|
|
Điện hạt nhân
sẽ đắt gấp ba
Phùng Liên Đoàn
[1]
Nguồn :
bauXit Vietnam
Tôi không có Báo cáo đầu tư (BCĐT) của Chính phủ, nhưng nghe kể
lại báo cáo này khẳng định Nhà máy Điện hạt nhân (ĐHN) B́nh Thuận sẽ
tốn 11 tỉ USD. Tôi hiểu rơ con số này v́ tôi đă từng đánh giá hơn 50
nhà máy ĐHN ở Mỹ [xem ghi chú số 2, 3, 4, 5 ở cuối bài] cùng là xem
các đánh giá mới nhất của Vựa tư tưởng Năng lượng tại Viện Kỹ thuật
Massachusetts (Massachusetts Institute of Technology—MIT) [6] có ảnh
hưởng rất lớn đối với chính sách ĐHN ở Mỹ. Tôi xin cắt nghĩa các yếu
tố quan trọng của giá thành ĐHN dưới đây.
Giá “ḿ ăn liền” và Giá “xây lâu đài”
Nếu ta mua một nhà máy ĐHN như ta mua một xe hơi, “sáng ngủ dậy
th́ có xe ngay để lái” th́ giá tiền ta trả gọi là giá “ḿ ăn liền” (tiếng
Mỹ gọi là “overnight cost”). Nhà máy ĐHN 2 x 1350 MW Công ty điện
NRG ở Texas dự định mua của Toshiba và General Electric năm 2007
thuộc loại này, với giá là 2600 USD/kW (nhưng nhà máy không thể giao
như xe hơi!). Nhà máy ĐHN muốn xây thêm ở Turkey Point của Công ty
Florida Power and Light (nơi tôi có bạn làm việc), 2 x 1100 MW, dự
định mua của Mitsubishi và Westinghouse th́ giá 5500 tới 8200 USD/kW
thuộc loại giá xây cất lâu đài – cứ xây đâu th́ đi vay tiền trả đấy,
rồi tới khi xây xong hoàn toàn và bắt đầu vào ở th́ kết toán tổng
cộng tất cả tiền chi phí kể cả tiền trả lăi nhà băng. Tiếng Mỹ gọi
giá này là giá đầu tư (investment cost).
Dĩ nhiên, “giá đầu tư” là quan trọng nhất, bởi v́ nó là giá “ḿ
ăn liền” ở thời điểm khi nhà máy bắt đầu hoạt động một cách trơn tru,
đủ sức cho ông chủ thâu tiền điện để trả nợ ngân hàng, mua nhiên
liệu mỗi 18 tháng một lần, trả tiền lương cho hơn 500 công nhân
chuyên nghiệp, đóng tiền bảo hiểm cho việc xử lư các nhiên liệu
phóng xạ cao, đóng tiền bảo hiểm tẩy uế phóng xạ khi nhà máy hết
hoạt động, và lấy lời chút ít. Trong các lời chào bán của các công
ty quốc tế, họ chỉ tính giá “ḿ ăn liền” ở thời điểm thương lượng,
c̣n “làm sao có tiền, xây dựng cách nào, ở đâu, đă có hạ tầng cơ sở
chưa, đă có ai cho vay tiền chưa” th́ ta phải lo. Nếu ta là công tử
Bạc Liêu không biết nhiều về các chi tiết rất chuyên nghiệp th́ họ
cũng lo giùm cho ta một phần, nhưng giống như mọi dịch vụ kinh tế,
ta phải “trả thêm”, và số tiền trả thêm này sẽ diễn ra chóng mặt.
Khi ta đă nhúng tay vào chàm th́ ta khó có thể rút ra mà sạch tay
được. Thực ra, đến lúc đó, hầu hết chúng ta đă già hoặc qua đời,
việc trả tiền này con cháu ta phải lo. Với sức học và kinh tế của
70%-80% của con cháu ta c̣n thô sơ, và với nghề nghiệp như may mặc,
đánh bắt tôm cá, trồng lúa và cà phê, xuất khẩu nguyên liệu thô, và
đi làm thuê ở nước ngoài… chúng có đủ sức lo không?
