những doanh nghiệp lớn, có tiếng tăm đàng hoàng: lợn nuôi bằng
thức ăn tăng trọng; rau nhiễm thuốc trừ sâu hay sử dụng thuốc kinh
thích tăng trưởng gây hại cho sức khoẻ; trứng gà Trung Quốc biến
thành trứng gà ta; phân bón giả, kém chất lượng; thuốc chữa bệnh giả;
sự lập lờ giữa sữa hoàn nguyên với sữa tươi của các doanh nghiệp chế
biến sữa; thực phẩm quá hạn của Vinafood; nguyên liệu nước giải khát
quá hạn của Tân Hiệp Phát; các cây xăng gian lận hàng loạt; ô nhiễm
môi trường tràn lan… Điều đáng quan ngại hơn nữa là t́nh trạng suy
đồi về đạo đức kinh doanh như thế đang diễn ra ngày càng phổ biến
với mức độ ngày một nghiêm trọng và tinh vi hơn. Và cuối cùng, mọi
hậu quả đều đổ lên đầu người dân và xă hội.
Chúng ta đều biết rằng quan hệ giữa doanh nghiệp và cộng đồng là
mối quan hệ cá – nước; chính nhờ sự ủng hộ của người tiêu dùng, của
cộng đồng và xă hội, doanh nghiệp mới tồn tại và phát triển. Do vậy,
giới doanh nghiệp lẽ ra cần phải ư thức đầy đủ về trách nhiệm xă hội
của ḿnh. Và một khi công luận đă phải lên tiếng báo động về sự suy
đồi của đạo đức kinh doanh, điều này cũng có nghĩa là đạo đức xă hội
đang bị xuống cấp trầm trọng. Những hiện tượng mà báo chí đă nêu như
tham nhũng tràn lan; đồng tiền chi phối nhiều mối quan hệ giữa người
với người, kể cả quan hệ thầy tṛ hay quan hệ ruột thịt; thái độ vô
cảm của bác sỹ, y tá trước nỗi đau đớn của người bệnh; nạn “chạy”
chức, “chạy” quyền, “chạy” dự án, “chạy” án, “chạy” bằng cấp, “chạy”
học hàm…; thói quan liêu, nhũng nhiễu của những người nằm trong bộ
máy công quyền; sự thờ ơ của những người có trách nhiệm; t́nh h́nh
tội phạm gia tăng mạnh mẽ, đặc biệt là tội phạm bạo lực ở độ tuổi vị
thành niên … chính là những bằng chứng thuyết phục cho nhận định đó.
Điều đáng báo động là những chuyện nhức nhối như thế vẫn đang diễn
ra ngày một nhiều và dường như xă hội không c̣n cách nào khác là
phải “thích ứng” với nó như thể chấp nhận “sống chung với lũ” vậy.
Nhiều người gọi những hiện tượng trên đây là “mặt trái của kinh
tế thị trường.” Nếu quả đúng như vậy, tại sao t́nh trạng này ở Việt
Nam lại đến mức độ phải báo động, trong khi kinh tế thị trường là
h́nh thái kinh tế không chỉ tồn tại ở Việt Nam mà c̣n phổ biến ở hầu
hết mọi nền kinh tế trên thế giới, ngoại trừ Triều Tiên và Cuba? Đâu
là nguyên nhân đích thực của nó?
Bài viết này mong muốn đi t́m lời kiến giải cho t́nh trạng trên
một cách có hệ thống từ những hiểu biết khiêm tốn của tác giả.
1. Trật tự xă hội
Con người là sự tổng hoà của các mối quan hệ tự nhiên và xă hội.
Các mối quan hệ xă hội hay sự tương tác xă hội giữa con người với
nhau tuân theo những quy tắc khác nhau. Những quy tắc này (c̣n gọi
là thiết chế) do con người thiết lập nên, ràng buộc cách ứng xử vốn
dĩ mang tính tuỳ ư và cơ hội chủ nghĩa của họ. Tập hợp các quy tắc (thiết
chế) điều chỉnh hành vi của con người chính là cơ sở h́nh thành nên
trật tự xă hội.
Người ta phân biệt hai loại thiết chế:
(i) Thiết chế bên trong: là những thuần phong, mỹ tục, quy chuẩn
đạo đức, những nguyên tắc luân lư làm cơ sở cho cách ứng xử của con
người… Những thiết chế này xuất phát từ trong ḷng cộng đồng, tiến
hoá từ kinh nghiệm của con người và xuất phát từ bản chất tự nhiên
và xă hội của con người. Sự vi phạm các thiết chế bên trong thường
bị trừng phạt một cách phi chính thức, chẳng hạn như bị cộng đồng
tẩy chay khi làm điều ǵ đó trái đạo lư;
(ii) Thiết chế bên ngoài: là những quy tắc được áp đặt từ trên
xuống thông qua một quy tŕnh chính trị do một nhóm người đại diện
được uỷ quyền tiến hành. Thiết chế bên ngoài đi kèm với những h́nh
phạt rơ ràng, được áp đặt chính thức (ví dụ, các phiên toà) và có
thể chịu sự chế tài thông qua việc sử dụng quyền lực hợp pháp (chẳng
hạn, cảnh sát).
Thiết chế bên trong và thiết chế bên ngoài có mối quan hệ hữu cơ
với nhau. Thiết chế bên ngoài giúp phát huy phẩm chất tích cực, tiến
bộ và hạn chế những yếu tố lạc hậu, phản tiến bộ của thiết chế bên
trong. Hiệu lực của các thiết chế bên ngoài phụ thuộc mạnh mẽ vào
việc liệu chúng có bổ trợ cho các thiết chế bên trong hay không;
chẳng hạn, liệu pháp luật có đề cao các giá trị đạo lư, thuần phong
mỹ tục của xă hội hay không.
Pháp luật, loại thiết chế thượng tầng (bên ngoài) cơ bản và phổ
biến nhất, ra đời cùng với sự xuất hiện của nhà nước.
2. Nền tảng trật tự xă hội của các nước phương Tây
Tự do và dân chủ là những giá trị cốt lơi của nền văn minh phương
Tây. Văn minh phương Tây là một nền văn minh đặc biệt bởi lẽ không
giống như các nền văn minh khác, nó không bị giới hạn về không gian
và thời gian. Không chỉ những nước như Mỹ, Canada, Australia… vẫn
được xem là các quốc gia phương Tây, mà ngay cả những nước như Nhật
Bản cũng chịu ảnh hưởng sâu sắc của văn minh phương Tây nếu nh́n vào
hệ thống thiết chế thượng tầng của nó. Nhật Bản đă sớm phát hiện và
hấp thụ những giá trị tự do – dân chủ của phương Tây, những giá trị
đă đem đến sự phát triển thần kỳ cho nó, ngay từ giữa thế kỷ 19. Văn
minh phương Tây đề cao pháp luật và tự do cá nhân.
Người nào đ̣i hỏi sự thống trị của pháp luật tức là đ̣i hỏi sự
thống trị của Đức Chúa và Trí Khôn mà không phải của ai khác; trong
khi người nào đ̣i hỏi sự thống trị của một con người th́ chẳng khác
nào đem đến một con mănh thú hoang dại; v́ cảm xúc của con người
cũng giống như con mănh thú hoang dại và những t́nh cảm mạnh mẽ sẽ
dẫn dắt những ǵ tốt đẹp nhất của con người sa vào chốn lầm đường
lạc lối.
