|
|
Phiếm Luận: CON
CHÓ HÁT ĐỨNG CƯỜI NGỒI Trần Đỗ
Cẩm, Austin, Texas 12/2005
Thời gian thấm thoát, năm Gà
sắp qua nhường chỗ cho cậu Chó
trở lại dương trần. Theo đúng
thuần phong mỹ tục của dân Việt,
số mệnh hên xui của loài người trong
năm tùy thuộc vào đặc tính con Giáp năm
đó. Điển h́nh trong năm Gà nặng
truyền thống bươi móc vừa qua, thiên
hạ đua nhau "bới bèo thành bọ", cá
nhân này chơ mỏ vào đời tư của lănh
tụ kia; phe nhóm ni đá "Văng Bút"
tổ chức nớ khiến các hội đoàn
bị chia năm xẻ bẩy, tan tác run rẩy như
mắc cúm gà. Nếu tin rằng phàm trần
chịu ảnh hưởng của con Giáp ngự trị,
vậy trong năm Chó sắp tới, tương
lai, đời sống cùng vận mạng may
rủi của chúng ta sẽ ra sao? Để dễ dàng
thấu triệt mối liên quan mật thiết
giữa người và vua hạ giới năm
nay, chúng ta sẽ lần lượt t́m hiểu
nguồn gốc, đặc điểm, cũng như
địa vị trong văn chương và
lịch sử của loài vật thân thiết này.
Trước khi vào chuyện, thành
thực cầu chúc qúi vị năm mới khang an
thịnh vượng, vạn sự như ư. Cũng
xin trân trọng minh xác đây chỉ là bài
phiếm luận với mục đích mua vui nhân
dịp đầu xuân. Tránh xa nơi "hàm chó vó
ngựa, cựa gà, ngà voi" lúc nào cũng là phương
châm của tác giả, do đó, mong qúi vị vui
ḷng lượng thứ những sơ sót hay va
chạm ngoài ư muốn.
NGUỒN GỐC
LOÀI CHÓ Theo sách vở khoa học, loài chó
bắt nguồn từ giống Miacis chân có 5 móng,
trông giống như chồn, cáo sống vào
thời Eocene cách đây khoảng 40 triệu năm.
Miacis có thể leo cây, được coi là
thủy tổ của các loài chó sói, chồn, mèo.
Tới thời Oligocene cách đây chừng 20
triệu năm, Miacis tiến hóa thành giống
Cynodictis có móng thứ 5 rút lên cao gọi là móng
treo tương tự như chó ngày nay. Sau đó
Cynodictis lại đổi dạng thành giống
Tomarctus được coi là tiền thân của chó
sói xuất hiện trong thời Miocene cách đây
khoảng 15 triệu năm. Tomarctus là loài chó
rừng tai ngắn, nhưng đuôi rất dài
để giữ thăng bằng khi cần
chạy nhanh đuổi bắt những con vật
khác. Tới thời Pleistocene cách đây chừng
1 triệu năm, giống Tomarctus tiến hóa thành
loài Sói Xám tên khoa học là Canis Lupus xuất
hiện tại vùng Trung Á, lan truyền qua khu
vực Bắc Mỹ, rồi được gia súc
hóa trở thành chó nhà ngày nay.
Chó được xếp vào
loại ăn thịt Carnivora, gịng Canidae, chủng
loại Canis, do đó loài chó c̣n được
gọi chung là Canine hay K-9 tương tự như
Feline là giống mèo. Nói chung, chó cùng gịng
giống với loài sói và chó rừng khác như
Coyotes, Hyenas. Chó rừng hay chó hoang được
gia súc hóa cách đây nhiều ngàn năm, trước
những gia súc khác như ḅ, ngựa, dê v.v… v́
nhu cầu thực phẩm, săn bắt cũng như
bầu bạn với loài người.
Trong nhiều hang động
cổ, c̣n những bức tranh vẽ chó cùng
đi săn với người tiền sử cách
đây khoảng 6,500 năm trước Tây
Lịch. Tại Bắc Mỹ, Anh Quốc cũng
như Tiệp Khắc, các nhà khảo cổ cũng
t́m thấy xương chó lẫn với xương
người trong những hang động cổ xưa hàng 7, 8 ngàn năm.
Bộ xương chó xưa nhất, khoảng 10
ngàn năm trước Tây Lịch được
t́m thấy tại Đan Mạch có liên hệ
tới người thời Đá Cũ. Trong các Kim
Tự Tháp hay lăng tẩm Ai Cập cũng
thấy những xác chó loại Saluki ướp cùng
với xác người. Như vậy, chó
được gia súc hóa cùng chung sống với
loài người hầu như đồng thời
trên toàn thế giới. Cho tới khi lịch
sử được viết bằng văn
tự, nhiều loại chó được mô
tả trong sử sách cũng như qua các h́nh
khắc trên đá hay trên đồ gốm
tại vùng Ai Cập, Syria, Hy Lạp cũng như
Trung Hoa vào đời Hán. Do đó ta thấy
việc gây giống từ chó hoang thành nhiều
loại chó nhà khác nhau đă được
thực hiện ít nhất từ thời Đá
Mới cách đây nhiều ngàn năm.
Khoa học giải thích bắt
nguồn từ loài chó rừng, chó nhà theo
thời gian tiến hóa thành nhiều chủng
loại, màu sắc, đặc tính, h́nh dáng to
nhỏ khác nhau. Charles Darwin được coi là người
đầu tiên đặt nền tảng cho
thuyết tiến hóa khi xuất bản cuốn sách
“Nguồn Gốc Muôn Loài” (The Origin of Species) vào
năm 1859. Ông cho rằng thế giới sinh
học tiến hóa tiệm tiến từ một
hay số ít loài đơn giản lên nhiều loài
phức tạp hơn. Darwin bắt đầu bàn
về thuyết tiến hoá dựa vào những
quan sát thực nghiệm trong sự thuần hoá
(domestication) thú rừng thành gia súc. Thí dụ như
trường hợp chó nhà. Theo ông, sở dĩ có
loài chó nhà v́ con người gia hóa chó hoang; sau
khi thú hoang trở thành gia súc, con người
tiếp tục cấy giống (breeding) theo nhu
cầu hay sở thích riêng của mỗi cá nhân
để từ một loài thú hoang nguyên
thủy, có được nhiều giống chó nhà
như hiện nay (tỉ dụ như chó săn,
chó Nhật, chó xù, chó cụt đuôi, chó
mực, v.v.). Quá tŕnh tiệm tiến này bắt
đầu từ một thay đổi nhỏ
trong đặc tính của mỗi loài thú (tỉ
dụ như lông từ màu xám thành đen),
gọi là biến dị, rồi do con người
chọn giống, cố kết đặc tính
đó lâu ngày nên có loài chó mực. Trong quá tŕnh
thuần hóa và cấy giống, thiên nhiên tạo
ra những biến dị, c̣n con người là
yếu tố chính, chọn và pha trộn những
biến dị của con thú mà họ thích. Do ư thích
của mỗi người, thực phẩm,
nhiệt độ, môi trường, v.v. khác nhau,
nên bắt đầu từ một loài chó hoang,
nhiều người khác nhau đă gây giống
được nhiều giống chó nhà hiện
nay. H̀NH DẠNG
CỦA CHÓ Chó có nhiều giống rất khác
biệt nên vóc dáng to nhỏ, cao thấp không
giống nhau tùy theo từng loại. Đại cương
h́nh dạng chó tùy thuộc vào 3 bộ phận chính,
đó là đầu, thân và chân.
Đầu chó gồm hai loại chính:
sọ nhỏ mặt dài và sọ rộng mặt
ngắn. Xương hàm của chó mặt dài như
German Shepherd có thể dài tới 8 inches, trong khi mũi
của chó mặt ngắn như Pekingnese chỉ cách
mắt chừng 1 inch. Chó có 42 răng, bên ngoài là
6 cặp răng cửa và 2 cặp nanh nhọn và
dùng để cắn xé con mồi. Dọc theo mũi
chó là những thần kinh khứu giác nên chó
rất thính mũi và hay đánh hơi đất,
không khí hoặc cây cỏ lân cận để t́m
biết và nhận định môi trường
chung quanh. Lưỡi chó tương đối
mỏng dùng để đưa thực phẩm vào
cuống họng, liếm lông cho sạch và
tỏa mồ hôi để điều ḥa thân
nhiệt, do đó chó hay thè lưỡi khi bị
nóng. Có người cho rằng chó không bao giờ
đổ mồ hôi là hoạt động cần
thiết để điều ḥa thân nhiệt, nhưng
thật ra, chó tiết mồ hôi qua lưỡi, dưới
bàn chân chỗ không có lông và một số ít qua
da. Tai chó nguyên thủy vểnh nhưng một
số loại chó sau này tai rũ v́ có nhiều da
mềm. Tai chó rất thính, nghe được
cả những siêu âm tần số cao tai người
không nghe được, v́ vậy có thể điều
khiển chó bằng những c̣i siêu âm đặc
biệt không gây tiếng động. Mắt chó
ngoài mí trên và mí dưới, c̣n có mí giữa
nằm giấu trong khóe mắt có thể quét qua
tṛng mắt như cái quạt nước để
rửa sạch mắt. Đầu chó nối với
ḿnh chó bằng cổ dài hay ngắn tùy theo 7 xương
cổ. Tiếng chó sủa cao thấp hay to nhỏ
tùy thuộc vào chiều dài của thanh quản
trong cổ. Thân chó chứa đựng
những bộ phận quan trọng như tim, gan,
phổi, ruột v.v… chó có 13 cặp xương
sườn tạo thành lồng ngực để
che chở tim và phổi cần thiết cho
việc chạy nhảy nên ngực to hay nhỏ là
chỉ dấu cho sức mạnh hay trường
lực của chó như ta thấy loại chó săn
phải chạy nhiều nên có bụng thon,
ngực nở. Từ đầu tới đuôi chó
có cả thảy 27 xương, nhưng xương
đuôi nhiều hay ít tùy thuộc vào đuôi dài
hay cụt. Thân chó có lông mọc từ những
lỗ nhỏ trong da bao phủ, do đó có thể
dựng đứng tùy theo trạng thái của da,
tương tự như người. Ngoài ra, chó
c̣n có ria như ria cọp nhưng ít khi xử
dụng để cảm giác.