Tài Liệu năm 2009 về giá “ḿ ăn liền”
của nhà máy ĐHN
Báo cáo MIT [6] do 6 vị Giáo sư, Kỹ sư và chuyên gia nổi tiếng,
trong đó 3 người là bạn học của tôi và hai người đă từng làm Bộ
trưởng Bộ Năng lượng Mỹ (DOE) và Giám đốc Cơ quan T́nh báo Trung
ương của Mỹ (Central Intelligence Agency), cho ta biết những con số
sau:
* Giá “ḿ ăn liền” vào năm 2007 của 11 nhà máy ĐHN tại Nhật và
Hàn Quốc, tổng cộng 13,582 MW, là 3496 USD/kW (đồng đô la năm 2007).
MIT đổi ra giá “ḿ ăn liền” năm 2009 là 4000 USD/kW. Giá này được
tính toán cẩn thận với các yếu tố như: thời điểm khánh thành, giá
nhà máy, giá hạ tầng cơ sở, hối suất giữa tiền Nhật, tiền Hàn và
tiền Mỹ theo từng thời điểm.
* Giá “ḿ ăn liền” năm 2007 của 6 nhà máy ĐHN, tổng cộng 13,757
MW là 3805 USD/kW (đồng đô la năm 2007). MIT đổi ra giá “ḿ ăn liền”
năm 2009 là 4000 USD/kW. Đây là khảo giá và tính toán của 6 công ty
điện lớn tại Mỹ, mỗi công ty đều ngang cỡ hoặc lớn hơn Điện Lực Việt
Nam, đang dự định xây trong phong trào “tái sinh – renaissance” của
ĐHN, bắt đầu khoảng 2014-2018 (giống Việt Nam). Và họ mới chiêng
trống rùm beng nhưng chưa làm ǵ bởi v́ c̣n sợ “mắc kẹt” nếu không
có Chính phủ Mỹ bảo trợ về giá cả.
* Giữa năm 2003 và 2009, khi báo cáo MIT có ảnh hưởng lớn tới
chính sách Hợp Tác Điện Hạt Nhân Toàn Cầu (GNEP – Global Nuclear
Energy Partnership) của Bộ Năng lượng Mỹ (DOE), th́ giá “ḿ ăn liền”
của nhà máy ĐHN tăng 15% mỗi năm, cho tới nay là 4000 USD/kW (tiền
đô la năm 2009). Hiện tượng này là do các công ty nguyên tử “va chạm
với thực tế” khi phải thực sự kư giao kèo với các hăng điện tại
những nơi “có nhu cầu thật sự” và có tiền như Trung Quốc, Phần Lan,
Nhật và Hàn Quốc, chứ không phải chỉ “có ư định” và tiền th́ c̣n
phải tính đi vay hoặc xin viện trợ. V́ phải đụng tới túi tiền theo
kinh tế thị trường và không thể duy ư chí, họ phải tính thật kỹ
trước khí kư giao kèo để không bị kiện tụng hoặc cháy túi khi thực
tế diễn ra. Vậy mà họ vẫn lo rủi ro lỗ vốn, bởi v́ nhà máy ĐHN có cả
ngàn chi tiết, nhiều gấp bội các phi thuyền không gian mà tôi biết
được qua khảo cứu sự an toàn của nhà máy ĐHN trong công tŕnh
WASH-1400 năm 1975 [2].
Cách tính nhanh chóng giá đầu tư từ giá
“ḿ ăn liền”
Công thức sau đây là cách giản dị tôi đă dùng để tóm tắt các phép
tính rất phức tạp cho việc tính giá các công tŕnh xây dựng to lớn
trong những năm 1980 khi tôi khảo sát tại sao giá thành của hơn 50
nhà máy ĐHN của Mỹ lại đắt gấp 2-5 lần giá loan báo khi bắt đầu kư
giao kèo [5].
* Gọi C1 là giá “ḿ ăn liền” Nhật, Mỹ hay Pháp chào bán với ta,
tính theo USD ở thời điểm 0 (hôm nay). Đây có thể là giá 11 tỉ USD
cho 4 nhà máy 1000 MW, hay 2750 USD/kW mà chính phủ báo cáo v́ nó
cũng tương tự với giá Toshiba và General Electric chào bán cho hăng
NRG tại Texas năm 2007.