Pháp luật là lư trí không bao hàm mong muốn.
(Aristotle, triết gia Hy Lạp; 384-322 TCN)
Chúng ta là những nô lệ của pháp luật để có thể được tự do.
Tự do là tài sản vô giá.
(Tullius Cicero, 106-43 TCN, luật sư và tác gia người La Mă)
Trong nhiều niềm hạnh phúc và quyền tự do khác, mà các thần dân
của Bệ hạ … được hưởng … không ǵ mà họ coi là đáng yêu và đáng quư
hơn điều này – được dẫn dắt và chịu sự chi phối của một h́nh thái
pháp trị nào đó … và không phải bởi bất kỳ một chính thể độc đoán và
bất trắc nào.
(Trích Thỉnh Nguyện Thư của Hạ viện [House of Commons] gửi Vua
James Đệ Nhất, 7/7/1610)
Có một ṿng tṛn xung quanh mỗi con người cá nhân mà chính quyền
không nên được phép bước qua; trong cuộc sống của mọi người, khi đến
tuổi trưởng thành, có một phần mà ở đó bản thể cá nhân của người đó
phải ngự trị chứ không chịu sự chi phối của bất kỳ cá nhân nào khác
cũng như của công chúng nói chung.”
(John Stuart Mills, 1806-1873, triết gia, lư thuyết gia chính trị,
nhà kinh tế chính trị người Anh, Các nguyên lư kinh tế chính trị
[Principles of Political Economy])
John Stuart Mills quan niệm rằng tự do của mỗi người t́m thấy
giới hạn của nó trong tự do của người khác. “Tự do chân chính, không
hề không nhất quán với pháp luật, mà trên thực tế phụ thuộc vào pháp
luật. Pháp luật đích thực là hiện thân của tự do. Pháp luật là nhân
tố cốt lơi của tự do. Nếu không có pháp luật th́ không thể có tự do.
Pháp luật đúng đắn (orthonomos) là tự do.” (Friedrich Hayek – Cuộc
đời và sự nghiệp; Alan Ebenstein; NXB Tri Thức, 2007) Sự tiến hoá
của các h́nh thái nhà nước trong lịch sử phương Tây có thể được xem
như quá tŕnh tiến hoá của hệ thống thiết chế thượng tầng (pháp luật)
nhằm đem lại mức độ tự do cá nhân khả dĩ lớn nhất. Đỉnh cao của quá
tŕnh tiến hoá này chính là cuộc cách mạng tư sản, bắt đầu từ thế kỉ
16 và kéo dài tới thế kỉ 20. Cách mạng tư sản đă thiết lập nên nền
dân chủ và tạo ra sự phát triển mạnh mẽ chưa từng có của lực lượng
sản xuất, là một bước tiến mang ư nghĩa lịch sử trọng đại của xă hội
loài người.
Như vậy, thành tựu phát triển của các nước phương Tây có thể được
nh́n nhận là chủ yếu bắt nguồn từ sự đề cao pháp luật và quyền tự do
cá nhân. Các điều kiện về tự nhiên, chủng tộc, địa lư… đóng vai tṛ
khiêm tốn hơn. Điều này c̣n được chứng minh qua sự phát triển vượt
bậc của một số nước châu Á theo đuổi các giá trị tự do – dân chủ của
phương Tây như Nhật Bản, Singapore[1], Hàn Quốc, Đài Loan…
3. Những yếu tố chi phối trật tự xă hội của Việt Nam từ sau năm
1945
Trở lại với lịch sử Việt Nam hiện đại. Sau cuộc Cách mạng tháng
Tám năm 1945, Hiến pháp 1946 có thể nói là một bản hiến pháp rất
tiến bộ vào thời điểm đó. Đây là bản hiến pháp được soạn thảo theo
tinh thần phân chia quyền lực (tam quyền phân lập): lập pháp (Quốc
hội), hành pháp (Chính phủ) và tư pháp (Ṭa án) giống như Hiến pháp
Hoa Kỳ và hiến pháp của các nước cộng ḥa khác. Hiến pháp được đặt
cao hơn nhà nước: Nghị viện nhân dân không thể tự ḿnh sửa đổi Hiến
pháp; mọi sự sửa đổi, bổ sung đều phải đưa ra toàn dân phúc quyết (Điều
70). Điều 1 của Hiến pháp 1946 ghi rơ: “Nước Việt Nam là một nước
dân chủ cộng ḥa.” Hiến pháp 1946 là một bản hiến văn hết sức ngắn
gọn, súc tích. Toàn bộ bản hiến văn chỉ gồm 70 điều. Trong đó có
những điều chỉ vẻn vẹn một ḍng. (Chẳng hạn, Điều 12 được viết:
“Quyền tư hữu tài sản của công dân Việt Nam được bảo đảm.”) Hiến
pháp 1946 đă được thiết kế theo tư tưởng pháp quyền”. Điểm đáng chú
ư là Điều 10 bản Hiến pháp 1946 qui định rơ ràng các quyền tự do cá
nhân: “Công dân Việt Nam có quyền: tự do ngôn luận, tự do xuất bản,
tự do tổ chức và hội họp, tự do tín ngưỡng, tự do cư trú, đi lại
trong nước và ra nước ngoài.” Đây là những quyền tự do bị hạn chế
trong các bản hiến pháp sau này.
Đáng tiếc là sau đấy, do hoàn cảnh lịch sử nhưng quan trọng hơn
là xuất phát từ bản chất độc tài của Đảng Cộng sản cũng như tầm nh́n
thiển cận, hẹp ḥi và sự đam mê quyền lực của một số nhà lănh đạo
Đảng thời kỳ ấy, bản Hiến pháp 1946 trên thực tế đă bị chết yểu
trước khi có hiệu lực chính thức. Thay vào đó, hệ tư tưởng
Marx-Lenin dần dần được áp đặt và chi phối toàn bộ đời sống kinh tế
– chính trị – xă hội của đất nước. (Do Đảng Cộng sản là lực lượng
chính trị lănh đạo xă hội nên điều lệ, đường lối và chính sách của
Đảng cũng có thể xem là một loại thiết chế bên ngoài; thậm chí chúng
c̣n đứng trên cả pháp luật – như ta vẫn thường nghe điệp khúc: Tuân
theo đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước.) Việc
áp đặt hệ thống thiết chế thượng tầng một cách duy ư chí, không phù
hợp với nền tảng thiết chế bên trong của xă hội (đạo lư truyền thống
của dân tộc, những chuẩn mực đạo đức của xă hội…) đă để lại những
hậu quả ghê gớm kéo dài cho tới tận hôm nay. Thông qua lăng kính
“đấu tranh giai cấp,” các nhà lănh đạo Đảng lúc đó đă du nhập vào xă
hội Việt Nam những giá trị xa lạ, phi nhân: đề cao tập thể và những
giá trị gắn liền với tập thể; hạ thấp vai tṛ cá nhân và những giá
trị cá nhân khác; chia xă hội ra thành những giai cấp đối kháng
trong khi vẫn không ngớt kêu gọi toàn dân “đoàn kết”; đảo lộn trật
tự truyền thống sỹ – nông – công – thương và thay vào đó là quan
niệm theo kiểu “trí – phú – địa – hào, đào tận gốc, trốc tận rễ”; đề
cao chủ nghĩa lí lịch, tiêu chuẩn “vừa hồng vừa chuyên” với sự lên
ngôi của tầng lớp bần nông ít học, khiến nhà văn hoá Nguyễn Khắc
Viện từng phải lên tiếng ngao ngán trước cái mà ông gọi là nền
“chuyên chính vô học.”