Chân chó dùng để chạy
nhảy, găi và đôi khi để đào
bới. Chân trước nối với thân ḿnh
bằng xương bả vai dài và hẹp. Chân
sau nối với thân bằng xương hông và xương
chậu tương tự như người. Chân
chó có 5 ngón trong số này có một ngón cao hay ngón
treo khó dùng để làm việc ǵ. Mặt dưới
của mỗi ngón chân là lớp da đệm như
bàn chân để dễ di chuyển và để
toát mồ hôi. V́ có khả năng săn bắt
thiên phú rất cần thiết để sinh
tồn nơi rừng núi nên chó đă được
loài người tin dùng từ lâu ngay khi c̣n trú
ngụ ngoài hoang dă hay trong hang động. Chó
cần thích hợp với nhiều môi trường
sinh sống cũng như hoạt động khác
biệt nên nẩy sinh nhiều loại như chó
săn, chó giữ nhà, chó chăn trừu và ngay
cả chó kéo xe ở những miền băng
tuyết. Chó săn với đặc tính ngực
nở, chân dài và có tài đánh hơi là loại
đầu tiên được loài người dùng
tới. Loại chó săn này có thể ngửi
thấy con mồi từ xa, đuổi rất
nhanh để phụ giúp thợ săn bắt
mồi. Loại chó săn gọi chung là Hounds,
gồm các giống thông dụng như Afghan, Saluki
và nhất là loại Greyhound như ta thường
thấy h́nh vẽ trên những chiếc xe đ̣
Greyhound. Chó săn c̣n có loại chuyên đánh hơi
gọi là "Scent Hounds" như Otterhound,
Elkhound, Basset Hound và Dachshund có mũi lớn thường
được dùng để phát hiện và liên
tục theo dấu con mồi. Chó săn cũng
được gây giống rất nhiều
tại Anh Quốc và Âu Châu gồm loại Terrier
như Fox Terrier, Welsh Terrier để săn bắt
các loại thú nhỏ như chốn, cáo, thỏ
v.v... Đây là các loại chó nhỏ nhưng mũi
rất thính, lanh lẹ và bền bỉ. Khi súng săn
được xử dụng, các loại chó mũi
thính, miệng mềm như Pointers và Retrievers
được dùng để xua chim chóc bay lên,
rồi sau đó chui vào lùm bụi để t́m lượm
những con mồi bị bắn hạ. Thoạt tiên, chó hầu như
chỉ được dùng trong việc săn
bắt, nhưng đời sống loài người
ngày càng phức tạp nên chó cũng biến
thể thành nhiều loại với nhiệm
vụ mới như giữ nhà, bảo vệ người,
gia súc. Sau này, c̣n có loại chó kéo xe, chó dẫn
đường, chó cứu người lâm
nạn, chó trận và đặc biệt là các
loại chó nhỏ để bầu bạn
với người. Như vậy, chúng ta thấy
v́ phải đảm nhiệm nhiều nhiệm
vụ khác nhau nên ngày nay có rất nhiều
loại chó với h́nh dạng, khả năng cũng
như tính t́nh khác biệt. Cho tới nay, chó
được chia thành hàng trăm loại. Đặc
san năm 2002 của Hội Chó Kennel Group Âu Châu xác
nhận tới 196 loại và Hội Chó Hoa Kỳ
công nhận 150 giống thuộc các loại thông
dụng như chó săn, chó làm việc, chó
trận, chó chăn chiên v.v…
Ngoài chó săn c̣n có chó thể
thao chuyên giúp người săn bắt chim muông
rất thuần tính và gần gũi với người
như Retriever, Spaniel, Setter v.v… Loại chó làm
việc như Saint Bernard, Great Dane, Doberman, Husky,
Pinscher … được xử dụng trong
nhiệm vụ canh giữ đất đai nhà
cửa, kéo xe, cứu người, đánh hơi
ma túy v.v… có đặc tính lớn con thông minh,
dễ dạy nhưng cần được
huấn luyện và chăm sóc đặc biệt,
đôi khi có thể trở thành nguy hiểm đối
với người thường. Loại chó
bắt chồn Terrier như Fox , Bull, Norfolk, Irish
v.v… thường nhỏ con nhưng không ưa các
loài vật khác ngay cả với đồng
loại, có đặc tính hiếu chiến và
sở trường săn đuổi những con
vật nhỏ như chồn cáo, thỏ. Loại
chó đồ chơi (toy) thường nhỏ con,
rất được dân cư ngụ nơi thành
thị ưa chuộng như Pug, Poodle, Chin, Maltese,
Chihuahua, Pekingese v.v… Loại chó chăn gia súc như
Collier, Sheepdog, Shepherd, Corgi v.v… rất thông minh,
dễ dạy, thân cận với người và
nhất là có khả năng chăn dắt các loài
vật khác; chẳng hạn như loài chó Corgi tuy
nhỏ con chỉ cao chừng 1 foot, nhưng có
thể chăn dắt và hướng dẫn
cả đàn ḅ bằng cách cắn vào cổ chân
ḅ. Do đó nếu muốn nuôi chó, chúng ta
cần xác định muốn dùng chó vào việc
ǵ để chọn lựa giống có đặc
tính thích hợp. Đa số cư dân thành phố
thường chọn loại "toy" v́
giống nhỏ, dễ dạy và rất thân
thiện với chủ. Loại chó Chihuahua
nặng khoảng 5 lbs được nhiều người
ưa chuộng v́ dễ nuôi và thích đùa
nghịch như trẻ con. Chihuahua “teacup”
nhỏ hơn, chỉ chừng 3 lbs có thể
bỏ trong ly cà phê, nhưng hơi yếu, cần
chăm sóc cẩn thận.
Đặc biệt ở Việt Nam có
giống chó Phú Quốc tương đối
nhỏ con, chỉ nặng chừng 15 kư nhưng
rất nổi tiếng về tài săn bắt và
trung thành. Đây là loại chó lông ngắn đầu
nhỏ, ḿnh thon, ngực nở, chân khỏe. Chó
Phú Quốc săn các loại thú hoang rất
giỏi kể cả các thú lớn như nai hay
hung dữ nguy hiểm như heo rừng, rắn
độc, nhưng lại rất thân thiện,
quấn quít bên chủ. Nhiều người cho
rằng chó Phú Quốc rất qúi v́ trung thành
với chủ nhưng dữ dằn đối
với kẻ lạ, giữ nhà tốt và nhất
là lanh lợi can đảm không sợ và thường
thắng các đối thủ to lớn hơn.
MỘT SỐ
ĐẶC ĐIỂM CỦA CHÓ Tuy được xếp vào loài
“ăn thịt” nhưng thật ra, chó không
chỉ ăn toàn thịt mà c̣n ăn các thứ
khác như rau cỏ, củ hột … chó Việt
Nam lại thích cơm. V́ là giống chuyên săn
mồi cần chạy nhanh, nhảy xa nên chân chó
tương đối nhỏ với chân trước
nhẹ nhàng uyển chuyển trong khi chân sau
mạnh dạn, cứng cáp. Thân nhiệt của
chó chừng 100 độ F và nhịp tim đập
vào khoảng 70 đến 130 lần mỗi phút
với chó nhỏ có nhịp tim cao hơn. Chó
thở chừng 20 lần mỗi phút, chân trước
và sau đều có 4 móng và có 78 nhiễm sắc
thể. Chó mang thai khoảng hai tháng và sống lâu
từ 8 đến 15 năm; nhưng chó 1 tuổi
tương đương với người 15
tuổi, chó 15 tuổi tương đương
với người 76 tuổi. Mũi chó rất thính
có thể đánh mùi nhạy hơn cả
triệu lần so với mũi người v́ có
nhiều thần kinh nằm dọc theo sống mũi
tương đương với một diện
tích lớn bằng chiếc khăn tay so với mũi
người chỉ nhỏ bằng con tem. Người
chỉ có khoảng 5 triệu thần kinh khứu
giác, nhưng chó Dachshund có tới 125 triệu, Fox
Terrier 150 triệu và chó chuyên môn ngửi Alsation có
tới 220 triệu do đó có thể đánh hơi
được cả vật chôn sâu dưới
đất gần nửa thước. Mũi chó c̣n
có tác dụng giảm nhiệt như một máy
điều ḥa không khí để giữ cho thân
nhiệt được b́nh thường khi
trời nóng. V́ vậy, khi chạy nhiều hay
trời nóng, chó thường thè lưỡi há
miệng thở hổn hển, không hẳn v́
mệt nhưng để thải nhiệt từ
cổ họng là chỗ nóng nhất của thân ḿnh.
Với đặc tính tự điều ḥa thân
nhiệt này, chó có thể chạy đuổi theo
con mồi rất lâu mà không bị mệt xỉu
v́ quá nóng như con mồi. Chó có thể nghe tiếng động
xa khoảng 250 yards tức là 10 lần so với
tai người; ngoài ra, tai chó với nhiều
loại như vểnh, cụp, xệ với h́nh
dáng to nhỏ khác nhau, có thể di chuyển hướng
về nơi phát ra tiếng động. Tuy
mắt chó không phân biệt được màu
sắc, chỉ nh́n thấy một vật qua
sự di chuyển, độ sáng và h́nh dáng, nhưng
lại có khả năng nh́n trong bóng tối tinh hơn
mắt người v́ đàng sau thủy tinh
thể có chất phản chiếu ánh sáng như
gương, đo đó chúng ta thường
thấy mắt chó như sáng lên trong đêm
tối. Hàm chó rất mạnh, có thể tạo
áp lực khoảng 200 lbs/sqin; loại chuyên môn
cắn như Bulldog có thể tạo áp lực lên
tới 450 lbs/sqin. Chó hay nhai vớ hay quần áo v́
nhớ mùi chủ. Lông chó thoạt đầu
đều dài và xám để che chở thân ḿnh
nơi hoang dă, sau khi được gia súc hóa và
pha giống, hiện nay trở thành nhiều màu
sắc và dài ngắn khác nhau. Đuôi chó khác
biệt tùy theo chủng loại cũng như tai
chó. Chó tuy ăn tạp, nhưng có
một số thực phẩm có thể gây nguy
hiểm. Thí dụ như chó rất ưa mùi
vị của chocolate, nhưng nếu ăn
nhiều chó sẽ bị ngộ độc v́
chất theobromine có nhiều trong loại bánh
kẹo này. Một thỏi chocolat có thể làm chó
nhỏ bị đứng tim, tiêu chảy. Nho, hành,
rượu cũng dễ làm chó bị đau
bệnh. Ngoài các chứng bệnh v́ thức ăn,
chó c̣n có thể bị lây bệnh dại khi
bị các con vật khác như mèo, chồn, dơi
cắn. Bệnh chó dại rất nguy hiểm v́ có
thể lan truyền cho người. Để pḥng
ngừa bệnh dại, nhiều quốc gia trên
thế giới như Anh, Ái Nhĩ Lan, Úc v.v…
đều có điều luật kiểm dịch
rất nghiêm ngặt , trong đó chó mèo nhập
cảng phải được cô lập trong
một thời gian khá lâu để kiểm
dịch, trong khi các quốc gia khác bắt buộc
chó phải được chích ngừa. Chó c̣n
bị bệnh sán lăi có thể lậy truyền
qua nước miếng hay phân. Chí rận cũng
là bệnh chó thường mắc phải. Về kỷ lục, con chó lớn
nhất trên thế giới được ghi
nhận thuộc giống Old English Mastiff tên Zobra cân
nặng 343 lbs, dài 8 ft 3 in vào năm 1989. Chó cao
nhất tên Shamgret Danzas cao 42 inches tức là trên
một thước, nặng 238 lbs. Nhỏ nhất
là chó Yorkie thuộc vùng Blacburn bên Anh, khi 2
tuổi chỉ cao gần 4 inches, nặng 4 ounces
giống như con chuột nhỏ. Chó già nhất
sống được 19 năm 5 tháng bên Úc.