* Gọi C2 là giá ta phải chi để chọn địa điểm, thực hiện hạ tầng
cơ sở, xây đường xá bến cảng, xây đường dây truyền điện vào hệ thống
500 KV Bắc Nam. Theo báo cáo MIT [6], th́ C2 là khoảng 20% C1 ở Mỹ
và Nhật. Theo tôi, giá này phải trên 30% C1 ở Việt Nam v́ nhiều lư
do dễ hiểu.
* Gọi T là thời gian từ khi bắt đầu xây cho tới khi xây xong. Chỉ
có Nhật và Hàn Quốc mới có kỷ lục xây trong 5 năm. Các nước khác như
Pháp, Mỹ và Anh đều chưa có kinh nghiệm này. Hai nhà máy EPR do Pháp
đang xây ở Phần Lan và ở Pháp chắc chắn sẽ mất tới 7 năm.
* Gọi I là chỉ số vật giá xây dựng leo thang. Chỉ số này cao hơn
chỉ số vật giá leo thang hàng ngày mà người dân biết rất rơ. I ở Mỹ
và các nước tiên tiến là khoảng 5%/năm trong vài năm qua, nhưng ai
cũng biết là I sẽ tăng lên hơn nhiều trong vài năm tới bởi v́ nước
nào cũng in tiền lạm phát để chống nạn khủng hoảng kinh tế ghê gớm
nhất kể từ 80 năm trước (năm 1929). I ở Việt Nam là trên 10%/năm cho
các công tŕnh lớn như xây đập Ḥa B́nh, Nhà máy lọc dầu Dung Quất.
* Gọi L là lăi suất ta phải trả khi đi vay tiền, bao gồm cả sự
kiện vật giá leo thang. Với lăi suất đi vay khoảng 8%/năm và lăi
suất “có thể kiếm ra – opportunity cost of money” ngày nay, khoảng
10%-15%/năm, th́ L tại Mỹ có thể tính ra là 11%-13%/năm. I ở Việt
Nam có thể lớn hơn 5%/năm nhưng L có thể nhỏ hơn 11%/năm v́ ta nghèo,
luôn luôn được quốc tế cho vay với phân lăi nhẹ.
* Gọi BĐX là thời điểm ta có đủ điều kiện để bắt đầu xây, ví dụ
2015. Các điều kiện là: có tiền sẵn sàng tại nhà băng và chính phủ
quốc tế bảo lănh để có thể chi trả ngay như giao kèo; có đủ đội ngũ
thầy và thợ chuyên môn để công ty ngoại quốc không phải mang tới cả
ngàn kỹ sư và công nhân (mỗi người sẽ lănh lương nhiều gấp 10-100
lần công nhân Việt Nam); có đủ các vật liệu cần thiết và công nghệ
phụ để không phải nhập cảng với giá cao hơn là thiết kế… Ta có thể
dùng con số thực tế như BĐX là 2015 để có nhà máy năm 2022.
* Gọi GĐT là giá đầu tư ở thời điểm nhà máy ĐHN bắt đầu sản xuất
điện năm 2022.
Công thức phỏng định để tính giá đầu tư ở thời điểm BĐX + T là
như sau:
GĐT = [(1+ I) ^ (BĐX-2010)] [C1 +C2] [(1 + L)^ T]
(I và L viết theo số; 5% = 0.05)
Dùng các tài liệu 2009 của MIT [6], và các giả thiết khiêm nhường
nhưng thực tế với C2 = 30 C1, BĐX = 2015, T =7, I = 5%/năm và L =
12%/năm, công thức trên cho ta vài con số “kinh khủng” sau:
* Giá nhà máy ĐHN đầu tiên tại Ninh Thuận sẽ là 9775 USD/kW vào
năm 2022 so với giá “ḿ ăn liền” là 2750 USD/kW năm 2010, hay gấp
3.6 lần. Giá các nhà máy kế tiếp sẽ đắt hơn bởi v́ trễ hơn, trừ phi
ta có thể rút ngắn thời gian xây (mà Mỹ, Anh và Pháp cũng chưa làm
được).