Hậu quả của t́nh trạng trên đến gần như ngay lập tức: hàng loạt
công tŕnh đền chùa, miếu mạo, nhà thờ… bị phá bỏ không thương tiếc;
những di sản văn hoá truyền thống của dân tộc như ca trù, hát xẩm…
bị lên án mạnh mẽ, không c̣n đất sống. Và đỉnh cao của nó chính là
tấn thảm kịch đẫm máu có một không hai trong lịch sử bốn ngàn năm
của dân tộc: cuộc Cải cách Ruộng đất “long trời lở đất” (1953-1956),
trong đó hàng trăm ngàn người đă bị giết hại một cách tàn bạo và đê
hèn, với những nghịch cảnh trái luân thường đạo lư như con tố cha,
vợ tố chồng… Cuộc cải cách này (cùng chiến dịch “sửa sai” sau đó) đă
gây một bầu không khí kinh hoàng ở nông thôn miền Bắc lúc ấy, tác
hại mạnh đến sự đoàn kết dân tộc và nhiều thế hệ người Việt Nam.
Chiến dịch đàn áp trí thức qua vụ Nhân văn Giai phẩm (1956-1958)
tiếp theo đó diễn ra như một hệ quả tất yếu.
Văn hoá phương Đông nói chung và Việt Nam nói riêng vốn coi trọng
danh dự cá nhân. Tấn tṛ “phê b́nh và tự phê b́nh” khiến một người
vừa hạ thấp danh dự của người khác vừa hạ thấp danh dự của chính
ḿnh. Và khi không thể thực hiện được điều đó một cách nghiêm túc,
người ta buộc phải “phê b́nh và tự phê b́nh” một cách hời hợt, giả
tạo. Những khẩu hiệu kiểu như thế từ xưa đến nay và sự hù doạ của bộ
máy tuyên truyền của Đảng về cái gọi là “diễn biến hoà b́nh” rồi “tự
diễn biến” mới đây… đă tạo nên một bầu không khí nghi kỵ, ngột ngạt
bao trùm xă hội Việt Nam (“Ḿnh ŕnh mọi người, mọi người ŕnh ḿnh.”)
Các giá trị của chủ nghĩa xă hội ngày càng tự bộc lộ cho thấy là xa
rời thực tế, thậm chí không tưởng, khiến cho dối trá trở thành căn
bệnh cố hữu của chế độ. “Người cầm quyền cấp cao nhất và cấp thấp
nhất đều biết cách nói mơ hồ, càng nói mơ hồ càng được đánh giá là
chín chắn. Và nói dối, nói dối hiển nhiên, không cần che đậy. Vẫn
biết rằng nói dối như thế sẽ không thay đổi được ǵ v́ không một ai
tin nhưng vẫn cứ nói. Nói đủ thứ chuyện, nói về dân chủ và tự do, về
tập trung và dân chủ, về nhân dân là người chủ của đất nước c̣n
người cầm quyền chỉ là nô bộc của nhân dân. Rồi nói về cần kiện liêm
chính, về chí công vô tư, về lư tưởng và cả quyết tâm đưa đất nước
tiến lên chủ nghĩa cộng sản. Nói dối lem lém, nói dối ĺ lợm, nói
không biết xấu hổ, không biết run sợ v́ người nghe không có thói
quen hỏi lại, không có thói quen lưu giữ các lời giải thích và lời
hứa để kiểm tra. Hoặc giả hỏi lại và kiểm tra là không được phép, là
tối kỵ, dễ gặp tai hoạ nên không hỏi ǵ cũng là một phép giữ ḿnh.
Người nói nói trong cái trống không, người nghe tuy có mặt đấy nhưng
cũng chỉ nghe có những tiếng vang của cái trống không. Nói để giao
tiếp đă trở thành nói để không giao tiếp ǵ hết, nói để mà nói, chả
lẽ làm người lại không nói. Thật ra nói thế mà vẫn hiểu nhau cả.
Người cầm quyền th́ biết là nhân dân đang rất bất b́nh về nhiều
chuyện, nhân dân th́ biết người cầm quyền đang nói dối, nh́n vào
thực tiễn là biết ngay họ đang nói dối. Nhưng hăy mặc họ với những
lời lẽ dối trá của họ, c̣n ḿnh là dân chả nên hỏi lại nói thế là
thật hay không thật. Ḿnh cứ làm theo ư ḿnh và ḿnh cũng sẽ nói dối,
nói che đậy nếu như có dịp được người cầm quyền hỏi.” (Nhà văn
Nguyễn Khải, 1930-2008, Đi t́m cái Tôi đă mất, 2006)
Ông Lê Duẩn từng kể lại một câu chuyện liên quan đến thời kỳ hoạt
động bí mật của ḿnh tại Nha Trang. “Một chị là cơ sở cách mạng nuôi
giấu ông trong buồng ngủ. Bất chợt, người chồng trở về và nổi cơn
ghen khiến ông có nguy cơ bại lộ… Chị cơ sở báo động và xin chỉ thị
có cần phải ‘khử’ người chồng hay không? Ông không đồng ư và đề nghị
một phương án khác, thu xếp mọi việc êm thấm và thoát hiểm.” (“‘Một
nửa thế giới‘ trong mắt cố TBT Lê Duẩn“, VietNamNet, 8/3/2007) Câu
chuyện đọng lại trong chúng ta điều ǵ đằng sau sức mạnh “giác ngộ”
và “cảm hoá” từ những tín điều của chủ nghĩa Marx-Lenin?
Rơ ràng, các thiết chế thượng tầng phi nhân đă làm băng hoại
những chuẩn mực đạo đức của xă hội, thậm chí khiến nhiều giá trị đạo
đức bị đảo lộn.