Tại Hoa Kỳ, trung b́nh 1 trong 3 gia đ́nh nuôi
chó và mỗi năm có 5 triệu chó con ra đời.
Chó ngay từ khi xuất hiện trên
mặt địa cầu đă là giống chung
sống từng đoàn để dễ săn
mồi và bảo vệ lẫn nhau. V́ vậy,
những toán tầu ngầm của Đức
trong Thế Chiến 2 được gọi là
“Wolf Pack”. Mỗi bầy chó hoang đều có
một con lớn dẫn đầu, do đó khi nuôi
trong nhà, chó cũng coi mọi người trong gia
đ́nh đều thuộc cùng bầy nên thường
chỉ nghe theo và quấn quít với người
nào gần gũi nhất coi như chủ bầy.
Điều này rất quan trọng nếu chúng ta
muốn huấn luyện chó cho thuần thục.
Chó biểu lộ t́nh cảm bằng tiếng
sủa hay những cử động của thân ḿnh.
Khi vui, tai chó vểnh lên và vẫy đuôi liên
tục. Lúc muốn chơi giỡn, chó cúi mọp
ḿnh thấp xuống, hai chân trước ḅ sát
đất trong khi hai chân sau đứng cao, đuôi
vẫy. Khi giận dữ, đầu chó cúi
thấp, tai co ngược về phía sau sát đầu,
mắt thu nhỏ lại, nhe răng, miệng
gầm gừ, đuối thẳng trong tư
thế vồ mồi. Chó tỏ ư thần phục
bằng cách nằm ngửa để được
găi bụng. CÁC CON CHÓ
NỔI TIẾNG Qua gịng thời gian, có rất
nhiều chó đă chứng tỏ ḷng trung thành
và tận tụy phục vụ con người qua
nhiều hoàn cảnh khác nhau. Sau đây là một
số chó tiêu biểu. Chó Bobby tại Greyfriers bên Anh thường
theo chủ tới tiệm ăn đúng 1 giờ
trưa khi có tiếng súng nổ báo giờ
ngọ. Khi chủ ăn, Bobby nằm dưới
chân. Năm 1858, v́ chủ chết nên Bobby bị
bỏ hoang ngoài đường. nhưng chỉ ba
ngày sau, khi tiếng súng báo giờ nổ như
mọi ngày, Bobby lại tới tiệm ăn cũ
như khi chủ c̣n sống, sau đó về
ngủ trên mộ chủ. Từ đó, ngày nào
Bobby cũng tới tiệm ăn đúng giờ
rồi lại quay về mộ chủ. Nhiều người
tính đưa Bobby về nơi trú ngụ ấm
áp hơn nhưng Bobby không chịu nhất định
ở bên mộ chủ ṛng ră 14 năm cho tới
khi chết vào năm 1872. Ḷng trung thành của
Bobby khiến dân chúng ngưỡng mộ; họ
chôn Bobby gần mộ chủ trên đó có tượng
của Bobby. Chó Cai Jack là biểu tượng
của Lữ Đoàn Bộ Binh Dublin bên Anh. Jack
bị thương nhưng vẫn nằm canh xác
chết của chủ là một lính Đức trong
thế chiến thứ nhất. Sau đó Jack
được lính Anh mang về nuôi, cùng chia
xẻ đới sống khổ cực và nguy
hiểm trong giao thông hào nên sinh ḷng cảm
mến những chủ mới. Jack rất can đảm
và lập nhiều chiến công nên được
tuyên dương công trạng và thưởng Anh Dũng
Bội Tinh. Trong kỹ nghệ điện
ảnh, “Lassie Come Home” là phim được
Hollywood sản xuất từ năm 1943. Con chó
thủ vai Lassie tên là Pal đă diễn xuất
thật xuất sắc khiến khán giả
nhất là các em nhỏ rất ái mộ. Đại
cương phim kể chuyện một con chó trung
thành phải vượt qua hàng trăm dặm
đường gian khổ để t́m chủ
là đôi thiếu niên nam nữ do Elizabeth Taylor và
Roddy McDowel thủ diễn. Pal trở thành một
tài tử bốn chân nổi tiếng và là minh
tinh chó đầu tiên trong loạt phim và
truyền thanh Lassie kéo dài tới 50 năm!
Ngoài các giống chó “đại
chúng”, c̣n có loại chó vương giả
giống nhỏ trước đây chỉ có
những ông hoàng bà chúa hay giới qúi tộc
nuôi. Chó Bichon Frise nguồn gốc từ đảo
Canary được triều đ́nh Pháp rất
ưa chuộng. Chó nhỏ Brussels Griffon được
Hoàng Gia Bỉ, đặc biệt là Bà Hoàng Astrid
yêu thích. Loại chó Pekingese bắt nguồn
từ thới nhà Hán khoảng 200 trước Tây
Lịch, c̣n được gọi là chó Sư
Tử dành riêng cho vua chúa Trung Hoa, kẻ nào
trộm chó sẽ bị tử h́nh. Khi chủ
chết, chó Pekingese thường bị chôn
sống trong mộ để bảo vệ chủ
trong cơi âm giống như chó Saluki của Ai
Cập! Chó Pu bắt nguồn từ Á Châu
được thương gia đưa sang Âu
Châu, rất thịnh hành trong thời nữ hoàng
Victorias bên Anh cũng như giới qúi tộc Âu
Châu. Hoàng Hậu Marie Antoinette và bà Hoàng Josephine
của Pháp đều nuôi loại chó này. Chó
Maltese có từ thời cổ Ai Cập do giới
thương nhân Phoenician đưa qua đảo
Malta và vùng Địa Trung Hải. Loại chó
nhỏ này rất được các bà hoàng ưa
thích và được coi là loại chó cưng
của các mệnh phụ. Nữ Hoàng Anh Elizabeth
là chủ một chó Maltese. Chó Toy Spaniel rất
thịnh hành trong các triều đ́nh Âu Châu và
được đưa qua Anh vào thế kỷ
16. Thời điểm cực thịnh của
loại chó này là dưới triều vua Charles 11
và được phong là hiệp sĩ (cavalier).
Bà Hoàng Mary rất thích loại chó này. Khi bà
bị hành h́nh tại lâu dài Fothering vào năm
1587, con chó Toy Spaniel của bà lẩn trốn dưới
gấu váy, đao phủ thủ chỉ phát
hiện sau khi bà đă chết. Papillon là chó
nhỏ xưa nhất tại lục địa Âu
Châu bắt nguồn từ Ư. Các mệnh phụ
Marie Antoinette và Madame de Pompadour là chủ chó
loại này. Các nhà danh họa như Rubens và
Rambrand cũng thường vẽ chó Papillon. Chó
Lhasa Apso của Tây Tạng, một loại chó xưa
nhất khởi đầu từ khoảng 800 năm
trước Tây Lịch được coi như
lai giống giữa loại Terrier và Spaniel Tây
Tạng. Đây là loại chó thiêng khi xưa
được coi như sư tử nhỏ
rất ít khi được đưa ra bên ngoài,
chỉ được nuôi trong các tu viện để
bảo vệ Phật và chùa chiền. Chó Shih-Tsu
được coi như lai giống giữa
loại Pekingese và Lhasa-Apso chỉ nuôi trong ṿng
Tử Cấm Thành bên Trung Hoa, măi tới năm
1930 mới được đưa qua nước
Anh. CHÓ TRONG KHOA
HỌC Chó không những chỉ giúp
việc săn bắn hay bầu bạn với người,
mà c̣n được xử dụng thay người
trong các cuộc thí nghiệm khoa học. Nhiều
chó được dùng thay phi hành gia để
thử nghiệm quần áo, dụng cụ, máy
thở và cả hệ thống truyền tin trên
các phi thuyền không gian. Về phương
diện này, các con chó Nga được coi là
những chó phi hành tiên phong.
Trong lănh vực sinh vật học,
ông Pavlov đă thực hiện khá nhiều thí
nghiệm về “tiết tâm linh” (nhễu nước
miếng) liên quan tới chó. Ivan Pavlov là người
Nga đă thử nghiệm bằng cách đánh vài
tiếng chuông mỗi khi cho chó ăn. Chó thấy
đồ ăn liền chảy nước
miếng để hỗ trợ việc tiêu hóa.
Lâu dần chó quen với tiếng chuông cùng đi
đôi với đồ ăn nên sau đó Pavlov
chỉ đánh chuông nhưng không có đồ
ăn, chó vẫn tiết ra nước miếng.
V́ những phát kiến thực tiễn “phản
xạ có điều kiện” liên quan tới
tiêu hóa này, Pavlov được giải thưởng
Nobel Y Học vào năm 1904. Các khảo cứu
của Pavlov được dùng làm nền
tảng cho thuyết “thói quen tâm lư” do John Watson
phát triển sau này.
Thành ngữ “Dog Days of Summer”
bắt đầu từ ngày 3 tháng 7 đến 11
tháng 8 mỗi năm là một truyền thuyết
khá lư thú được dùng để chỉ
những ngày nóng nhất trong năm, bắt
nguồn từ thời cổ La Mă và Hy Lạp. Người
thời cổ cho rằng khi sao Sirius nằm
thẳng hàng với mặt trời và địa
cầu, nhiệt độ dưới trái đất
sẽ gia tăng do độ nóng của mặt
trời và sao Sirius cộng lại. Thật sự,
các nhà thiên văn học xác định rằng
nhiệt độ của trái đất chỉ
do mặt trời chi phối.