* Giá của nhà máy ĐHN đầu tiên tại Ninh Thuận sẽ là 11,800 USD/kW
vào năm 2022, nếu ta dùng giá C1= 3330 USD/kW của MIT như báo cáo
của MIT [6]. So với giá “ḿ ăn liền” của BCĐT thi cao gấp 4.3 lần.
Các giá này cũng không xa giá thành của các công ty điện của Mỹ tính
cho những năm 2020-2025.
Giá ĐHN sẽ gấp ba lần giá ngày nay
Giá điện bán ra từ nhà máy ĐHN, hay than, hay khí đốt, hay đập
nước, gồm sáu thành phần: trả vốn và lăi tiền đầu tư, tiền nhiên
liệu, tiền xử lư nhiên liệu có phóng xạ cao, tiền điều hành, phí tổn
phá dỡ tẩy uế phóng xạ sau 40-60 năm hoạt động, và tiền lời. Nếu
không phải là nhà máy ĐHN th́ các phí tổn liên quan tới phóng xạ là
không có.
* Với giá đầu tư khoảng 10,000 USD/kW vào năm 2022 mà ta phải
gánh vác trả “vốn và lời” hàng năm cho ngân hàng khoảng 14% mỗi năm
(gọi là carrying charge – gánh vác trả vốn và lời) th́ mỗi năm tốn
là 1400 USD. Nếu nhà máy có năng suất 90% (một việc mà sau 20 năm
hoạt động Mỹ mới thực hiện được) th́ số điện sản xuất là 7884
kWh/kW, hay giá đầu tư tốn 1400/7884 là 0.178 USD/kWh.
* Giá nhiên liệu hạt nhân rất nhỏ, chỉ khoảng 0.02 USD/kWh (năm
2022). Tôi sẽ không nói nhiều hơn ở đây v́ có nhiều chi tiết nguyên
tử và thương mại rắc rối khi tính giá nhiên liệu hạt nhân.
* Ngoài giá mua các thanh nhiên liệu ban đầu và mỗi 18 tháng, ta
c̣n phải thu tiền để xử lư các thanh nhiên liệu sau khi đă dùng.
Việc xử lư này ở Mỹ chính phủ bảo đảm là 0.001 USD/kWh từ 20 năm
nay, nhưng sẽ tăng v́ vật giá chuyên môn leo thang (chỉ số I). Việt
Nam sẽ c̣n phải trả tiền chuyên chở rất diệu vợi (v́ có nhiều luật
pháp an toàn cũng như chống ăn cắp làm bom). Tôi phỏng tính là 0.002
USD/kWh hay 10% giá nhiên liệu.
* Một nhà máy ĐHN 1000 MW sẽ cần khoảng 500-700 nhân viên làm
việc rất chuyên môn và kỷ luật. Họ gồm Ban Quản đốc, Ban Điều khiển
ḷ ĐHN, Ban Điều khiển các hệ thống làm điện, Ban Xử lư phóng xạ,
Ban Bảo tŕ nhiều ngàn chi tiết theo định kỳ hàng ngày, Ban Chuyên
chở và Ban Bảo vệ. Lương bổng của những người này cùng là vật liệu
họ dùng trong công tác cũng tốn khoảng 0.02 USD/kWh, xấp xỉ giá
nhiên liệu hạt nhân.
* Tiền nhà máy ĐHN phải thu và để dành vào một quỹ DDR
(decommissioning, decontamination and removal – ngừng hoàn toàn, tẩy
uế phóng xạ và phá dỡ để môi trường trở lại h́nh thái thiên nhiên).
Sau 40-60 năm hoạt động, tiền này dùng để tẩy uế phóng xạ và phá dỡ
mọi xây cất để Ninh Thuận trở về trạng thái thiên nhiên giống như
ngày nay (một việc chắc chắn rất khó làm được kể cả khi có tiền).
Kinh nghiệm phá dỡ các nhà máy ĐHN đă hoạt động trên 30 năm như
Yankee Rowe, Shippingport, Big Rock và Fort St Vrain ở Mỹ cho biết
là phí tổn này tương đương với khoảng 10% giá đầu tư, tính theo thời
điểm BĐX.