Sau năm 1986, cùng với quá tŕnh “đổi mới” hay thực chất là “cởi
trói” từng bước của Đảng Cộng sản Việt Nam, người dân được hưởng
nhiều quyền tự do hơn. Kết quả gần như đến ngay tức th́. Đất nước
dần bước ra khỏi khủng hoảng, từ chỗ thiếu đói trầm trọng đă trở
thành nước xuất khẩu gạo lớn thứ 2 trên thế giới. Tuy nhiên, những
bất cập của hệ thống thiết chế thượng tầng (đường lối, chính sách
của Đảng và pháp luật của Nhà nước) th́ vẫn c̣n nguyên đó, khiến
những khuyết tật cố hữu của hệ thống càng có cơ hội bộc lộ như đă
nêu trong phần đầu bài viết. Và nhiều người đă vội chụp cho nó cái
mũ mang đầy vẻ hù doạ: “mặt trái của kinh tế thị trường.” Song những
ai tỉnh táo đều hiểu rằng hiện tượng băng hoại đạo đức xă hội đă
diễn ra từ rất lâu. Bài thơ Lời Mẹ Dặn của Phùng Quán năm 1957 là
một trong những phản ứng của các bậc trí thức có khí phách thời ấy
trước t́nh trạng giả dối đang ngự trị trong xă hội: Yêu ai cứ bảo là
yêu/Ghét ai cứ bảo là ghét/Dù ai ngon ngọt nuông chiều/Cũng không
nói yêu thành ghét/Dù ai cầm dao dọa giết/Cũng không nói ghét thành
yêu. Nhiều người hẳn c̣n chưa quên bài thơ Mùa Xuân Nhớ Bác trên báo
Tiền Phong đầu năm 1986 của tác giả Phạm Thị Xuân Khải. Bài thơ đă
gây chấn động dư luận một thời và xem ra cho đến nay nó vẫn c̣n
nguyên tính “thời sự”: Đồng chí không bằng đồng tiền/Bằng ḷng vẫn
hơn bằng cấp; Có mắt giả mù, có tai giả điếc/Thích nghe nịnh hót,
ghét bỏ lời trung/Trấn áp đấu tranh, dập vùi khốn khổ; Cùng chí
hướng sao bầy mưu chia rẽ?/Tham quyền cố vị/Sợ trẻ hơn già; Nay say
sưa trong cảnh giàu sang/Thoái hóa, bê tha khi dân nước gian nan? Rơ
ràng, kinh tế thị trường chính là mảnh đất màu mỡ mà những mầm mống
“đạo đức xă hội xă hội chủ nghĩa” đơm hoa kết trái.
Với thực tế mọi quyền lực Nhà nước (lập pháp, hành pháp và tư
pháp) đều nằm trong tay Đảng Cộng sản Việt Nam (chưa kể một quyền
lực xă hội hết sức quan trọng khác là báo chí), pháp luật bị các
nhóm lợi ích khác nhau nằm trong tập đoàn lợi ích khổng lồ mang tên
Đảng Cộng sản tha hồ thao túng, tha hồ lũng đoạn. Ai cũng biết rằng
luật pháp ở Trung ương nằm trong tay Bộ Chính trị, c̣n luật pháp ở
địa phương th́ nằm trong tay các thường vụ tỉnh uỷ, huyện uỷ. “Dao
sắc không gọt được chuôi,” Đảng không thể dùng pháp luật để “xử”
chính ḿnh được. Sự bất lực của hệ thống pháp luật và t́nh trạng bị
trói chân trói tay của báo chí là những nguyên nhân trực tiếp khiến
cho t́nh trạng tham nhũng tràn lan, tiêu cực trong xă hội hoành hành,
đạo đức xă hội xuống cấp trầm trọng như hiện nay. Hăy cứ nh́n vào bộ
mặt nham nhở của các đô thị hay cảnh tượng nhốn nháo trên các đường
phố ở Việt Nam là đủ để h́nh dung ra t́nh trạng tuân thủ pháp luật
và hiệu lực của các cơ quan bảo vệ pháp luật, các cơ quan công quyền.[2]
Những tấn tṛ hề như “Cuộc vận động học tập và làm theo tấm gương
đạo đức Hồ Chí Minh” chính là bằng chứng cho thấy thất bại thảm hại
của cái gọi là “Nhà nước pháp quyền XHCN” và sự suy đồi của đạo đức
công vụ. Mỉa mai thay, người ta lại c̣n có tham vọng thông qua cuộc
vận động này để “xây dựng nền tảng đạo đức của xă hội” (!?)
Bần cùng sinh đạo tặc; bất công sinh đạo tặc; pháp luật lỏng lẻo
sinh đạo tặc. Đó chính là lư do giải thích cho những hiện tượng như
Năm Cam (Sài G̣n), Khánh Trắng (Hà Nội), Dung Hà (Hải Pḥng – Sài
G̣n), Phúc Bồ (Hà Nội), Tin Pa-lét (Nha Trang), Minh Samara (Vũng
Tàu)… Việc các băng nhóm này lần lượt bị xoá sổ không có nghĩa là
thế giới ngầm bị thu hẹp, mà ngược lại, các băng nhóm tội phạm đang
ngày càng lộng hành, một cách trắng trợn và tinh vi hơn.[3]
Thị trường là một cơ chế tiến hoá. Trên thị trường luôn diễn ra
quá tŕnh chọn lọc và đào thải. Điều đó có nghĩa là thị trường sẽ
loại khỏi cuộc chơi những người tạo ra những giá trị mà xă hội không
mong muốn (sản phẩm chất lượng thấp, mẫu mă kém… so với sản phẩm
cạnh tranh). Khi nạn hàng giả, hàng nhái tràn lan, t́nh trạng an
toàn vệ sinh thực phẩm đáng báo động hay ô nhiễm môi trường phổ biến,
đó không phải là khiếm khuyết của thị trường mà chính là lỗi của hệ
thống pháp luật, của các cơ quan công quyền, của hệ thống chính trị.
Xă hội có cả người tốt lẫn kẻ xấu, bởi lẽ nó là một tổng thể đa dạng.
Khi mà sự giả dối ngự trị trong xă hội, cũng như khi mà trong xă hội
kẻ xấu lấn lướt người tốt, điều đó có nghĩa là đạo đức xă hội đang
bị xuống cấp trầm trọng. Và vấn đề của mọi xă hội luôn có gốc rễ từ
hệ thống thiết chế thượng tầng (hay thiết chế bên ngoài) của nó. Quá
tŕnh chọn lọc và đào thải của thị trường nhằm phục vụ tốt nhất nhu
cầu của con người hay đ̣i hỏi của xă hội phản ánh bản BẢN CHẤT ĐẠO
ĐỨC của nó. Sự cạnh tranh khắc nghiệt trên thị trường chính là cơ
chế để thị trường tạo ra những giá trị mới mẻ và lành mạnh cho xă
hội chứ hoàn toàn không có nghĩa là nó tàn bạo hay thiếu đạo đức. Và
những ai vẫn cứ khăng khăng bảo lưu quan niệm về cái mà họ gọi là
“mặt trái của kinh tế thị trường” thực ra chẳng hiểu chút ǵ về thị
trường cả.[4]
Như vậy, chúng ta có thể đi đến kết luận: Những lệch lạc của thị
trường, nếu có, đều bắt nguồn từ hệ thống thiết chế thượng tầng (pháp
luật và bộ máy công quyền) của xă hội. T́nh trạng đáng báo động về
đạo đức kinh doanh nói riêng và sự xuống cấp trầm trọng của đạo đức
xă hội nói chung ở Việt Nam hiện nay có gốc rễ từ hệ thống thiết chế
thượng tầng (hệ thống chính trị cùng với những đường lối, chính sách
của Đảng và pháp luật của Nhà nước), từ những tín điều không tưởng
của chủ nghĩa Marx-Lenin.
4. Tương lai đất nước từ kinh nghiệm của các quốc gia trên thế
giới
Dân chủ không phải là cây đũa thần. Đây mới chỉ là điều kiện cần
để mở đường cho sự phát triển lành mạnh và bền vững của một quốc gia.