CHÓ VỊ
THUỐC Đối với người
đông phương, thịt chó không những là
món thực phẩm thông dụng, mà c̣n là phương
thuốc hiệu nghiệm chữa được
nhiều thứ bệnh. Nhiều người cho
rằng dân Á Châu ưa thịt chó v́ phần
lớn cho rằng đây là một loại
thuốc. Dân Trung Hoa gọi thịt cầy
là "hương nhục" là có lư do chính
đáng: v́ khi thịt được sao tẩm
các vị thuốc Bắc ăn sẽ làm mát gan,
bổ thận, giữ ấm chống lạnh cho cơ
thể. C̣n trong dân gian ở ta cũng từng có
kinh nghiệm dùng cật chó mực chữa
chứng nghiến răng, đái dầm. Thịt
dê vị ngọt, tính ấm, ích khí bổ hư,
khai vị kiên lực, sinh cơ tráng dương,
từ xưa tới nay vẫn được coi
là loại thực phẩm bổ dương
rất tốt. Thịt chó cũng vị ngọt,
tính ấm, bổ trung ích khí, ấm thận
trợ dương, tăng cường khả năng
giữ ấm, chống lạnh. Trong "Bản
thảo cương mục" nói rằng: Thịt chó có tác dụng "yên
ngũ tạng, ấm lưng cật, bổ
huyết mạch, ích thận bổ vị, tráng
khí lực, bổ ngũ lao thất thương
(bồi bổ ngũ tạng bị tổn thương),
là một loại thức ăn tuyệt hảo
về mùa đông. Tuy nhiên, sau khi ăn thịt dê
hoặc thịt chó, chớ nên uống trà ngay,
nếu không sẽ bất lợi cho sức
khỏe. Bởi v́, trong thịt dê và thịt chó
có chứa nhiều protein, c̣n trong lá chè có
nhiều axít tannic. Nếu sau khi ăn thịt dê
hoặc thịt chó mà uống ngay trà th́ axít
tannnic trong lá chè kết hợp với protein trong
thịt dê, thịt chó tạo thành một
chất có tên tannalbin có tác dụng cầm
giữ, làm cho nhu động ruột yếu đi,
lượng nước trong phân cũng giảm hơn,
khiến cho việc đi ngoài không được
thông, thậm chí sinh ra táo bón. Như vậy, các
chất độc và chất gây ra ung thư
sẽ nằm lâu trong ruột, cơ thể
phải hấp thụ, gây nguy hại cho sức
khỏe. Chính v́ vậy, sau khi ăn thịt dê
hoặc thịt chó, chớ nên uống trà ngay.
Nhiều người truyền
tụng rằng ăn thịt cầy bổ dương,
nhưng cần có riềng để át mùi mỡ
chó, làm dễ tiêu, giảm đầy bụng. V́
thế nên mới có câu:
“Con gà cục tác lá chanh Thịt chó nấu với phấn
hoa, sâm và nấm là thức ăn tăng lực.
Món thịt cầy 250g, đậu đen 50g, nêm
muối, đường, bột ngũ vị hương
vừa ăn, nấu chín hoặc thịt cầy
ướp đại hồi, tiểu hồi,
vỏ quế, trần b́, thảo quả, gừng
tươi, muối, nêm vừa ăn, nấu chín
được xem là món ăn “Ôn thận,
trợ dương, ôn trung, kiện tỳ”.
Sự phổ thông của các món
ăn chế biến từ thịt chó tại
Đại Hàn một phần cũng do ḷng tin cho
rằng đây là một một món ăn bổ dưỡng.
Quan niệm về vị trí độc tôn của
người đàn ông trong xă hội Đại
Hàn cũng góp phần làm cho thịt chó trở
thành món ăn đặc biệt trong ẩm
thực của người Hàn. Phần lớn
những người thưởng thức thịt
chó là đàn ông v́ tương truyền, món
ăn này có tác dụng đặc biệt đối
với việc tăng cường sinh lực cho
người đàn ông trong chuyện chăn
gối. Trong đơn thuốc điều
trị, nhiều bác sĩ Đại Hàn đă kê
toa thịt chó cho bữa ăn hàng ngày để
phục hồi sức khỏe cho các bệnh nhân
sau khi giải phẫu hoặc tăng cường
sinh lực cho các bệnh nhân mắc bệnh
hiểm nghèo. Theo quan niệm của người
Đại Hàn, thịt chó c̣n có tác dụng
giải nhiệt mùa hè và giúp cơ thể tăng
sức đề kháng với các loại bệnh
dịch. Theo một trong những cuốn
sách mà Hải Thượng Lăn Ông, ông tổ
của y học phương Đông để
lại, thịt chó được coi là một
vị quư có tác dụng tốt đổi với
lục phủ ngũ tạng, thúc đẩy
tuần hoàn máu, tǎng cường khả năng
sinh lư ở nam giới ... và nh́n chung là là
bồi bổ rất tốt cho cơ thể.
Chó có khả năng t́nh dục
mạnh nên theo quan niệm “ăn ǵ bổ
nấy”, cật và ngọc hành chó được
dùng làm thuốc bổ thận, tráng dương,
trị nhược dương, di tinh, lưng
mỏi, gối mềm. Danh tiếng nhất trong
họ nhà cẩu là hải cẩu (chó biển)
có đời sống đa thê, một con đực
sống với vài chục con cái, tuy vui chơi nhưng
vẫn không quên... nhiệm vụ nên thuốc tam
tinh hải cẩu bổ thận hoàn c̣n truyền
lại tới này nay. Ở Việt Nam dạo trước,
nhà thuốc Vơ Văn Vân chuyên sản xuất
loại thuốc tam tinh này.
Trong các loại thuốc nam dùng
để cầm máu trị thương, có
một loại thực vật khá thông dụng là
cây cẩu tích thân có nhiều lông như lông
chó, c̣n gọi là cây lông cu li, kim mao cẩu tích,
cẩu tồn mao, cây lông khỉ, (tên khoa học
là cybotium barometz). Loại cây này có nhiều ở
vùng đồi núi cao như Bạch Mă (Thừa
Thiên), Đà Lạt... Người ta vặt lông
cẩu tích, rồi tẩm cồn 90 độ
rồi phơi khô. Khi bị vết thương
máu ra nhiều th́ lấy đắp vào vết thương
rồi băng ép lại, máu sẽ cầm rất
nhanh. Cây cẩu tích sẽ ra lông trở lại
nếu ta phun rượu trắng vào gốc
rồi mang để vào nơi thoáng mát.
Khi nói đến chó thuốc thang
và bệnh tật, nhiều người liên tưởng
ngay tới bệnh chó dại do loài vật
truyền sang người. Ở người,
bệnh dại bắt đầu bằng những
dấu hiệu không rỏ rệt. Bệnh nhân
cảm thấy uể oải khó chịu trong người,
hơi sốt nóng, đôi khi bị nhức đầu,
và mất cảm giác đói bụng. Dần
dần th́ triệu chứng rối loạn
thần kinh xuất hiện ra, như mất
ngủ, tinh thần trở nên căng thẳng,
sợ tiếng động, sợ ánh sáng, hay
bị kích thích và sinh ảo giác. Kế đến
là bị co giật hoặc bị tê liệt, nước
miếng nước bọt tiết ra rất
nhiều và nuốt rất khó khăn. Bệnh
nhân tỏ vẻ rất sợ nước
(hydrophobia). Bệnh nhân lên cơn điên dại,
lúc tỉnh, lúc mê, kế đến là tê
liệt bắt đầu ở 2 chân (paralysie
ascendante) sau đó th́ liệt cả 2 tay, cuối
cùng là liệt hô hấp và chết. Một khi
triệu chứng đă xuất hiện ra th́
không thể chữa trị kịp nữa.
Việc chích ngừa sau khi bị
thú cắn, chủ yếu nhầm 2 mục đích
chính. Trước hết là cấp ngay cho bệnh
nhân một lượng kháng thể chống
bệnh dại. Đây là phương pháp
miễn dịch thụ động (passive
immunization). Ngày xưa người ta dùng huyết
thanh (serum antirabique) của ngựa đă được
chủng ngừa dại từ trước,
cần phải chích một khối lượng
rất lớn và nhiều mũi. Phương pháp
nầy rất đau đớn, và có thể gây
ra những phản ứng bất lợi nên bây
giờ không c̣n được xử dụng
nửa. Để thay thay thế, hiện nay
hầu hết các quốc gia tân tiến trên
thế giới đều dùng chất immune
globulins (Ig) c̣n gọi là gamma globulins trích từ
huyết tương (plasma) người gọi là
Human Rabies Immune Globulins (HRIG) để chích cho
bệnh nhân bị chó cắn.
CHÓ TRONG VĂN CHƯƠNG
VÀ LỊCH SỬ Chó là loài vật rất gần gũi
với người, do đó được
mệnh danh là "bạn thân nhất của người"
(man's best friend). Đặc điểm của chó là
trung thành với chủ, bất kể giàu nghèo như
tục ngữ ta có câu “con không chê cha mẹ
khó, chó chẳng chê chủ nghèo”. Điển
h́nh khi khai quật di tích thành phố Pompeii bên Ư
bị chôn vùi v́ núi lửa Vesuvis vào năm 79,
các khảo cổ gia c̣n t́m thấy xác chó
nằm vắt qua xác trẻ con, như cố
gắng che chở cho chủ khi có tai nạn.
Mấy con Kẩu Kầy hay các anh chị xướng
ca vô loại qụy lụy bọn bất lương
để kiếm chút xương thừa cơm
cặn, phản bội bạn bè đồng đội
đă cưu mang chúng kể ra không bằng chó
về mặt trung thành này. Khi nghiên cứu tường
tận về nguồn gốc, đời sống
cũng như đặc tính của loài chó, chúng
ta thấy chó được phát triển song song
với sự tiến bộ của loài người.
Do đó, ngoài những tranh vẽ trong hang động
cổ hay trên đồ gốm, chó cũng
được ghi lại rất nhiều trong
thần thoại và văn chương nhân
loại từ Âu sang Á. Điều đáng ghi là
người thời cổ thường dùng h́nh
ảnh chó để chỉ sự liên quan đến
cái chết và âm giới. Một số người
Việt chúng ta tin rằng dưới âm phủ
có con chó ngao dữ dằn canh cửa không để
các vong hồn trốn về dương gian mà
phải đi qua cầu Nại Hà và ăn cháo lú
Mụ Bà để quên hết tiền kiếp trước
khi đầu thai. Do đó trong truyện Lục
Súc Tranh Công, con muông tức là chó kể công như
sau: “Khi sống th́ giữ ǵn của
đời,
Ngay từ thời thượng
cổ, người Ai Cập đă thờ
phụng thần Anubis đầu chó ḿnh người,
tay cầm roi là thần cai trị âm giới
Necropolis là nghĩa trang tương tự như
Diêm Vương. Anubis là con của thần Ra và
Nephthys c̣n đảm nhiệm việc hướng
dẫn các linh hồn trong bóng tối của địa
phủ và cân tim của người chết để
so sánh thiện ác cũng như trông coi, bảo
tồn những xác ướp để có
thể tái sinh sau này. Anubis c̣n biết được
số mạng sống chết của con người
nên được coi là thần giữ sổ
tử như Nam Tào. Do đó, trong các ngôi cổ
mộ hay Kim Tự Tháp, chúng ta thấy nhiều
h́nh tượng của Anubis. Tại Hy Lạp, văn hào Homer tác giả của thiên hùng ca “Odyssey” vào thế kỷ 9 trước Tây Lịch được coi là người đầu tiên viết về chó. Người La Mă dùng chó để canh giữ nhà cửa và dinh thự và nhà nào nuôi chó phải để bảng “Cave Canem” có nghĩa là coi chừng chó; ngoài ra họ c̣n là giống dân đầu tiên xử dụng chó trong chiến trận.
Vào thời nhà Hán bên Trung Hoa
khoảng thế kỷ 3 trước Tây Lịch,
có nhiều h́nh trên đồ gốm và tranh
vẽ chó được chôn chung với chủ.
