Quê
hương em đẹp lắm
Xin anh nhớ về thăm
Đường đi có hoa nở
Lối về không xa xăm
Quê hương em rực rỡ
Bát ngát cả trời thơ
Vườn xưa màu xanh thẳm
Mẹ cha đang đón chờ
Quê hương em khoai sắn
Lúa mạ vẫn xanh tươi
T́nh người như biễn cả
Tiếng cười rộn trăng thanh
Quê hương em mầu nhiệm
Có tuổi trẻ tham thiền
Đông dân làng nghe Pháp
Như ḍng suối b́nh yên...
Tôi được đọc bài thơ
trên đây của thầy viện trưởng tu
viện Kim Sơn, tôi thích lắm, đă phổ
nhạc để hát và để ôm ấp h́nh
ảnh đẹp của quê hương. Trở
lại Việt Nam lần thứ 7 sau 22 năm
sống tha phương trên đất khách quê người,
và cũng là lần đầu tiên tôi trở
lại Việt Nam một ḿnh, thiếu vắng h́nh
bóng của người chồng mà tôi rất
đổi yêu thương. Chồng tôi hy sinh
ở lại để cho người vợ
trẻ lên đường thực hiện
những ước mơ đă ấp ủ trong ḷng
nhiều năm tháng. Ước mơ được
chăm sóc hai mẹ già trong những ngày cuối
đời và ước mơ được
sống gần hơn với những người
nghèo khó, ước mơ không chỉ riêng
một ḿnh tôi mà là ước mơ của
cả hai chúng tôi. Dĩ nhiên, hạnh phúc nào cũng
phải đổi bằng thương đau. Khi
quyết định rời bỏ việc làm,
một công việc mà tôi rất thích, phụ trách
về bảo hiểm thuốc, răng và mắt
cho công chức và nhân viên của toà thị
sảnh thành phố Toronto - City of Toronto. Một
trong những hạnh phúc lớn nhất của công
việc là tôi được các bạn đồng
nghiệp thương mến và ủng hộ tôi
thực hiện những ước mơ hướng
về mănh đất khốn khổ và đầy
thương đau mà tôi đă sinh ra và lớn lên
trong suốt quảng đời thơ ấu.

Một ḿnh lên đường, tôi nghĩ
rằng ḿnh phải trải qua nhiều khó khăn
về mặt chính quyền, về sự giao
tiếp và phải tự quyết định
tất cả những ǵ xảy đến cho tôi.
Lúc đó Mẹ Hiền Quán Thế Âm là người
bạn đồng hành, là chiếc phao trước
biển trời mênh mông, để tôi nương
tựa và nuôi dưỡng niềm tin rằng chung
quanh tôi có chư Phật, chư vị Bồ Tát,
cùng chư hiền thánh tăng, những người
khuất mặt trong mười phương
thế giới luôn luôn hộ tŕ và che chở tôi
nếu tôi là một người làm việc
từ thiện, người con hiếu dâu
thảo đúng đạo lư. Tôi đă phải
cẩn thận khi phát nguyện làm việc, v́
đă có nhiều người sau một thời
gian làm Từ Thiện th́ họ vô t́nh đă
Từ đi cái Thiện của thủa ban đầu.
Nói đến con người 'Từ
Thiện', tôi lại nhớ đến một câu
chuyện ngây ngô, và dể thương. Nguyên là
trong khi đi thực hiện chương tŕnh
mổ mắt, sau những đợt mổ, tôi thường
trở lại thăm một số bệnh nhân có
tên trong danh sách, xem gia cảnh và t́nh trạng
của mắt sáng được bao nhiêu phần
trăm. Trong điều kiện đó tôi lại
được biết thêm đời sống
về kinh tế của người dân quê. Như
gia đ́nh hai ông bà cụ già, ông th́ mù, c̣n bà
th́ vừa mù vừa bị thấp khớp, đi
đứng khó khăn, hoàn toàn mất sức lao
động, sống với số tiền 80,000.00$
VN ($8 Can hay $6 U.S.) mỗi tháng, đây là số
tiền hưu sau nhiều năm cần mẫn làm
việc cho nước cho dân . Có nhiều cặp
vợ chồng trẻ với vài ba đứa con
nhỏ, một thửa ruộng khiêm nhường,
nếu trời thương cho được mùa
th́ đủ gạo ăn, c̣n mất mùa th́ không
biết lấy ǵ mà sống, một mảnh vườn
đất khô cằn thiếu nước tưới,
với những luống khoai lang, rau muống, bí,
bầu vừa để là thức ăn cho gia
đ́nh vừa là thực phẩm nấu cháo cho
heo. Nh́n qua hoàn cảnh đó, tôi nghĩ đến
việc đưa họ vào Huế để
đi làm, có tiền lương căn bản hàng
tháng để nuôi các con ăn học.