Một số nước theo chế độ dân chủ sau khi trải qua một giai đoạn phát
triển cao lại đến hồi chững lại như Philippines, Indonesia, Brazil…
Điều này một phần là do những bất cập trong hệ thống pháp luật của
họ, một phần là do sự thao túng của các tập đoàn lợi ích của các
nước đó (sự cấu kết của giới tư bản thân hữu với giới chính trị gia),
dẫn đến t́nh trạng pháp luật bị lũng đoạn, các chuẩn mực đạo đức xă
hội bị xói ṃn, khiến các quốc gia trên dần dần rơi vào t́nh trạng
tŕ trệ. Nạn bạo lực tràn lan ở Brazil cho thấy sự bất lực của hệ
thống pháp luật và các cơ quan bảo vệ pháp luật ở đây. Tại
Philippines, nhà độc tài Ferdinand Emmanuel Edralin Marcos
(1917–1989, Tổng thống giai đoạn 1965–1986) cùng bà vợ yêu thích lối
sống xa hoa Imelda Marcos, hay Tổng thống Joseph Ejercito Estrada (từ
năm 1998 cho đến khi bị phế truất năm 2001 rồi phải vào tù v́ các
tội tham nhũng, rửa tiền, cản trở công lư) đều là những vết thương
c̣n đang nhức nhối trong ḷng xă hội Philippines. T́nh trạng tương
tự cũng diễn ra ở Indonesia với Suharto (1921–2008), vị Tổng thống
độc tài của Indonesia từ năm 1967 đến năm 1998, người mà sau những
năm đầu cầm quyền thành công, đă dần dần chèo lái quốc gia đi theo
con đường độc tài (ḥng củng cố quyền lực của bản thân) khiến t́nh
h́nh đất nước ngày càng rơi vào bất ổn và cuối cùng buộc phải từ
chức vào tháng 5 năm 1998 sau các cuộc biểu t́nh hàng loạt. Nếu
không v́ lư do sức khoẻ ông ta đă phải ra toà với những cáo buộc
tham nhũng thời gian sau đó. Dĩ nhiên, đằng sau các chính trị gia
đầy tai tiếng này là những tập đoàn lợi ích tham lam, ích kỷ.
Hiện tượng trên xem ra lại đang là một thực tế ở nước Nga hiện
tại. Sau khi dùng bàn tay sắt để ổn định lại một nước Nga rối ren
dưới thời Boris Yelsin, Putin dường như đang muốn dẫn nước Nga đi
vào vết xe đổ của một nhà nước độc tài, thông qua những biện pháp
như trấn áp phe đối lập, khống chế và kiểm duyệt báo chí một cách
chặt chẽ. Ngày 14/11 và 26/11/2008, lần lượt Hạ viện (Duma) và
Thượng viện (Hội đồng Liên bang) Nga thông qua việc sửa đổi hiến
pháp, kéo dài nhiệm kỳ tổng thống từ 4 năm lên 6 năm, một động thái
được hầu hết mọi người nh́n nhận là nhằm mở đường cho “triều đại”
mới kéo dài 12 năm của ông Putin bắt đầu từ năm 2012, trong khi
“triều đại” cũ vẫn c̣n gần 4 năm nữa mới kết thúc. Điều đáng quan
ngại hơn nữa là việc ông Putin đă phớt lờ việc trưng cầu dân ư và
tạo ra một tiền lệ nguy hiểm. (Xem ra, Hiến pháp 1946 của Việt Nam
c̣n tiến bộ hơn nhiều – với quy định những sửa đổi về Hiến pháp phải
được toàn dân phúc quyết trong Điều 70.) Trong bối cảnh đó, hệ thống
các cơ quan bảo vệ pháp luật đă bị một nhóm lợi ích thân cận với
Putin thao túng, c̣n báo chí lại không dám lên tiếng. “Từ năm 2000
đến nay chỉ có một vụ ám sát nhà báo tại Nga bị đưa ra xét xử, c̣n
lại 16 vụ, trong đó có những vụ lớn như việc sát hại chủ bút Tạp chí
Forbes phiên bản tiếng Nga Paul Klebnikov hồi năm 2004, và vụ ám sát
nhà báo điều tra Anna Politkovskaya hồi năm ngoái.” “Theo Giám đốc
Điều hành của CPJ, Joel Simon, trong thư mà hăng thông tấn AFP có
được hôm qua, th́ chính quyền Nga không có khả năng đưa những vụ
việc ra ánh sáng. Theo ông Joel Simon, th́ t́nh h́nh vừa nói dẫn đến
biện pháp tự kiểm duyệt của báo chí Nga khiến cho nhiều vấn đề quan
trọng không được tường tŕnh, thậm chí bị giấu kín hoàn toàn.” (RFA
– 18/8/2009) Kết quả là như những ǵ mà chúng ta đang được chứng
kiến, t́nh h́nh an ninh ở nước Nga ngày càng trở nên bất ổn. Theo
đánh giá của tạp chí Foreign Policy (Mỹ) tháng 9/2008 , Moscow nằm
trong số 5 thành phố nguy hiểm nhất thế giới:
Đêm 13/9/2006, Phó Thống đốc Ngân hàng Trung ương Nga đă bị hai
tay súng hạ thủ ngay giữa trung tâm Moscow bằng súng tự động, ông đă
qua đời ngay tại bệnh viện trong sáng nay 14/9, đây là một cú sốc
đối với giới kinh doanh và chính trị tại nước này.
Ngày 2/11/2009, một số sát thủ đi trên chiếc xe Lada đă xả hơn 20
phát đạn vào chiếc Mercedes của nhà tài phiệt Shabtai von
Kalmanovich, ngay giữa trung tâm thủ đô Moscow, chỉ cách văn pḥng
của Thủ tướng Vladimir Putin vài trăm mét.
Mới đây, ngày 10/11/2009, chính phủ Nga đă phải thừa nhận một
thực tế là một bộ phận của lực lượng cảnh sát đă tham gia vào hoạt
động kinh doanh tội ác – (BBC World Service). Chỉ riêng lời “thú
nhận” ấy thôi có lẽ cũng đủ giúp cho người ta h́nh dung ra được mức
độ tội phạm và tham nhũng ở đất nước này rồi.
Việc các nước phương Tây thường xuyên cáo buộc t́nh trạng vi phạm
nhân quyền ở Nga hoàn toàn không phải là vô cớ. Putin đă đưa nước
Nga trở lại vị trí siêu cường nhưng e rằng, nếu vẫn cứ đà này, cũng
chính ông ta sẽ đưa nước Nga thụt lùi một cách thảm hại. Trên thực
tế, với một hệ thống thể chế thiếu tính chắc chắn, nền kinh tế nước
Nga vẫn c̣n ngổn ngang, dễ đổ vỡ, và phụ thuộc quá nhiều vào lĩnh
vực khai thác tài nguyên.[5] (Thị trường Chứng khoán Nga: 9 lần
ngừng giao dịch trong 3 tuần tính đến ngày 6/10/2008 [do giá cố
phiếu lao dốc] )
Khi không thể trông cậy vào hệ thống pháp luật chính thức, người
dân buộc phải quay sang dựa vào hệ thống “pháp luật” phi chính thức
của thế giới ngầm. Đó chính là những ǵ đă xẩy ra ở Italia ngày xưa
(mà cho đến nay nước này vẫn chưa thể giải quyết tận gốc các băng
nhóm tội phạm mafia) và ở nước Nga, Brazil, Mexico… ngày nay. (T́nh
trạng tương tự cũng đang diễn ra một cách thầm lặng ở Việt Nam. Đây
chính là nguồn sữa nuôi dưỡng các băng nhóm tội phạm có tổ chức.