Chó nhỏ cũng rất được phổ
thông tại Trung Hoa thời trước, thường
được cho vào tay áo thụng để sưởi
ấm. Trong lịch sử, có rất
nhiều chuyện liên quan đến chó. Người
Anh tin rằng chó là bạn đồng hành trung
thành và đáng tin cậy, theo và bảo vệ
chủ cho tới chết như lịch sử
kể lại chó Cabal rất trung thành của Vua
Athur thời trung cổ. Ngoài ra, nhiều người
c̣n tin tưởng rằng chó có giác quan hay linh
tính đặc biệt biết trước
được tai nạn sẽ xảy đến
cho chủ. Thí dụ như công tước
Carnivon, người khám phá mộ vua Tutankhamen
tức King Tut trong kim tự tháp Ai Cập đă vướng
lời nguyền v́ xâm phạm ngôi cổ mộ
nên bị bạo bệnh rồi chết, con chó
của ông cũng chết chỉ vài giờ sau
đó. Nhiều người thân cận cũng
kể lại mấy giờ trước khi
tổng thống Abraham Lincoln bị ám sát, con chó
của ông tru rất thê thảm và chạy
cuống cuồng quanh ṭa Bạch Ốc.
Người thời trung cổ cũng
tin rằng chó tru là điềm bất lành. Chó
tru khi có trẻ ra đời được coi là
điềm không may cho đứa bé. Cho tru bên
ngoài nhà là điềm người trong nhà sẽ
bị tai họa. Người Ái Nhĩ Lan tin
rằng khi chó tự dưng đào vườn
nhà nào, báo hiệu nhà đó sẽ có người
chết. Một số dân quê Hoa Kỳ tin rằng
khi chó ngủ thẳng đuôi là điềm
sẽ có tai họa sẽ tới từ hướng
đuôi chỉ. Tuy vậy, không phải chó
chỉ đưa tới những điềm
bất tường mà c̣n mang tới điềm
lành. Thí dụ như chó lạ theo về nhà th́
hên như câu "Mèo tới nhà th́ khó, chó
tới nhà th́ sang"; thấy chó khoang chạy
cắt ngang đường đi là điềm
làm ăn khấm khá.
V́ tiếng tru thảm thiết
của chó trong đêm vắng thường gây
kinh hoàng nên chó cũng được nhắc
nhiều trong truyện kinh dị với tin tưởng
rằng tiếng tru của chó là báo hiệu
của Thần Chết đang thi hành nhiệm
vụ, tương tự như huyền thoại
nữ thần Diana của Hy Lạp cưỡi xe
chó bay trên trời để lượm hồn người
chết. Nổi tiếng nhất là tác phẩm
"Con chó của ḍng họ Baskervilles" của
Sir Athur Conan Doyle trong đó thám tử Sherlock Holmes
và Bác Sĩ Watson điều tra về cái chết
thần bí của công tước Sir Charles
Baskerville trong ṭa lâu đài của gịng họ
Baskervilles ở Dartmoor v́ dân chúng đồn đại
rằng gịng họ Baskervilles sẽ lần lượt
bị tiêu diệt bắng con chó đầu đen
khổng lồ. Nhưng Sherlock Holmes điều tra
thật ra đây chỉ và một vụ sát nhân
được che dấu khéo léo v́ người
trong gia đ́nh tranh chấp gia tài.
Chúng ta đă biết chuyện
Tarzan được bày khỉ nuôi nên biết leo
trèo như khỉ và trở thành chúa sơn lâm;
nhưng c̣n chuyện cậu bé Mowgli được
chó sói nuôi cũng nổi tiếng không kém v́
đây là nền tảng cho phong trào Sói Con trong Hướng
Đạo. “Truyện Rừng Xanh” (The Jungle Book)
của Rudyard Kipling, thuật lại cậu bé
Mowgli bị một con hổ gian ác tên là Shere Khan
bắt, may thay cậu được báo đen
Bagheera cứu bằng cách đổi con ḅ lấy
cậu bé. Bagheera mang cậu bé về gửi cho
một gia đ́nh sói trong bầy Seeonee do sói già
cô độc Akela dẫn dắt. Nhưng hổ
Shere Khan vẫn không chịu bỏ, cấu kết
với bầy khỉ vô trật tự Bandar-Log
t́m mọi cách hăm hại Mowgli. Nhưng mọi âm
mưu của hổ Shere Khan và bầy khỉ
Bandar-Log đều bị bẻ găy. Khi chung
sống cùng bầy sói, Mowgli được
gấu Baloo dạy luật rừng xanh, báo Bagheera
chỉ cách đi săn, chim Chil dạy ca hát, trăn
Kaa dạy múa, c̣n voi già Hathi chuyên kể
chuyện cổ tích cho bầy sói nghe.
Dần dà Mowgli lớn lên, bầy
sói bàn với nhau là đă tới lúc Mowgli
cần một cuộc sống ấm êm với anh
em cùng giống. Bầy quyết định
trả Mowgli về với loài người. Mowgli
từ giă bầy sói thương yêu, trở
về làng xưa và hứa sẽ trở lại
thăm bầy cùng hang sói, nơi mà cậu
được nuôi nấng từ thuở mới
lọt ḷng. Người Mỹ thường
dùng thành ngữ "the hair of the dog" để
chỉ phương cách hoặc phương
thuốc trị say rượu, thí dụ như
"Use this hair of the dog to cure hangover"; thành
ngữ này bắt nguồi từ niềm tin
rằng khi bị chó dại cắn th́ phải
chữa bằng cách lấy lông chó dại đắp
vào vết thương. Nhiều ông Hoàng bà Chúa
triều đ́nh Pháp khoảng thế kỷ 18
rất thích nuôi chó loại Poodle với lông tóc
cắt tỉa cẩn thận. Bên Đức nhà tu
hành nào không giữ được giới
luật khi chết trên bia một khắc h́nh chó
Poodle. Trong Anh ngữ cũng có rất
nhiều thành ngữ liên quan đến chó như
“The barking of a dog does not disturb the man on a camel”
(mặc chó sủa, lạc đà cứ đi),
“Beware of a silent dog and still water” (đề pḥng
chó không sủa và nơi nước lặng”,
“A barking dog never bites” (chó sủa th́ không
cắn”) v.v… Vào thế kỷ 17 bên Anh có ông
Hoàng Rupert ra trận bách chiến bách thắng
khiến mọi người đồn rằng
ông có một phù thủy biến h́nh thành con chó
lúc nào cũng bên cạnh. Khi con chó bị
chết, ông Hoàng mới bị bại trận
lần đầu tiên.
Đầu thế chiến thứ
2, quân đội Anh ra lệnh giết 200,000 quân
khuyển đă được xử dụng
rất hiệu quả trong các trận chiến trước
v́ họ tin rằng chiến tranh mới là
chiến tranh của cơ giới và máy móc,
vả lại cũng để tiết kiệm
thực phẩm. Trong khi đó, Đức Quốc Xă
lại xử dụng rất nhiều chó loại
Shepherd và Doberman trong nhiệm vụ pḥng thủ cũng
như tấn công. Do đó, người Anh
phải chật vật kiếm chó để
huấn luyện tại các trường quân
khuyển ở Gloucester, Miến Điện và Ai
Cập. Đến năm 1942, quân đội Anh
bắt đầu dùng "chó dù" cùng nhảy
với lính và Lực Lượng Đặc Biệt
Anh nhảy dù thám sát và phát hiện những nơi
nguy hiểm. Quân khuyển Rob đă nhảy dù 8
lần cùng lính Anh. Tới năm 1944, quân đội
Anh có đến khoảng 7 ngàn quân khuyển
được huấn luyện tinh thục trong
nhiệm vụ tác chiến, do đó nhiều quân
khuyển đă chiến đấu và chết
rất anh dũng ngoài chiến trường. Trong
khi nhiều quân khuyển được tuyên dương
công trạng tại mặt trận th́ nơi
hậu tuyến, nhiều con chó cũng lập
được công lớn trong việc tiếp
cứu người bị nạn bom đạn
chôn vùi như chó Fluff cố moi lỗ trong nhà
bị sập chui ra ngoài kiếm người
tới cứu gia đ́nh chủ, chó Peggy cũng
kiếm người tới cứu được
hai mẹ con.
Gần đây nhất, trong vụ phá hoại tại World Trade Center vào ngày 11 tháng 9 năm 2001, khoảng 300 chó cảnh sát được đưa tới địa điểm bị nạn để tím kiếm nạn nhân bị chôn vùi. Chó Appollo của cảnh sát có mặt tại chỗ trong ṿng 15 phút. Hai con chó tên Roselle và Salty đă hướng dẫn chủ của chúng là ông Michael Hingson và Omar Riversa cùng một phụ nữ khác từ lầu 71 qua nhiều tầng lầu đầy người và bụi khói tối đen xuống dưới đất an toàn. Do đó, cả ba chó Appollo, Roselle và Salty đều được thưởng huy chương Dickin. Trong quân đội , danh từ
“dog tag” hay thẻ bài được bắt
nguồn từ thế chiến thứ nhất. Trước
đó vào thời nội chiến Hoa Kỳ, quân
đội ghi tên họ, quân số, đơn
vị v.v… của quân nhân tử trận vào
một mảnh giấy ghim vào tử thi để
dễ báo cáo. Sau đó v́ giấy thường
bị rách và cũng khó truy tầm chi tiết
về người đă chết nên lư lịch
được khắc vào miếng gỗ mỏng
dùi lỗ để quân lính đeo vào cổ.
Tới năm 1913, quân đội bắt buộc
quân nhân nào cũng phải đeo bảng lư
lịch được in trên một đĩa
mỏng bằng kim loại. Tới thời đệ
nhị thế chiến, đĩa mỏng
được làm nhỏ lại giống như
bảng tên bằng kim loại không han rỉ đeo
trên cổ chó, trong đó khắc họ tên, quân
số và loại máu của người mang, do
đó gọi là dog tag hay thẻ bài. Mỗi quân
nhân được phát hai dog tag và hai sợi giây
đeo cổ một dài một ngắn. Giây
ngắn dùng để đeo cổ khi ra trận
để thể bài không chạm nhau gây ra
tiếng động, và cũng để cột
vào chân tử sĩ. Các quân nhân Lực Lượng
Đặc biệt đôi khi c̣n được
cấp phát thẻ bài bằng kim khí màu đen hay
bằng plastic để không phản chiếu ánh
sáng hay gây tiếng động khi công tác.
Qua lănh vực giải trí, các
cuộc đấu chó c̣n được coi như
một môn thể thao bắt nguồn từ
thới cổ La Mă. Dưới thời vua Lucullus,
đàn chó được lùa vào đấu trường
để chiến đấu với các loại
dă thú khác như voi và cọp ... Vào thế
kỷ thứ 12 bên Anh, chó cũng được
đưa ra đánh nhau đến chết với
sư tử, voi và gấu tại Bear Garden nằm
về phía nam bờ sông Thames. Ngoài ra, cón có
nhiều cuộc thi đấu chó với chó.