Nếu nhà máy ĐHN chỉ lấy lời một trinh (0.001 USD) cho mỗi kWh
điện sản xuất, th́ giá điện năm 2022 sẽ là:
* 0.239 USD/kWh. [0.178 (tiền trả vốn và lăi) + 0.02 (giá nhiên
liệu) + 0.002 (giá xử lư nhiên liệu đă dùng) + 0.02 (giá điều hành)
+ 0.018 (tiền phá rỡ) + 0.001 (tiền lời)]
* 4183 VND/kWh. [dùng hối suất là 1 USD = 17,500 VND]
* Như vậy, giá điện năm 2022 sẽ gấp khoảng ba lần giá điện hiện
nay (2009). Ta có thể hi vọng 90-95 triệu người dân vào năm 2022 sẽ
có thâu nhập cao gấp ba thâu nhập ngày nay hay không?
Giá điện nhà máy đốt than rẻ hơn v́ giá
đầu tư thấp hơn
Giá đầu tư của nhà máy than kể cả các phụ kiện lọc chất SOx ra
khỏi khói th́ rẻ hơn nhà máy ĐHN tới 35%. Nhưng giá nhiên liệu đắt
hơn nhiều, v́ mỗi năm một nhà máy than 1000 MW sẽ phải đốt khoảng 4
triệu tấn than giá khoảng 52 USD/tấn hay 0.026 USD/kWh năm 2009; và
với I = 5%/năm th́ giá 94 USD/ tấn hay 0.047 USD/kWh vào năm 2022.
Than của ta chắc phải rẻ hơn như vậy. Nếu nhà máy than phải thu khí
carbonic đem đi chôn (carbon sequestration) như các nước tân tiến
đang muốn làm để giảm thiểu hiện tượng hâm nóng khí quyển, th́ giá
nhiên liệu than sẽ tăng lên thành 0.084 USD/kWh năm 2022, tương
dương với 169 USD/tấn (năm 2022). Hiện nay, Mỹ và Trung Quốc mỗi
nước đốt hơn 1 tỉ tấn than mỗi năm, và cùng với dầu khí, hai nước
này thải ra 45 – 50% khí carbonic của toàn thế giới. Việt Nam thải
ra khí quyển không bằng vài phần ngh́n Mỹ và Trung Quốc, v́ thế ta
không nên “mê” ĐHN mà lấy lư do là giúp nhân loại “tránh hiện tượng
hâm nóng khí quyển”. Vấn đề dân sinh của ta quan trọng hơn, và dân
sinh chỉ tốt nếu ta không mắc nợ đầm đ́a và có thể tự lập mà không
phải đi xin viện trợ. Nhà máy điện dùng than ở Việt Nam, nếu điều
hành tốt như ta tự tin “thừa sức điều hành nhà máy ĐHN”, th́ sẽ đem
lại điện rẻ hơn điện của nhà máy ĐHN ít nhất 25%.
Giá thủy điện rẻ nhất
Đập nước nếu xây thật tốt th́ có giá đầu tư khá cao. Nước không
mất tiền nhưng tùy mùa và không phải lúc nào cũng có (ví dụ hạn hán).