Hôm đó anh Hoè giới thiệu vào cho
tôi 4 người: chị Cúc, chị Loan, chị
Châu và chị Thủy. Nhưng trước ngày
đi th́ chị Cúc đă bị người
chồng say rượu đánh lúc 2 giờ sáng, lúc
mà mọi người đang ngủ say để
không ai có thể đến cứu chị,
kết quả là chị bị anh dùng xà-beng
vạch rách nhiều đường trên mặt và
bị thương trên đầu, phải đi
trạm xá chửa trị và khâu lại nhiều
mũi. Nghe tin th́ buồn lắm, buồn cho
kiếp đời của người phụ
nữ, buồn cho căn bệnh rượu chè bài
bạc đang có mặt khắp nơi trên quê hương
đă khổ đau lại càng đau khổ hơn,
buồn cho loài người thiếu trí tuệ
vụng tu để măi là nghiệp chướng
cho nhau. Tôi ngậm ngùi dùng một ít tiền trong
quỹ tặng nhờ người đem
đến trạm xá để tặng và an
ủi chị Cúc. Ba chị c̣n lại vẫn
tiếp tục đi vào Huế.
Khi đưa các chị đến bến xe, anh Ḥe
đă gởi một lá thư dài cho tôi, nói
rỏ hoàn cảnh và khả năng của
từng người. Các chị rất lo lắng
v́ không biết cô Diệu Liên nào đó là ai! có
bán các chị qua biên giới Thái Lan .. .. Trung
Quốc, vào làm chị em với Thúy Kiều
của cụ Nguyễn Du không? Anh Ḥe giải thích
rằng: '' chị Diệu Liên là một người
Từ Thiện, chị đi giúp những người
khốn khổ, và không bao giờ hại ai
hết, mọi việc ở Huế sẽ có
chị ấy lo cho các chị''. Các chị
ngồi trên xe đ̣ vào Huế mà cứ phân vân
về 'người Từ Thiện', hai chị Loan
và Thủy nói với nhau rằng: '' người
Mỹ, người Nga .. .. th́ ta có nghe qua, nhưng
chưa từng nghe 'Người Từ Thiện',
họ là ai mà chỉ có đi giúp người
chứ không bao giờ hại người, chỉ
có người ở cơi trên mới sống như
vậy thôi''. Các chị lại nghĩ thêm: ''Như
vậy, khi gặp 'người Từ Thiện' th́
mền (ḿnh) nói tiếng chi, họ nói tiếng
Từ Thiện mền nói tiếng Việt Nam th́
làm răng hiểu được nhau, rồi có
những lúc 'người Từ Thiện' biến
mất th́ làm răng mà giúp mền khi mền
gặp khó khăn.. ..'. Hai chị Loan và Thủy
đưa ra nhiều câu hỏi mà không ai trả
lời được. Chỉ có chị Châu là
một cô giáo bị mất việc làm v́ không có
biên chế, th́ văn minh hơn, trả lời
rằng: '' ..th́ người Từ Thiện cũng
như người mền thôi, chỉ có khác là
họ chuyên đi làm việc thiện'' nói xong
chị Châu v́ bị chóng mặt nên đi vào
giấc ngủ thật say, để lại
một mối lo âu lớn đè nặng trong ḷng
hai chị Loan và Thủy. Qua khung cửa, mặt
trời đă lên cao, chiếu xuống những
dảy núi với rừng cây xanh tươi
của đất trời xứ Việt, chiếc
xe đ̣ vẫn chạy vun vút trên con đường
nối liền hai miền Nam Bắc; bỏ
lại sau lưng các chị bao nổi nhớ thương
của mái tranh nghèo và cảnh gia đ́nh đói
khổ, để t́m đến một thế
giới mới, thế giới mà ḿnh chưa
một lần được biết đến,
với con 'người Từ Thiện' lạ lùng
như câu chuyện thần tiên.
Ba chị đến Huế, tôi ra đón
các chị khi chiếc xe xích lô chở cả 3
đổ trước cửa nhà. Họ ngỡ ngàng
trông thấy một cô bé nhỏ thó, trong
chiếc váy ngắn, với mái tóc 'đờ mi'
như con trai, cười nói luyên thuyên bằng
tiếng Việt đàng hoàng, mà c̣n tự xưng:
'' em là Diệu Liên''. Các chị hơi kinh
ngạc, răng mà không giống các nàng tiên trong
chuyện cổ tích, áo màu rực rỡ thướt
tha chấm đất, tóc dài buông thả,
chắc là cô tiên của thời đại
mới, của thế kỷ 21 hay chăng? Nhưng
cũng vẫn c̣n lo sợ, chị Loan thúc chị
Châu: '' đưa ngay lá thư của cậu Ḥe
cho 'người Từ Thiện' đi, nhỡ cô
ta biến mất th́ biết đâu mà t́m''.