Loại chó mới Bull Terrier ra đời năm
1800 do sự phối hợp của giống Bulldog
mạnh bạo cùng với giống Terrier hung
dữ được dân đấu chó ưa
chuộng nhất. Măi cho tới năm 1835, v́
bị Hội Bảo Vệ Súc Vật phản
đối, quốc hội Anh mới băi bỏ
việc đấu chó. Chó Bull Terrier được
đưa sang Hoa Kỳ vào năm 1817 khiến phong
trào đấu chó trở nên rất phổ
cập, măi tới năm 1869, đấu chó
mới bị cấm tại nhiều nơi, nhưng
vẫn c̣n tại một số tiểu bang
miền Nam. Hiện nay tại Hoa Kỳ, vẫn
c̣n nhiều nơi tổ chức các cuộc thi
đấu chó. Trước khi đấu, hai đối
thủ được cân để biết
chắc đồng lạng, đồng sức,
sau đó phải tắm chó bằng xà bông để
tẩy sạch các chất độc chủ chó
có thể rắc vào lông để hại chó
đối thủ. Chó cắn xé nhau cho tới khi
một con bị ngă, sau đó được
nghỉ một phút; nếu con chó ngă bỏ
cuộc sẽ bị xử thua. Các cuộc đấu
chó thường kéo dài rất lâu có khi tới 5,
6 tiếng đồng hồ. Ăn hay thua, chó thường
bị chết v́ những vết thương bên
ngoài hay nội thương như đứng tim,
dập phổi. Số tiền cá độ trong
các cuộc đấu chó lên tới hàng trăm
ngàn đô la. Sau khi lược qua địa
vị quan trọng của chó tại Tây Phương,
nh́n qua Đông Phương chúng ta thấy ảnh
hưởng và vị trí của loài vật này cũng
sâu đậm không kém.
Bên Trung Hoa, cho tới thế
kỷ 16, chỉ có hoàng thân quốc mới
được nuôi chó nhỏ Pekingese. Có lần
vua Trung Hoa sai một cô công chúa đem một
cặp chó Pekingese đực cái sang Anh để
tặng Nữ Hoàng Elizabeth. Trên đường
đi bằng tầu thủy, chó cái sinh 5 chó con,
cô công chúa đựng chó con trong một hộp
nữ trang bằng ngà rất đẹp. Một
số thủy thủ trên tầu ăn trộm
hộp nữ trang tưởng lấy được
nhiều châu báu nhưng thật ra chỉ có chó
con. Để khuyên ngăn những người
có công nhưng ham danh lợi, người Trung Hoa
có câu “thố tử cẩu phanh”. Câu này
bắt nguồn từ tích Phạm Lăi sau khi pḥ
Việt Vương Câu Tiễn trả thù đánh
bại được Ngô Vương Phù Sai, đă
khuyên bạn là quan đại phu Văn Chủng
nên từ bỏ chức tước bổng
lộc cáo quan qui ẩn th́ mới tránh được
họa vào thân. Trong thư gửi Văn Chủng,
Phạm Lăi có câu “Cao điểu tận, lương
cung tàng; giảo thố tử, tẩu cẩu
phanh” nghĩa là chim trên cao đă bị bắn
chết th́ cây cung tốt sẽ bị bỏ xó,
cũng như thỏ đă bị giết th́ chó
săn cũng sẽ chết. Quả nhiên sau này Văn
Chủng bị hại v́ Việt Vương nghe
lời gièm pha ganh ghét. Câu này cũng tương
tự như thành ngữ “đặng chim bẻ
ná, đặng cá quên nơm” của người
Việt. Giữa Tể Tướng Vương
An Thạch đời Tống Thần Tông bên Trung
Hoa và thi sĩ nổi tiếng Tô Thức, tự
là Đông Pha có một giai thoại lư thú về
“chó vàng”. Học Sĩ Tô Đông Pha là một
thi sĩ hay chữ nổi tiếng nhưng tính
t́nh ngạo mạn. Một hôm, Đông Pha đọc
thơ của Thừa Tướng Vương An
Thạch, thấy có hai câu:
“Minh nguyệt sơn đầu
khiếu Đông Pha chê là vô lư: trăng
sáng sao lại hót ở đầu núi, c̣n chó
vàng sao lại nằm trong ḷng hoa được?
Do nghĩ như vậy nên Đông Pha lấy bút
tự ư sửa chữ khiếu ra chữ
chiếu, chữ tâm thành chữ âm, thành ra:
“Minh nguyệt sơn đầu
chiếu Có nghĩa là:
“Trăng sáng soi đầu núi Ít lâu sau đó, Tô Đông Pha
đổi tới một nơi ở miền nam.
Ở đó, Đông Pha thấy một loài chim
tên là Minh Nguyệt, và một loài sâu tên là Hoàng
Khuyển khiến họ Tô nhớ lại hai câu
thơ cũ của Vương An Thạch, có nghĩa
là: “Chim Minh nguyệt hót ở đầu
núi Lúc ấy Đông Pha mới
biết kiến thức của ḿnh c̣n kém họ
Vương nhiều.
Truyện kiếm hiệp Tàu “Anh
Hùng Xạ Điêu” kể sự tích Hồng
Thất Công là bang chủ cái bang tức là chúa
ăn mày. Đă là ăn xin nên bang này kỵ
nhất là chó, do đó, bảo vật trấn
bang cũng như biểu tượng của bang
chủ là “đả cẩu bổng” tức là
cây gậy đánh chó và môn vơ công gia truyền
là “đả cẩu bổng pháp”. Rất
tiếc môn vơ độc đáo này đă bị
thất truyền khi bang chủ Hoàng Dung đệ
tử của Thất Công cùng chồng là Quách
Tỉnh mất tích tại thành Tương Dương,
nếu không chắc lũ “cẩu trệ” lông
đỏ tại Việt Nam đă bị nhừ
đ̣n. Truyện Bao Công cũng nói tới
ba giàn đao được dùng để
chặt đầu các loại tội nhân khác
nhau. Long Đầu Đao dùng để chặt
đầu tội nhân hoàng thân quốc thích,
Hổ Đầu Đao chém quan quyền, c̣n
Cẩu Đầu Đao được dùng để
chặt đầu đám ti tiện buôn dân bán nước,
cúi đầu chịu làm nô lệ, dâng đất
dâng biển cho ngoại bang để mưu
cầu tư lợi.
Trong kinh Phật thời Chánh Đẳng
Giác Kassapa (Ca Diếp) kể chuyện Đại
Hắc là một con chó đen khổng lồ răn
dọa chúng sinh để mọi người kinh
hăi phải quay về Phật pháp. Đại
Hắc nguyên là người đánh xe của
Phật tên Matali hóa thân, có răng nanh lớn như
quả chuối, h́nh thù gớm ghiếc dữ
tợn. Phật giả thành một thợ săn,
dẫn Đại Hắc vào kinh đô Diên phù
đề tức là nước Ấn Độ;
chó rống lên những tiếng kinh hoàng vang
dội từ địa ngục đến
trời xanh khiến ai nấy đều sợ
hăi bỏ chạy vào cung vua, đóng cửa
lại. Đại Hắc vẫn xông xáo đuổi
theo khiến nhà vua phải thu hết can đảm,
hé cửa ra hỏi:
- Này thợ săn, sao chó của
nhà ngươi rống khiếp đảm như
thế? Nhưng vua cho hết thực
phẩm trong cung điện mà chó cũng chỉ
ngoạm một miếng là hết rối lại
gào thét nữa. Vua phải đem hết voi
ngựa và thức ăn trong kinh thành ra, Đại
Hắc cũng nuốt trửng luôn rồi
rống lên nữa. Vua lo sợ nói:
- Đây không phải là chó,
chắc là con qủi dữ từ đâu tới.
Lúc này Phật mới nói:
- Con chó này tuy dữ vậy, nhưng
chỉ xé xác kẻ thù của tôi là những
kẻ gian tà và ác đảng thôi.
Nói xong, Ngài trút bỏ h́nh
dạng thợ săn dùng thần lực đứng
trên không sáng ngời rời bảo mọi người:
- Này các ngươi, ta thấy
trần gian sắp bị hủy diệt v́
tội ác nên ta đến đây. Quả thật
bây giờ người chết đọa vào các
cơi khổ đầy rẫy v́ dân chúng làm toàn
tội ác, c̣n thiên đàng trống vắng. Các
ngươi phải cố gằng tu hành.
Sau khi nghe Phật thuyết pháp và
dưới sự đe dọa của Đại
Hắc, từ đó dân chúng tu nhân tích đức
làm việc thiện cũng như bố thí nên
Phật pháp được trùng tu và tồn
tại. CHÓ TRONG VĂN CHƯƠNG
VIỆT NAM Trong kho tàng văn chương b́nh
dân của Việt Nam ta, v́ chó là loài vật thường
sống chung đụng với dân quê nên có
rất nhiều truyện cổ hay tục ngữ,
ca dao liên quan tới con vật trung thành này. Trước hết, thịt chó là
một món ăn thông dụng ở Bắc
Việt. Các tay ưa thịt chó, tuy đa số
thuộc giới b́nh dân nhưng không hẳn là
thiếu văn hóa. Ngược lại, có lẽ
v́ “rượu vào lời ra” nên văn chương
mộc tồn cũng thăng hoa phát triển. Có
lần vào ngày 30 Tết năm Dậu sắp sang
năm Tuất, tại cửa hàng "cầy tơ
bảy món" ở Ô Quan Chưởng, chủ
quán ra một vế thách đối dán ở
của: “Thịt cầy bảy món
lừng danh, béo bở nhờ công: vàng, vện,
mực.” Hôm sau, có mấy vế đối
xuất hiện, nào là của ông cháo ḷng
tiết canh, của bà chả cá. Nhưng đặc
biệt là câu của anh chơi gà chọi:
“Gà chọi ba lần đọat
giải, tài năng cậy có: tía, kim, ô.”