Phí tổn điều hành một đập thủy điện cũng rất thấp. Giá điện ở những
nơi có nhiều đập nước chỉ khoảng 0.03-0.04 USD/KWh vào năm 2009 –
như ở Tây Bắc nước Mỹ và Canada, Newfoundland ở miển Đông Canada,
Vân Nam và Tam Điệp ở Tây Nam Trung Quốc. Giá điện từ các đập nước
tại Việt Nam cũng vậy. Nhiều người bắt chước các nước văn minh muốn
hạn chế việc ta dùng thủy điện với lư do “bảo vệ môi trường”. Theo
tôi, đó là ư kiến “không Việt Nam”. bởi v́ ta có nhiều rừng núi mà
ta lại nghèo, nên ta cần tận dụng nguồn điện này, lớn như Ḥa B́nh,
Sơn La, nhỏ như một ḍng sông, miễn là ta triệt để học hỏi các kiến
thức đă có sẵn về cách bảo vệ sinh vật, thực vật, lịch sử, nhân văn
và kinh tế và dùng phương pháp chống lũ lụt hữu hiệu để làm đời sống
của người dân trong vùng đỡ lam lũ hơn. Việc học hỏi này cũng dễ
thực hiện nếu ta quyết tâm. Vào những năm 1980 tôi có giúp chương
tŕnh xây đập Ḥa B́nh bằng những văn kiện chống lũ lụt và giúp
người dân sinh sống tốt đẹp hơn của chương tŕnh Tennessee Valley
Authority từ1930 cho tới 1980. Những kiến thức này cần một tinh thần
tự lập, cầu tiến, minh bạch, và liêm khiết cao mà văn hóa “chờ lệnh
ở trên” không huy động được. Các sự cố rất xấu đều có thể xảy ra nếu
ta không vun trồng những đức tính đó. Các kinh nghiệm ở Quảng Nam và
Tuy Ḥa trong cơn băo số 9 và số 11 năm 2009 chứng tỏ người có trách
nhiệm điều khiển đập tại địa phương chưa có trách nhiệm chuyên
nghiệp và tinh thần gắn bó với nghề nghiệp của ḿnh. Sự chuyên
nghiệp và gắn bó tại nhà máy ĐHN th́ c̣n khó hơn nhiều, giống như
phi công phải chuyên nghiệp và gắn bó với máy bay đắt tiền (trên 100
triệu USD) và sinh mạng của 200 hành khách.
Giá điện từ nhà máy khí đốt rẻ nhưng c̣n
tùy thuộc ở nguồn khí
Nhà máy đốt khí từ các mỏ dầu có giá đầu tư rất thấp (chỉ khoảng
25% ĐHN) mà lại có sức sản xuất điện rất cao – cao hơn 20% ĐHN và
nhà máy đốt than. Chi tiết kỹ thuật này tiếng Mỹ gọi là “heat rate”
– số calori nhiên liệu phải dùng để tạo một kWh. Từ trước đến nay,
giá hơi khí rất cao v́ khí đốt tốt hơn dầu và than nhiều. Nhưng v́
khó lưu trữ và khó chuyên chở, giá hơi khí thấp hơn dầu thô, khoảng
7 USD/mmBtu vào những năm qua, tương đương với giá 40 USD/thùng dầu
thô (hiện nay giá dầu thô là 70-75 USD/thùng). Nhưng bây giờ giá
xuống tới 5 USD/mmBtu, tương đương với 30 USD/thùng dầu thô. Sở dĩ
hơi khí xuống giá như vậy v́ người ta dùng kỹ thuật mới t́m ra là
dưới đất có rất nhiều hơi khí. Kỹ thuật mới này là phương pháp khoan
ngang (khoan một giếng thẳng tới sâu nhiều trăm mét, rồi khoan nhiều
đường ngang trổ ra bốn phương ở nhiều độ thấp khác nhau). Nhờ đó mà
trong vài năm qua Mỹ đă có nhiều hơi khí đến nỗi đang thúc đẩy một
chương tŕnh dùng hơi khí tạo điện, chạy xe hơi, sưởi ấm 50 triệu
căn nhà trong nhiều chục năm tới. Việt Nam cũng có hơi khí dùng làm
điện và có thể có hơi khí khắp nơi. Tôi hi vọng ta sẽ t́m đủ mọi
cách khám phá thêm trữ lượng khí đốt ở mọi nơi – bằng phương pháp
khoan ngang, như khoan ở “bể than sông Hồng,” vịnh Bắc Bộ, bờ biển
đồng bằng sông Cửu Long, và trên Tây Nguyên. Nhiệm vụ quan trọng và
cao cả của Quốc hội là làm sao 90-95 triệu người dân Việt Nam vào
năm 2020-2025 có nhiên liệu nấu ăn hàng ngày, có điện thắp đèn ban
đêm, và có nhiên liệu để đi lại. Các vấn đề này có thề thực hiện
bằng nhiều phương pháp nhanh hơn, tốt hơn, an toàn hơn (cho quốc gia),
và nhất là rẻ hơn ĐHN.
Lời Kết
Muốn kinh tế tăng trưởng, việc sản xuất điện là rất cần thiết.