Trời đă về chiều, tôi để
họ nghỉ ngơi ăn uống thoải mái
tại nhà, đợi ngày mai đi nhận
việc làm. Tối hôm đó, như thường
lệ, khi có khách đến nhà, nếu có điều
kiện, tôi thường thích ngủ chung với
người ta, để tâm sự và biết
rỏ hơn đời sống của từng người
và hoàn cảnh sống chung quanh họ. Mọi người
ngồi lại với nhau trên bộ ngựa
lớn, nói chuyện thật khuya. Các chị
kể cho tôi nghe hoàn cảnh gia đ́nh của
từng người và cuộc sống của người
dân quê. Các chị cũng kể luôn những suy
nghĩ cuả các chị về 'Người
Từ Thiện' và nỗi lo lắng làm tôi
vừa buồn cười lại vừa thương
hại. Cười cho sự ngây ngô của các
chị và thương cho cuộc đời
của họ, quá khổ cực nên chỉ
biết chạy gạo cho có được ngày
hai bữa cơm, c̣n thế giới bên ngoài th́ h́nh
như là mù tịt. Rồi các chị ôm lấy 2
cánh tay tôi, thay nhau nâng niu và nói: ' mát hè, mềm
hè.. .. hay hè! 'Người Từ Thiện' cũng
giống người mền hè'. Vừa nhột
lại vừa thương nên tôi chỉ biết
cười để chịu đựng và hưởng
sự tŕu mến mà các chị đă dành cho tôi,
4 chị em cười gịn giă hạnh phúc bên
nhau. Bên cạnh đó tôi cũng nói cho các
chị biết một vài đặc tính của
người Huế - cách ăn, cách nói, cách hành
xử - tôi đặt nặng về tánh thật
thà, ngay thẳng, cần cù, nhẫn nhục. Khuyên
các chị hăy bỏ đi những tánh hẹp ḥi
nhỏ mọn, nhắm vào lợi ích dài lâu cho chính
ḿnh và cho con cháu mai sau. Các chị ngồi nghe
đến ngẩn ngơ. Bổng nhiên bầu không
khí trở nên trầm lặng, mọi người
nh́n nhau, thở nhẹ và mĩm cười. Trong
sự vắng lặng đó có tiếng nói
nhỏ nhưng rất rỏ của ai đó trong
các chị: '' lạ hè, đúng là 'Người
Từ Thiện' không giống người
mền''.
Nói ngày đi th́ phải nói đến
ngày về. Ngày tôi rời Canada, các bạn ai cũng
trêu chọc, thách thức rằng tôi khó có
thể xa chồng trên 3 tháng, v́ suốt quảng
thời gian trên 20 năm trong nghĩa vợ
chồng, tôi và Minh chỉ có xa nhau 3 ngày, 3 ngày
Minh đi dự khóa tỉnh tu. Bây giờ bổng
nhiên lại quyết định lên đường
t́m 'lư tưởng' trong 6 tháng, eo ơi! thật là
ghê. Nhưng kỳ lạ làm sao, khi về đến
Việt Nam, gặp lại quư Thầy, quư Ni Sư,
quư bác và các anh chị, trong nước cũng như
ngoài nước, cùng nhau lên chương tŕnh, bàn
kế hoạch và cùng nhau xuôi Nam ngược
Bắc. Tiếp xúc với nhiều hoàn cảnh không
giống nhau, tôi hăng say với công việc
đến lúc nh́n lại sổ tay th́ ḿnh đă
xa Minh vừa tṛn 4 tháng. Bốn tháng rồi sáu tháng
trôi qua, tôi lên đường trở về
Canada, buồn vui lẫm lộn khó tả.
Được gặp lại người
chồng yêu thương là một hạnh phúc
lớn, nhưng phải xa 2 bà mẹ già và bỏ
lại công việc từ thiện mà tôi rất
đổi yêu thương lại là một
nỗi xót xa.
Trên đường bay về Toronto, máy
bay đáp xuống Alasska, mọi hành khách
được xuống phi trường. Đi
thiền hành qua các cửa tiệm, một thế
giới hoàn toàn khác lạ với những ǵ ḿnh
đă sống trong những ngày tháng qua. Đời
sống vật chất cao quá, sang trọng quá,
đẹp đẻ quá. Sự rực rỡ
đă khơi dậy ḷng ham muốn trong tôi,
một âm thanh nào đó trong hư không thúc
dục bên tai: thế giới nầy là của ta,
ta có quyền được hưởng nhưng
lạc thú nầy, tại sao ta lại phải
sống lam lũ kham khổ như những ngày tháng
qua. Và cũng trong cùng sát na đó, ư thức
trở về, giúp tôi quay lại với nụ cười
và hơi thở thơm ngon quên thuộc. Năng
lực của ư thức đă soi sáng lại trong
tôi h́nh ảnh Mẹ Hiền Quán Thế Âm
cuả tâm nguyện, luôn có mặt bên tôi trong
suốt cuộc hành tŕnh. Ḷng tôi phẳng
lặng, sóng đă trở về với tự tánh
của nước, phẳng lặng như tờ
để ta có thể soi rỏ được
bản lai diện mục của ḿnh bên ḍng
suối trong dưới ánh trăng vằng
vặc trong đêm rằm trên quê mẹ dấu yêu.
Bước nhẹ những bước chân
thảnh thơi theo cùng dịp điệu của
hơi thở, tôi hát thầm bài kệ
Thở vào thở ra
Là hoa tươi mát
Là núi vững vàng
Nước tĩnh lặng chiếu
Không gian thênh thang
Tâm Tịnh An, Tôn Nữ Diệu Liên