Câu đối này quả là
chỉnh, nhất là giữa lúc giao thừa hai năm
Gà - Chó Con chó mực trong truyện
ngắn Cái Chết Của Con Mực của Nam Cao
là một chú chó già, ghẻ lở, có nhiều
tật xấu. Người ta đă định
thịt nó nhiều lần nhưng chưa có
dịp. Khi chủ cũ đi xa lâu ngày trở
về, thấy con chó cũ ra mừng th́ thương,
nhưng nó ghẻ lở gớm ghiếc quá nên
không dám ve vuốt như ngày c̣n nhỏ, thường
chơi đùa với con mực. Sau đó, v́
quyết định giết con chó già gớm
ghiếc nên khi thấy con Mực ngủ bên
bờ dậu, người chủ rón rén cầm
cái gậy bước tới định đập
chết con Mực nhưng bỗng nhiên cảm
thấy ngạt thở, ḷng quả quyết tiêu
tan hết. Con Mực giật ḿnh thức giấc
chạy trốn trong vườn. Cả đêm
đó, người chủ thấy toát mồ hôi
và nhất định không giết con chó nữa. Nhà văn Trần Đức Lai dưới
thời đệ nhị cộng ḥa cũng khá
nổi tiếng với tác phẩm “Cậu
Chó”. Nhà văn Nguyễn Vỹ trước
đây từng than “Nhà văn An Nam khổ như
chó”. Chắc đây là chó ta, chứ chó Mỹ
được cưng chiều, đưa đi
mỹ viện, đi chơi, khám bác sĩ,
quần áo, ăn uống đầy đủ c̣n
sướng hơn người. C̣n nếu chó là
cục cưng của bà xă th́ phải biết,
“nhất vợ nh́ trời ba chó, tư mới
tới tôi!” Truyện Thủy Hử hay 108 Anh
Hùng Lương Sơn Bạc kể nhà sư
Lỗ Trí Thâm nguyên là một quan vơ giả
dạng, chuyên uống rượu và ăn
thịt chó, ca dao ta hay chế diễu mấy nhà sư
hổ mang mượn áo nâu sồng làm ô uế
cửa Phật như sau:
“Đi tu Phật bắt ăn chay
Tương tự, giới b́nh dân
nước ta có chuyện vui “Đậu phụ
cắn nhau”: Sư cụ xơi thịt cầy
vụng ở trai pḥng. Chú tiểu biết,
hỏi: Truyện “Lục Súc Tranh Công”,
một áng thơ khá phổ thông trong kho tàng văn
học nước ta, Chó kể công với
chủ như sau: “Ngày sáu khắc, lỗ tai
bằng trống, Trong “Cung Oán Ngâm Khúc”, cụ Ôn
Như Hầu đă dùng h́nh ảnh đám mây
thay đổi thường xuyên trên trời để
ngụ ư vạn vật đều là hư
huyễn: "Trẻ tạo hóa đành hanh
quá ngán Truyện Kiều của cụ
Nguyễn Du có đoạn kể bọn Khuyển
Ưng “Chim Chó” lập mưu bắt nàng
Kiều về giao cho Hoạn Thư hành hạ như
sau: “Sửa sang buồm gió lèo mây, . . . . Khuyển ưng đă đắt mưu
gian, Cũng từ truyện Kiều
nẩy ra giai thoại chó, kể chuyện một
chàng mê cô đầu muốn cùng nàng xe tơ
kết tóc. Xúc động v́ ḷng thành của
khách và cũng cám cảnh cho thân phận “bèo
trôi sóng vỗ, sống làm vợ khắp người
ta” của ḿnh, cô đầu bèn Kiều lẩy:
“Em như cục c… trôi sông, Người xưa thường
dùng tiếng “cẩu tặc” hay “dê chó”
để chỉ phường hạ tiện như
trong bài Hịch Tướng Sĩ của Hưng
Đạo Vương có câu: “Huống chi, ta
cùng các ngươi sinh ra phải thời loạn lạc, lớn lên
gặp buổi gian nan. Lén nh́n sứ ngụy đi
lại nghênh ngang ngoài đường, uốn
tấc lưỡi cú diều mà lăng nhục
triều đ́nh; đem tấm thân dê chó mà khinh
rẻ tổ phụ …”. Trong bài hịch nổi
tiếng này, Hưng Đạo Vương cũng
khuyên răn quân lính phải chuyên cần
luyện tập, không được chểnh
mảng ăn chơi v́ “Tiền của dẫu
lắm không mua được đầu giặc;
chó săn tuy hay không đuổi được
quân thù.” Bài “B́nh Ngô Đại Cáo
của cụ Nguyễn Trăi làm sau khi B́nh Định
Vương Lê Lợi đại phá quân Thanh, dành
nền độc lập tự chủ cho nước
nhà, kể lại những chiến công như sau:
“Đánh một trận, sạch
không ḱnh ngạc Sách Gia Huấn Ca của cụ
Nguyễn Trăi cũng dùng h́nh ảnh “chửi
chó mắng mèo” để khuyên các bà nội
trợ lúc nào cũng phải ḥa nhă để
giữ tiếng tốt cho chồng:
“Ḱa những đứa mặt thường
cau có, Truyện cổ nước ta c̣n
kể tích “mài dao dạy vợ, giết chó
khuyên chồng” nội dung giáo huấn kẻ
dữ thành người tốt.
“Treo đầu dê, bán thịt chó” là
thành ngữ thông dụng để chỉ
hạng lưu manh lừa lọc, phản trắc
như trong bài “Văn tế nghĩa sĩ
Cần Giuộc” của cụ Đồ
Chiểu có câu: “Một mối xa thư đồ
sộ, há để ai chém rắn đuổi hưu;
Ông Cao Bá Quát, một văn tài
được coi như lấy ba trong bốn
bồ chữ của cả thiên hạ, khiến
vua triều Nguyễn phải khen “văn như
Siêu Quát vô Tiền Hán” khi bị đi đầy
làm giáo thụ phủ Quốc Oai thuộc tỉnh
Sơn Tây là nơi “khỉ ho c̣ gáy, chó ăn
đá gà ăn muối” vào năm 1854, đă cám
cảnh làm đôi câu đối:
“Nhà trống ba gian, một
thầy, một cô, một chó cái Theo Việt Nam Sử Lược
và Việt Sử Toàn Thư, v́ bất măn với
triều đ́nh nên ông theo Lê Duy Cự khởi
nghĩa tại Mỹ Lương vào năm 1854, nhưng
bị bắt và xử trảm. Khi bị giam trong
ngục, ông Quát c̣n làm câu đối “Một
chiếc cùm lim chân có Đế, ba ṿng xích
sắt, bước th́ Vương” để
ngầm tỏ mộng ”Đế Vương”
không thành của ḿnh.
Trạng Quỳnh nước ta là
người nổi tiếng thông minh mẫn
tiệp nhưng rất rắn mắt. Một hôm,
nhà có giỗ, làm thịt lợn mời khách
khứa đông lắm. Thấy Quỳnh hay
nghịch, ai cũng cḥng ghẹo chơi.
Đương lúc Quỳnh xem làm
thịt lợn, có một ông Tú tên lá Cát thường
tự phụ hay chữ chạy đến nhéo
tai, bảo: - Tao ra một câu đối, đối
được tao tha cho. Rồi ông ra câu đối
“Lợn cấn ăn cám tốn” ngụ ư chê
Quỳnh là con heo ăn cám.
Quỳnh đối ngay:
- "Chó khôn chớ cắn
càn." Ông Tú giận đỏ mặt v́
bị chửi xéo là “chó cắn càn”, lại ra
một câu nữa, câu này có ư tự phụ ḿnh
là ông Tú: - "Trời sinh ông Tú Cát."
Quỳnh lại đối:
- "Đất nứt con bọ
hung." Ông Tú phải lỡm, tịt
mất. Mọt người cười ầm
cả lên. Cấn là quẻ cấn, Tốn
là quẻ tốn cùng trong bát quái theo kinh Dịch.
Đây lấy nghĩa lợn cấn (chửa) mà
ăn tốn cám. Khôn là quẻ khôn, Càn là
quẻ càn cũng trong bát quái, đây lấy nghĩa
con chó khôn chớ cắn càn, cắn bậy. Cát
c̣n có nghĩa là tốt; hung c̣n có nghĩa là
xấu. Trạng Quỳnh ngụ ư ví ông Tú Cát như
chó cắn càn và con bọ hung.
Tục ngữ ví phường
hạ tiện, đầu trộm đuôi cướp
như loại “Ăn chó cả lông, ăn
hồng cả hột”, hoặc “Ăn cùng chó,
ló xó cùng ma” hay “Đâm heo thuốc chó”
,“mèo đàng chó điếm”. Những người
đă nghèo khó lại gặp vận không may thường
than “Đen như mơm chó, đă khó chó cắn
thêm” hay “Chó cắn áo rách”. Phương ngôn
ta cũng khuyên “Đánh chó ngó chủ” tương
tự như câu “Đả cẩu khán chủ
diện”. Hai chàng rể lấy hai chị em trong
một gia đ́nh thường hay tranh dành, không
được ḥa thuận, v́ vậy có câu “Anh
em cột chèo như mèo với chó”. Kẻ
tiểu nhân được thời đắc chí
vênh vang lên mặt được coi như “Chó
ngáp phải ruồi”, “Bọ chó múa bấc”
hay “Chó nhảy bàn độc”. V́ “Chó giữ
nhà, gà gáy sáng” nên cần cẩn thận khi
chọn lựa, mua bán ngoài chợ, tỉ dụ
như “Bán gà kiêng ngày gió bán chó kiêng ngày mưa”,
“Chó già, gà non”, “Chó tháng ba, gà tháng bảy”
, “Mua trâu xem vó, mua chó xem chân”, “Chó giống
cha gà giống mẹ” hay:
“Chó khôn tứ túc huyền đề
Các bà mẹ hiền Việt Nam thường
nựng con nhỏ là “chó con” hay con cún tức
là chó nhỏ, có lẽ v́ những đứa
trẻ no sữa trông bụ bẫm dễ thương
như chó con. Nhưng cũng chính những bậc
“hiền thê” này khi nổi cơn tam bành,
lại hăm he những con hồ ly tinh thích
giựt chồng người rằng:
“Bớ con đ. chó mặt mâm Đối với loại gái lăng
loàn thiếu chung thủy với chồng, thiên
hạ hay chế diễu “Chó đâu chó sủa
lỗ không, gái đâu tốt nết mà chồng
lại ghen”. Để răn dạy con cái,
bậc cha mẹ thường nói “Dâu dữ
mất họ chó dữ mất láng giềng”,
“Chó treo mèo đậy”, “Chơi với gà, gà
mổ mắt, chơi với chó, chó liếm
mặt”, “Chó dại có mùa, người dại
quanh năm”, “Lạc đường nắm
đuôi chó, lạc ngơ nắm đuôi trâu”.