Nguy hiểm hơn, chúng đă bắt đầu len lỏi vào bộ máy chính quyền các
cấp, hoặc tạo vỏ bọc hợp pháp trong các doanh nghiệp.)[6]
Những lănh tụ như Putin không thiếu ǵ các chiêu bài mị dân. Một
trong số đó là việc ông ta cho khôi phục lại những h́nh ảnh về một
“dĩ văng oai hùng” của Liên Xô ngày nào ḥng vuốt ve, ru ngủ quần
chúng, như cho tiến hành duyệt binh kỷ niệm ngày Cách mạng tháng
Mười, hay việc ngày 19/5/2009, Tổng thống Dmitry Medvedev kư Sắc
lệnh thành lập Ủy ban đặc biệt chống mưu toan xuyên tạc lịch sử, làm
phương hại đến lợi ích nước Nga.[7] Những lănh tụ mị dân có xu hướng
độc tài kiểu như Putin thời nào cũng có, vấn đề là người dân ở các
quốc gia đó cần phải tỉnh táo và các thiết chế dân chủ của nó phải
đủ mạnh để giám sát và ràng buộc quyền lực. Không chỉ Putin, một
Hugo Chavez của Venezuela cũng đang t́m mọi cách dùng dầu mỏ để xây
dựng chủ nghĩa xă hội trên đất nước này. “Cách mạng xă hội chủ nghĩa”
chẳng qua chỉ là chiêu bài giúp ông ta thuyết phục dân chúng chấp
nhận thay đổi Hiến pháp qua cuộc trưng cầu dân ư tháng 2/2009 vừa
qua mà thôi (sau thất bại lần đầu vào tháng 12/2007) để cho ông ta
tiếp tục ngồi dài dài trên chiếc ghế quyền lực nhất của quốc gia.
Một biện pháp khác mà ông ta đă và đang sử dụng nhằm củng cố quyền
lực của ḿnh là tấn công vào các cơ quan truyền thông đối lập, với
yêu cầu đóng cửa hoặc cho tiến hành điều tra với những cáo buộc
thiếu căn cứ. Cho dù tầng lớp dân nghèo hiện nay có thể đang hồ hởi
với các chính sách dân tuư của ông nhưng về lâu dài chính họ sẽ phải
chịu ảnh hưởng nặng nề, khi những động lực cho tăng trưởng và phát
triển lần lượt bị các chính sách theo kiểu này làm cho thui chột.
Rốt cuộc, các tầng lớp doanh nhân, trí thức và trung lưu mới là động
lực chính cho gần như mọi cỗ máy kinh tế; hơn ai hết, họ cần được
hít thở bầu không khí của tự do – dân chủ để phát huy khả năng sáng
tạo của ḿnh, tạo ra những giá trị mới mẻ và lành mạnh cho xă hội
đồng thời dẫn dắt xă hội phát triển. Thế giới có lẽ chẳng cần phải
đợi lâu trước khi được chứng kiến một Venezuela xă hội chủ nghĩa
“mang màu sắc Hugo Chavez.” (Tạp chí Foreign Policy [Mỹ] tháng
9/2008 đánh giá thủ đô Caracas của Venezuela là thành phố nguy hiểm
nhất thế giới với tỷ lệ 130 vụ giết người trên 100.000 dân. Tạp chí
c̣n cho biết thêm: Trên thực tế, kể từ khi Chavez lên nắm quyền năm
1998, tỷ lệ số vụ giết người chính thức đă tăng lên 67% – chủ yếu là
do t́nh trạng bạo lực ma tuư và băng nhóm gia tăng. Theo tạp chí The
Guardian của Anh, tốc độ lạm phát của Venezuela năm 2008 lên đến
30%, mức cao nhất trong số các nước Mỹ Latin.)
Đằng sau sự phát triển thành công của Hàn Quốc chính là cuộc đấu
tranh dai dẳng giữa một bên là các vị tổng thống độc tài cùng phe
nhóm lợi ích của ḿnh với một bên là các lực lượng tiến bộ trong xă
hội. Nỗi ám ảnh về các tổng thống độc tài đối với người dân Hàn Quốc
c̣n để lại dấu vết trong bản Hiến pháp hiện hành, với quy định nhiệm
kỳ tổng thống kéo dài 5 năm và tổng thống không được phép tái ứng cử.
Riêng Singapore là một trường hợp ngoại lệ. Mặc dù phe đối lập ở đây
khá yếu và báo chí cũng không hoàn toàn tự do như ở các nước phát
triển nhưng hệ thống pháp luật của nó lại hết sức nghiêm minh, có
thể nói là hoàn hảo, đóng vai tṛ rất quan trọng vào sự phát triển
bền vững và lành mạnh của quốc gia này. Thành quả này chủ yếu là nhờ
ông Lư Quang Diệu, vị Thủ tướng lập quốc có tầm nh́n xa trông rộng.
Phải chăng ông đă tự định cho ḿnh triết lư “thiên hạ là nhà” của
một bậc tài trí và đạo đức hơn người?
Quyền lực là một thứ ma tuư khó cưỡng và dễ gây tác hại khôn
lường. Nhà kinh tế học vĩ đại người Mỹ Milton Friedman (1912–2006)
từng viết, “Ngay cả khi những kẻ nắm quyền lực có thiện ư từ đầu…,
quyền lực cũng sẽ vừa cuốn hút vừa nhào nặn họ thành những con người
mang bản chất khác” (Chủ nghĩa Tư bản và Tự do [Capitalism and
Freedom]). Abraham Lincoln (1809–1865) thật sâu sắc khi nhận xét:
“Hầu như tất cả mọi người đều có khả năng đứng vững trước nghịch
cảnh, nhưng nếu muốn thử phẩm chất của một người, hăy trao quyền lực
cho anh ta.” Cựu Tổng thống Mỹ Clinton mới đây được Reuters dẫn lời
khi ông phát biểu tại Istanbul hôm 2/11/2009: “Thật hay là đất nước
chúng tôi có giới hạn [về nhiệm kỳ tổng thống]. Nếu không, tôi đă ở
lại Nhà Trắng cho tới khi được đưa ra khỏi đấy trong một cỗ quan tài.
Hoặc bị đánh bại trong một cuộc bầu cử.” Không phải ngẫu nhiên mà
giới chính trị gia nói riêng và người dân Đức nói chung đều hồ hởi
sau khi Liên minh Dân chủ – Xă hội Cơ đốc giáo (CDU-CSU) của bà
Angela Merkel đi đến thành lập chính phủ liên hiệp với Đảng Dân chủ
Tự do (FDP, dành được 15% số phiếu ủng hộ) trong nhiệm kỳ chính phủ
2009-2013 thay v́ Đảng Xă hội Dân chủ (SPD, dành được 23% phiếu bầu)
như trong nhiệm kỳ 2005-2009: họ muốn có một phe đối lập mạnh để
giám sát hoạt động của chính phủ. Napoleon Bonaparte (1769-1821)
từng phát biểu: “Quần chúng chỉ là những con số không dài vô tận,
giá trị chính là ở con số đầu!” Vấn đề, bởi vậy, nằm ở cơ chế cho
phép t́m ra “con số đầu” giá trị nhất đồng thời pḥng ngừa nguy cơ
lạm dụng quyền lực của nó. Quyền lực luôn có xu hướng tự tha hoá, và
một khi điều đó xẩy ra th́ những hệ luỵ kiểu như “mặt trái của kinh
tế thị trường” là thực tế không tránh khỏi. Nhà văn người Anh
William Hazlitt (1778-1830) từng để lại cho hậu thế câu châm ngôn
nổi tiếng khiến người đời nhiều khi phải tự soi ḿnh: “Yêu tự do là
t́nh yêu dành cho người khác, yêu quyền lực là yêu chính bản thân
ḿnh.”