Tuy nhiên, theo thông tin tôi có, Quốc hội cần nhiều thời gian bàn
căi cho kỹ lưỡng hậu quả kinh tế và quốc pḥng của việc mua nhà máy
ĐHN. Hậu quả này không phải ở rủi ro “an toàn phóng xạ”, bởi v́ nhà
máy ĐHN sẽ không bao giờ giết người nhiều như tai nạn giao thông,
bệnh tật do môi trường và thực phẩm thiếu vệ sinh, ung thư do các
chất hóa học mà ta ăn uống hàng ngày, đập nước bị vỡ tàn phá nhiều
làng mạc, trẻ em bị chết đuối, hoặc hậu quả của nước và khí thải từ
các nhà máy Vedan và nhà máy hóa học như nhà máy lọc dầu. Rủi ro lớn
nhất của nhà máy ĐHN là rủi ro “an toàn kinh tế, tài chính và quốc
pḥng” bởi v́ nhà máy ĐHN quá đắt tiền so với các cách làm điện khác,
xây rất lâu, điều hành rất khó, phụ thuộc ngoại quốc 100%, dễ là
tiêu điểm phá hoại khi có nội loạn hoặc chiến tranh. Rủi ro nhà máy
ĐHN nằm chết là rất cao, làm kinh tế và quốc pḥng tê liệt. Rủi ro
làm người dân kiệt quệ v́ nai lưng trả nợ cũng rất cao. Nhu cầu ĐHN
của ta không thể đi trước các nhu cầu cấp bách nhăn tiền như giáo
dục trẻ thơ; giáo dục thanh thiếu niên; giáo dục và bảo vệ người đi
làm mướn ở ngoại quốc; chữa bệnh tật cho người dân; giúp sửa sang
nơi ăn chốn ở cho nhiều triệu người khốn cùng; chăm sóc vệ sinh răng
miệng cho 90% người dân (80 triệu người); và chăm sóc người già,
người tật và những người c̣n mang dư nợ của chiến tranh.
Dĩ nhiên ta cần sản suất điện, nhưng tôi hi vọng Quốc hội hăy bàn
là tại sao ta xuất khẩu than qua Trung Quốc; tại sao ta nói đến bể
than sông Hồng; tại sao ta không t́m nguồn khí đốt tích cực hơn; tại
sao ta không sửa sang lại mạng lưới truyền điện chằng chịt ở thành
phố mà sự mất điện v́ hiệu ứng Ohm đáng giá vài tỉ USD; tại sao ta
không xem bao nhiêu văn pḥng Chính phủ dùng máy làm lạnh không khí
nhưng có rất nhiều lỗ hở và cửa kính th́ quá mỏng; tại sao ta không
bắt chước Úc dùng bóng đèn fluorescent thay v́ bóng đèn hiện tại tốn
điện gấp ba bốn lần. Đáp giải được những câu hỏi này và nhiều câu
hỏi khác sẽ đưa ta đến kết luận là ta chưa làm hết những việc dễ mà
đă muốn nhảy vào làm việc “xôm” hơn nhưng có rất nhiều rủi ro cho
tương lai của con cháu ta.
Tôi ước ǵ các nhà làm chính sách và thiết kế ĐHN có thể bỏ tiền
túi của ḿnh lập nên công ty làm nhà máy ĐHN thay v́ dùng tiền thuế
của dân hoặc đi vay nợ để mai hậu người dân phải trả. Khi các nhà
máy này xây xong, th́ phần lớn chúng tôi và quí vị lănh đạo và thiết
kế dự án hoặc đă chết, hoặc đă già, và chúng ta không ai c̣n chịu
trách nhiệm với những ǵ xảy ra. Với kinh nghiệm tạo lập các dự án
lớn ở nước ta, triển vọng rất lớn là các nhà máy ĐHN sẽ nằm chết
nhiều tháng, nhiều năm, hoặc v́ thiếu thiết bị, hoặc v́ sự cố, hoặc
v́ phá hoại, hoặc v́ chiến tranh. Bởi kinh tế của ta không tăng
trưởng 15%/năm như điện lực muốn phát triển, người dân với thu nhập
khoảng 40,000 VND/ngày không thể trả tiền điện giá 4000 VND/kWh để
nấu một nồi cơm. Chính phủ tương lai có thể rơi vào t́nh trạng tài
chính mà người ta gọi là “default – cháy túi không trả nợ được”,
giống như nhiều nhà máy điện ở Mỹ đă gặp phải khi các nhà máy xây
vào những năm 1960-1980 bị kéo dài và giá đầu tư tăng lên gấp 2, 3
có khi 5 lần giá dự toán [5]. Hơn nữa, sau khi nhà máy xây xong,
chúng cứ trục trặc hoài không sản xuất nhiều điện như thiết kế v́
người điều hành chưa có văn hóa ĐHN, thành ra tiền thâu vào không đủ
sức trả vốn và lời cho tiền đầu tư. Đấy là Mỹ có kỷ luật lao động
rất cao và không bị tàn phá bởi chiến tranh như Việt Nam.
Quốc hội là đại diện cho người dân làm chủ đất nước. Quốc Hội cần
thảo luận thật kỹ về viễn kiến cho dân tộc trước khi quyết định về
nhà máy ĐHN.
PLĐ
Ghi chú
[1] Ông Phùng Liên Đoàn, 70 tuổi, là Tổng Giám đốc Công ty tư vấn
Professional Analysis, Inc. (PAI) tại Mỹ, chuyên môn về các dịch vụ
nguyên tử và môi trường. Ông Đoàn đă từng là cố vấn cho Bộ Năng
lượng (Department of Energy-DOE) và Cơ Quan Giám định luật lệ hạt
nhân (Nuclear Regulatory Commission- NRC) của Mỹ. Ông đă tham gia
thiết kế 4 nhà máy điện hạt nhân (ĐHN) và viết hơn 100 khảo cứu và
phúc tŕnh về sự an toàn và giá thành của ĐHN so với các nguồn tạo
điện khác. Ông cũng đă tham gia tẩy uế phóng xạ tại 10 trung tâm
nguyên tử khắp nước Mỹ, cùng là khảo cứu hiện tượng hâm nóng khí
quyển do việc sử dụng năng lượng toàn cầu. Ông là đồng tác giả tài
liệu WASH-1400 về sự an toàn của 100 nhà máy ĐHN của Mỹ mà cả thế
giới đă noi gương; và sách The Second Nuclear Era: A New Start for
Nuclear Power, Praeger Publishers, New York, tiên đoán sẽ có sự phục
sinh của ĐHN. Ông Đoàn tốt nghiệp Cử nhân toán và vật lư tại đại học
Florida State University, Thạc sĩ vật lư và nguyên tử tại
Massachusetts Institute of Technology (MIT) và Tiến sĩ nguyên tử tại
MIT. Ông Đoàn đă từng làm việc tại Viện Nghiên cứu hạt nhân Đà Lạt,
1964-1967. Ông Đoàn và gia đ́nh đă bỏ hầu hết tiền để dành và tiền
hưu để làm việc từ thiện ở Việt Nam.
[2] U.S. Nuclear Regulatory Commission. 1975. WASH-1400
(NUREG-75/014): Reactor Safety Study: An Assessment of Accident Risk
in U.S. Commercial Nuclear Power Plants. Washington D.C. (ông Đoàn
là đồng tác giả)
[3] Doan L. Phung. 1985. “Light Water Reactor Safety Before and
After the Three Mile Island Accident,” Nuclear Science and
Engineering, Volume 90, No.4, American Nuclear Society.
[4] Weinberg, Spiewak, Barkenbus, Livingston and Phung, 1985. The
Second Nuclear Era: A New Start for Nuclear Power. Praeger
Publishers.
[5] Doan L. Phung. 1983. ORAU/IEA-83-1 (M). “Economics of Nuclear
Power: Past Record, Present Trends, and Future Prospects.” Institute
for Energy Analysis, Oak Ridge Associated Universities, Oak Ridge,
Tennessee, USA.
[6] John Deutch et al., MIT Energy Initiative, 2009. Update of
the MIT 2003 Report “Future of Nuclear Power”, http://web.mit.edu/nuclear
power/ Ông Đoàn quen với các tác giả. Ba trong 6 vị là bạn học của
ông Đoàn. Hai trong 6 vị đă từng làm bộ trưởng DOE của Mỹ. Một vị đă
từng là Giám đĐốc CIA của Mỹ.
HC Mạng Bauxite Việt Nam biên tập
|
|