Hệ thống thiết chế thượng tầng khác nhau cũng tạo ra những giá
trị khác nhau, trong đó có tầng lớp hữu sản. Ở các nước công nghiệp
phát triển với hệ thống pháp luật chắc chắn và minh bạch cùng một
nền báo chí tự do, giới tư bản thường là những người có tinh thần
doanh nghiệp, tài năng, giàu sức sáng tạo, giàu ư tưởng, giàu nghị
lực. Và cuối cùng họ thường dùng tài sản của ḿnh để phụng sự xă hội
theo nhiều cách khác nhau, không chỉ đơn thuần là nhằm mục đích
“quảng bá” hay “khuếch trương”: Hỗ trợ nhân đạo; hiến tặng cho các
trường đại học, các viện nghiên cứu; tài trợ cho các tổ chức phi
chính phủ… Ngược lại, giới nhà giàu (chủ yếu là giới tư bản thân hữu
và các quan chức tham nhũng) ở các nước mới nổi với hệ thống pháp
luật thiếu minh bạch hoặc bị các nhóm lợi ích thao túng như Trung
Quốc, Nga, Việt Nam… lại thường gây ra nhiều tai tiếng. (Chuyện một
triệu phú ở phía Bắc Trung Quốc mới đây đă chi ra 600.000 USD để mua
một con chó rồi cử 30 chiếc xe Mercedez đến sân bay Hàm Dương, thành
phố Tây An, tỉnh Thiểm Tây để đón con chó này hoàn toàn không phải
là cá biệt.) “Đằng sau mọi gia tài lớn đều ẩn chứa một tội ác” (Honoré
de Balzac, Pháp, 1799-1850; Le pére Gorilot, 1834). Những ǵ mà
chúng ta đang được chứng kiến ở Việt Nam ngày nay là một minh chứng
sống động cho nhận định ấy. Xă hội chắc chắn không thu được lợi lộc
ǵ đáng kể, thậm chí nhiều khi c̣n phải chịu ảnh hưởng tiêu cực, từ
“tầng lớp hữu sản” như vậy. Lối xử thế khác nhau của hai tầng lớp
hữu sản kể trên là bằng chứng cho chúng ta thấy sự khác biệt về
chuẩn mực đạo đức giữa những nước có hệ thống thiết chế thượng tầng
khác nhau.
Dù vậy, xin quư vị chớ vội bi quan. Pḥng bệnh hơn chữa bệnh.
Việc nêu lên những bài học đắt giá như trên là để tránh cho đất nước
khỏi đi vào vết xe đổ mà thôi. Chúng ta có ít nhất hai lư do để lạc
quan. Thứ nhất, các giá trị tự do – dân chủ đă đem lại sự phát triển
mạnh mẽ cho hầu hết các quốc gia trên thế giới, dễ nhận thấy nhất là
các nước xă hội chủ nghĩa sau khi chuyển sang chế độ dân chủ đều
phát triển, tuy ở mức độ khác nhau – đây là điều đương nhiên. Lễ kỷ
niệm 20 năm ngày Bức tường Berlin sụp đổ [9/11/1989] vừa qua chính
là một dịp giúp chúng ta kiểm nghiệm lại chân lư đó. (Một sự kiện
rung chuyển thế giới và làm thay đổi hoàn toàn bộ mặt thế giới như
thế mà báo chí Việt Nam lại vẫn cứ im thin thít – đủ cho thấy thực
chất của cái gọi là “tự do báo chí” ở Việt Nam hiện nay!?) T́nh h́nh
tương tự cũng diễn ra ngay tại các quốc gia độc tài nhưng vẫn theo
đuổi các giá trị tự do – dân chủ trong quá khứ như Hàn Quốc, Chile,
Argentina… (Việc Việt Nam chúng ta thoát ra khỏi khủng hoảng trầm
trọng sau năm 1986 thông qua “đổi mới” cũng chính là nhờ thực tế
người dân được “cởi trói” và có nhiều tự do hơn.) Thứ hai, các chế
độ dân chủ đều có khả năng tự điều chỉnh theo chiều hướng tích cực
mà không tạo ra những xáo trộn lớn trong xă hội. (Điều này phần nào
giải thích cho lư do tại sao đến nay vẫn c̣n tồn tại khoảng cách
nhất định giữa Đông Đức và Tây Đức.) Các nhà độc tài cùng những thế
lực phản tiến bộ đứng đằng sau họ rốt cuộc đều bị khuất phục bởi
những lực lượng tiến bộ trong xă hội (dù thường là với cái giá chẳng
hề rẻ chút nào). Đáng tiếc là cả hai phẩm chất vừa nêu đều không tồn
tại trong những nước theo chủ nghĩa xă hội như Việt Nam và Trung
Quốc, bởi đây là những quốc gia độc tài theo kiểu toàn trị – khác
với h́nh thức độc tài chuyên quyền như của các nước trên đây. Những
cụm từ mỹ miều như “chủ nghĩa xă hội,” “nhà nước pháp quyền xă hội
chủ nghĩa” hay “nhà nước của dân, do dân và v́ dân” đều chỉ là mánh
khoé loè bịp không hơn không kém của các chính trị gia độc tài,
thiển cận, tham lam và ích kỷ.
5. Kết luận
Trước thời điểm 9/11/1989 chỉ một ngày thôi, không ai ở Châu Âu
lại có thể h́nh dung ra nổi những ǵ sẽ diễn ra với Bức tường Berlin
ngay trong ngày hôm sau cả. Cũng vậy, không ai có thể h́nh dung ra
bộ mặt của thế giới trong 5 hay 10 năm tới sẽ như thế nào. Song nếu
chúng ta luôn đi theo sự dẫn dắt của những giá trị tự do – dân chủ
mà nhân loại tiến bộ đă lựa chọn từ bao thế kỷ qua, con đường của
đất nước sẽ luôn là con đường sáng. Các nhà lănh đạo Việt Nam cần
phải hiểu rằng cải cách thể chế triệt để là con đường tất yếu nếu
không muốn đất nước sớm rơi vào hỗn loạn và tŕ trệ với một nền đạo
đức xuống cấp trầm trọng; mọi biện pháp cải cách nửa vời theo kiểu
“thí điểm” đều là mầm mống gây nên những bất ổn lâu dài cho xă hội.
Ngoài ra, một Việt Nam hậu cải cách cần phải thể hiện tinh thần
“thượng tôn pháp luật” ngay từ đầu. Muốn vậy, Hiến pháp phải được
xây dựng một cách khoa học, thực tế và có tầm nh́n dài hạn; vừa bảo
đảm sự chế ước và cân bằng giữa các nhánh lập pháp, hành pháp và tư
pháp của quyền lực Nhà nước, vừa bảo đảm các quyền tự do cơ bản của
nhân dân. Hệ thống văn bản pháp luật trước hết phải thể hiện tính
nghiêm minh, với quan niệm rằng nhân đạo với một người sẽ là vô nhân
đạo với nhiều người khác; hạn chế tối đa việc trao quyền định đoạt
tuỳ ư cho người thừa hành pháp luật; thưởng phạt phải công minh,
thậm chí người phạm tội có địa vị càng cao càng không được phép
nương tay, tuyệt đối tránh tạo ra những tiền lệ nguy hiểm. Cuối cùng,
quan trọng không kém, các nhà lănh đạo, các chính trị gia cần phải
nghĩ đến tương lai của giống ṇi, không ngừng trau dồi đạo đức và
biết hy sinh quyền lợi cá nhân trên tinh thần “dĩ công vi thượng.”
Nếu được như vậy, không có lư do ǵ khiến chúng ta không dám tin
tưởng vào một tương lai sán lạn của dân tộc Việt Nam.
Quảng Trị – 16/11/2009
© 2009 Lê Anh Hùng
© 2009 talawas blog
--------------------------------------------------------------------------------
[1] Dù Singapore vẫn có thiên hướng là một nhà nước chuyên quyền.
[2] Bản thân hệ thống các văn bản pháp luật hiện hành cũng đầy
bất cập, tạo lỗ hổng cho tiêu cực trong xă hội. Chẳng hạn, Việt Nam
hiện nay mới chỉ có Pháp lệnh Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm
1999. Trong rất nhiều vụ tranh chấp, việc người tiêu dùng phải chứng
minh lỗi do bên bị đơn (thương nhân) gây ra là rất khó khi họ không
có khả năng giám định cũng như hiểu biết khác về quy tŕnh, thủ tục…
Kết quả là hàng loạt các vụ xâm phạm nặng nề đến quyền lợi người
tiêu dùng như xăng dầu, điện nước, điện thoại, vệ sinh an toàn thực
phẩm… đă xẩy ra nhưng chưa có trường hợp nào nhà sản xuất bồi thường
và cũng chưa có trường hợp nào người tiêu dùng lên tiếng khiếu kiện
tập thể được chấp nhận.
Một ví dụ khác là loại súng hoa cải đă gieo rắc bao nỗi kinh
hoàng cho người dân ở nhiều địa phương khu vực phía Bắc từ năm 2006
đến nay nhưng theo các quy định trong Bộ Luật H́nh sự hiện hành,
súng hoa cải không nằm trong danh mục vũ khí quân dụng. Hành vi tàng
trữ loại súng này không bị xử lư h́nh sự mà chỉ bị xử phạt hành
chính, tức là không thể khởi tố vụ án h́nh sự, không thể bắt tạm
giam cũng như áp dụng h́nh phạt tù đối với những người tàng trữ loại
vũ khí nguy hiểm này mà chỉ có thể áp dụng h́nh phạt tiền.
Một Chính phủ cồng kềnh, ôm đồm – ngay cả vụ việc tiêu cực ở Bệnh
viện Phú Lương (Thái Nguyên) như báo chí nêu trong thời gian vừa
qua, Thủ tướng cũng [phải] can thiệp, và chắc chắn mọi chuyện đâu
rồi sẽ lại vào đấy – nhưng chẳng làm được việc ǵ cho ra hồn. Cơn
băo khủng hoảng tài chính thế giới c̣n chưa kịp h́nh thành trên đảo
Luzon của Philippines nhưng trên đất liền Việt Nam cơn “băo lạm phát”
đă lên đến cấp độ ngoài tầm kiểm soát. Một Quốc hội xuân thu nhị kỳ
mới gặp nhau và sau những màn tay bắt mặt mừng rồi ca tụng Chính phủ
là thi nhau “bấm nút.” Dân chúng th́ đang ngẩn ngơ không biết nên
vui hay nên buồn với tin sốt dẻo: Tại kỳ đại hội Đảng các cấp sắp
tới, Bộ Chính trị sẽ cho phép khoảng 15% số địa phương thực hiện
“thí điểm” việc đại hội bầu cấp uỷ trực tiếp!
[3] Chính bản thân vợ chồng tôi (tác giả) cuối năm 2005 cũng đă
từng phải bỏ nhà bỏ cửa ở Hà Nội rồi vào Quảng Trị nhằm trốn chạy
khỏi sự truy sát của các băng nhóm xă hội đen.
[4] Thị trường cũng không hề có lỗi khi mà giá vàng trong nước
ngày 11/11/2009 vừa rồi lên đến 29,3 triệu VNĐ/lượng – cao hơn giá
vàng thế giới đến khoảng 5 triệu VNĐ/lượng – rồi nhanh chóng rớt
xuống c̣n 24,9 triệu VNĐ/lượng trong ngày 13/11 sau khi Thống đốc
Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Giàu tuyên bố vào chiều 11/11: “Sẽ có
5-6 doanh nghiệp được phép nhập khẩu vàng với khối lượng không hạn
chế.”
Trước những cú đ̣n chính sách theo lối du kích “thoắt ẩn, thoắt
hiện” (xuất phát từ tầm nh́n thiển cận và trong rất nhiều trường hợp
có sự thao túng của các nhóm lợi ích đang ngày càng tác oai tác quái)
như thế, thị trường không hoang mang rối trí th́ mới là lạ. Từ đó nó
sẽ c̣n đẻ ra những chuyện tiêu cực khác như buôn lậu chẳng hạn. (Chỉ
riếng con số “5-6 doanh nghiệp” nói trên cũng đủ khiến nhiều người
phải đặt câu hỏi rồi.)
Tham vọng “tái cấu trúc nền kinh tế” của các nhà hoạch định chính
sách ở Việt Nam hiện nay lại là thể hiện một tư duy ngây thơ, đầy
“nhiệt t́nh cách mạng” khác nữa. Không phải vô cớ mà nhà kinh tế học
kiêm triết gia vĩ đại người Áo Friedrich August Hayek (1899-1992)
từng nhận định: Chúng ta chưa bao giờ thiết kế được hệ thống kinh tế
của ḿnh. Chúng ta không đủ thông minh để làm điều đó. (F. A. Hayek,
Trật tự chính trị của một dân tộc tự do [The Political Order of a
Free People], 1979) Hăy nh́n xem các chính sách của Chính phủ đă
giúp ích được ǵ cho ngành công nghiệp ô tô trong suốt mười mấy năm
qua th́ đủ biết.
[5] Nếu không tính PetroVietnam, thử hỏi các doanh nghiệp Nhà
nước ở Việt Nam c̣n đóng góp được bao nhiêu vào nền kinh tế quốc dân?
[6] Nhận định này c̣n xuất phát từ chính kinh nghiệm của bản thân
tác giả.
[7] Ngày 13/10/2009 vừa qua, một toà án ở Moscow đă bác bỏ đơn
kiện của ông Yevgeny Dzhugashvili, cháu trai của Joseph Stalin, đối
với tờ báo Nga độc lập Novaya Gazeta. Theo Dzhugashvili, bài báo đă
xúc phạm đến ông nội của ông khi gọi Stalin là “kẻ giết người khát
máu.” (Hăng thông tấn PAP – 13/10/2009)
|
|