Những kẻ ỷ thế làm càn, người
ta thường nói “chó cậy gần nhà, gà
cậy gần chuồng”, tương tự như
những câu tiếng Anh “a cock is valiant on his own
dunghill”, “every dog is valiant at his own door” hay “every
dog is a lion at home”. Công việc đồng áng tùy
thuộc nhiều vào thời tiết nên nông dân
chiêm nghiệm nhận thấy khi chân trời màu
vàng th́ trời sẽ nổi gió, c̣n màu trắng
đục sẽ mưa nên bảo nhau “ráng
mỡ gà th́ gió, ráng mỡ chó th́ mưa”. Cũng
qua kinh nghiệm, người ta nhận thấy
“mèo đến nhà th́ khó, chó đến nhà th́
hên”, “chó liền da, gà liền xương”,
“chó dại có mùa, ngựi dại quanh năm”,
“chó gầy hổ mặt người nuôi”,
“Gái phải hơi trai như thài lài gặp
cứt chó, trai quen hơi vợ như c̣ bợ
gặp trời mưa”, “Trai ở nhà vợ như
chó gầm chạn” v.v…
Những thầy bói thầy pháp
nói ṃ chuyên gạt gẫm thiên hạ kiếm
ăn thường bị chế diễu:
“Nhà này có quái trong nhà” CHÓ ẨM
THỰC Khi nói đến chó, nhất là
trong ngày tư ngày tết mà không đề
cập tới món thịt cầy, quả là
một thiếu sót lớn, bởi v́ món “cờ
tây” đă là thực phẩm chính của loài người
trong thời thượng cổ. Chúng ta đă
biết thoạt tiên người tiền sử chưa
biết cách canh tác, trồng trọt nên săn
bắt dă thú với mục đích duy nhất
để làm thực phẩm. Thú rừng nào
bị đập hay bắn chết bị làm
thịt ngay, số thặng dư nếu c̣n
sống được đưa về hang động
chung sống với người để dự
trữ. Lâu dần, những loại thú nhà này
sinh sôi nảy nở, thuần tính trở thành gia
súc. Chó là loài thú hoang đă được loài
người gia súc hóa đầu tiên v́ nhiều
nguyên do. Ngoài việc dùng làm thực phẩm trong
lúc trời đông gió rét không săn được
các dă thú khác, chó c̣n rất hữu dụng để
săn bắt, giữ nhà, bầu bạn. V́ có
sẵn trong nhà nên, thịt cầy đă trở
thành món ăn thông dụng, được dân Á
Đông như Trung Hoa, Đại Hàn, Việt Nam
v.v ... chế biến thành nhiều “món ăn
nghệ thuật”. Nhiều người ghiền
“cờ tây” đến độ không có th́
sinh bệnh hoạn, đau ốm! Người
khác thề chết thề sống là thịt chó
giắt răng ba ngày xỉa ra vẫn c̣n thơm!
Nghe nói dạo dân Việt tỵ
nạn mới qua Hoa Kỳ, có anh “refugee” độc
thân được nhà thờ Tin Lành Mỹ kia
bảo lănh ra khỏi trại, đưa tới
ở một căn nhà trống. Sợ anh ta
buồn, nhà thờ cho anh ta một con chó để
làm bầu bạn. Mấy ngày sau người nhà
thờ tới hỏi thăm, anh ta cho biết
mọi chuyện đều tốt đẹp.
Họ hỏi thêm “How’s the dog?” Anh ta trả
lời “Good … very good!” Họ hỏi tiếp
“How good?” Anh tỵ nạn trả lời
tỉnh bơ “Eat … good!”. C̣n có bà nọ di
tản một ḿnh, chồng bị kẹt lại
nên nuôi con chó nhỏ Pekingnese để đỡ
cô đơn, lúc nào cũng để bên
cạnh. Thư nào viết cho chồng, bà cũng
có câu “Em nhớ anh lắm, tưởng tượng
như anh luôn luôn ở bên em”.
Khởi đầu, thịt cầy
là một món thông dụng trên khắp miền
thôn quê trung châu Bắc Việt, nhất là các
tỉnh Ninh B́nh, Thái B́nh, Hưng Yên, Nam Định…
không nhà nào mà không nuôi chó. Nghèo th́ dăm ba con,
giàu th́ mươi mười lăm con. Nuôi chó
vừa có tác dụng giữ nhà vừa để
khi trong nhà có việc giỗ chạp, đ́nh
đám, lễ lạc, tuỳ theo số thực
khách tham dự nhiều ít mà ngả cầy
từ một đến hai con. Trong một xóm,
mấy ông bợm nhậu thỉnh thoảng
lại rủ nhau “đánh đụng” chia hai
hoặc chia tư một con cầy. Làm thịt
cầy cũng được chọn lựa
kỹ càng, không những về tuổi tác mà c̣n
cả về màu sắc lông, cho nên chó cũng
được liệt kê thứ bậc:
“nhất bạch, nh́ vàng, tam khoan, tứ đốm”.
Chó bạch được xếp loại thịt
ngon, ít mỡ, nạc mềm. Loại chó này
rất hiếm. C̣n loại chó mực ít người
dùng v́ cho là hăm tài.
Chó nuôi từ một năm đến
một năm rưỡi là ăn thịt
được, c̣n như trên hai, ba năm th́
thịt cứng và dai. Người kén ăn thường
chọn chó vàng, nhất là chó đang độ
“đi tơ”. V́ thế có câu: “Gà lọt
dậu, chó xáo xác”. Gà th́ lớn vừa
luồn khe dậu, c̣n chó xáo xác có nghĩa là
loại chó đang trong thời kỳ nẩy
nở toàn diện, chạy đôn chạy đáo
đi t́m nguồn…yêu đương.
Sau cuộc di cư vĩ đại
vào miền Nam năm 1954, món cầy cũng
được đồng bào Bắc du nhập.
Nhất là từ ngày dép râu, nón cối xuất
hiện tại miền Nam, cờ tây được
bác và đảng “nâng cấp” thành đặc
sản. Đảo qua vài ṿng trong các thành phố
lớn nhỏ, xuất hiện những quán mang
tên “Hạ Cờ Tây”, “Mộc Tồn”,
“Cây C̣n”…Nhưng có quán th́ tấp nập
khách ăn, có quán lại vắng vẻ đ́u
hiu. Nguyên nhân chính là cách thức làm cầy
mỗi nơi mỗi khác, gia vị không thích
khẩu, cho nên không vừa ư người sành
ăn. Tại Sài G̣n có các khu cầy nổi
tiếng tại Ngă Ba Ông Tạ, nhà thờ Ba
Chuông, Xóm Mới G̣ Vấp. Ngoài Đà Nẵng,
khu băi biển Thanh B́nh lúc nào cũng thơm
lừng mùi chả chó. Sài G̣n c̣n có địa
danh khá nổi tiếng với dân giang hồ,
đó là Ngă Ba Chuồng Chó, nhưng nơi đây
chỉ có chó đen đầu giống Ngă Ba Chú
Iá. Ngày nay, tương tự như
các tiệm thịt chó ngập ngừng núp dưới
chiêu bài văn minh hơn như Cờ Tây, Mộc
Tồn diễn nôm là Cây C̣n hay Con Cầy hay
“Sống Trên Đời”, nhà văn Vũ
Bằng trước đây đă phóng bút ca
tụng hầu hết các món ăn ngoài Bắc
trong sách ”Miếng Ngon Hà Nội”, nhưng đến
món thịt cầy ông bỗng do dự, v́ “Đă
định không nói, nhưng không nói không
chịu được. Ờ mà nếu ca tụng
thịt cầy mà mang tiếng là thiếu văn
minh th́ ḿnh cũng đành chịu cái tiếng
thiếu văn minh vậy, chớ nói đến
miếng ngon Hà Nội mà không nói đến
thịt cầy, người ta quả là thấy
thiếu thốn rất nhiều. Chỉ thiếu
có một người, vũ trụ bao la hiu
quạnh... Huống chi lại thiếu thịt
cầy th́ c̣n vui sống làm sao?” Nhưng chó Tây
chó Mỹ tuy béo tốt đẹp mă nhưng các
sư phụ “cờ tây” chê hôi, vừa
lạt, lại tanh như Vũ quân nhận xét:
“Cái giống chó ‘bẹc giê’, ‘pê ki noa’,
cái giống chó ‘bát sê’ cũng như giống
‘phốc’, nói tóm lại tất cả các
giống chó tây phương, cấm có ăn
thịt được. Thịt cứ dai như
chăo rách, mà hôi quá ăn không ra cái ‘thớ’
ǵ. Chó ăn, phải chính cống là giống chó
ta, không được lai căng một tí
một li ông cụ”.
Thịt chó có mùi mỡ hơi gây
nên phải cần nhiều gia vị đặc
biệt như riềng, mẻ, mắm tôm lá mơ
v.v…, mới có thể chế biến thành
những món ăn ngon như các tay sành ăn đă
đă dày công rút tỉa kinh nghiệm để
ghi vào cẩm nang như:
“Thịt chó th́ phải có
riềng Lá mơ mùi hơi hôi nên người
miền Nam gọi là lá thúi đ .., riềng
vị rất hắc thường chỉ dùng trong
các loại mắm, c̣n mẻ chỉ là cháo hay cơm
để chua, c̣n món mắm tôm th́ chắc …
khỏi nói. Thế nhưng khi những hợp
chất đậm mùi này được dùng
với món “cờ tây”, chấm mắm tôm khi
cho vào miệng nhai từ từ mới cảm
nhận được cái mềm,cái thơm, cái
ngon, cái đẹp, cái hay của một ḥa
tấu tuyệt vời, nếu chiêu thêm ngụm rượu
tăm nữa để đua cay th́ quả
thực đă thấu triệt hết được
triết lư “sống trên đời”! Thả
nào các đấng con Trời gọi thịt
cầy là “hương nhục” tức là
“thịt thơm”. Các sếnh sáng này c̣n
bầy ra món “cầy khô” lạ lùng treo
lủng lẳng tại các tiệm thịt khô,
trong đó họ ép nguyên con chó khô cùng với
bột nặn tṛn như cái mâm giống như
bánh dầy nhân chó.
Riêng tại Việt Nam từ
thuở ban đầu với ba món căn bản
ḷng, luộc, sáo măng nay nhạc khúc “sống
trên đời” đă thăng hoa biến tấu
thành bảy hay chín điệp khúc bất hủ
là: hấp, nướng, chả ch́a, rựa
mận, cuốn lá lốt, sáo măng, cháy
cạnh, dồi, chả đùm. C̣n muốn “cao
cấp” hơn nữa th́ có thể chuyển
thành liên khúc mười hai món v́ có thêm cuốn
mỡ chài, sáo măng móng, sáo măng đặc
biệt. Nhưng món ngon nhất của thịt
cầy được đa số ma men công
nhận là dồi và rựa hay nhựa mận,
nên các cụ Việt Nam xưa thường xuưt
xoa ao ước “Sống được ăn
dồi chó, chết được bó vàng tâm”;
vàng tâm là loại gỗ qúi dùng làm áo quan
chỉ có giới giàu có, quan quyền miền
Bắc mới mua nổi, c̣n thường dân
chết chỉ bó chiếu đem chôn. Hoặc ví
von văn chương hơn:
“Sống trên đời ăn
miếng dồi chó Việt Nam ta có nhiều loại
dồi khác nhau: dồi chó, dồi lợn, dồi
rắn, dồi lươn..., mỗi loại
lại có cách chế biến riêng tùy theo từng
địa phương. Đại khái món dồi
dùng thịt, huyết nhồi vào ống ruột
hay da rồi cột hai đầu, tương
tự như lạp xưởng hay món “sausage”
tây phương, có sức hấp dẫn riêng làm
say ḷng thực khách. Nhưng những vị sành
ăn đă từng ngao du “bảy cơi chín
châu”, đă nếm bao của ngon vật lạ cũng
như các loại dồi Tây, Ta, Tàu, Nhật v.v…
chắc đều đồng ư dồi chó
phải được sắp hạng “vua
dồi”. Món dồi chó tương tự như
dồi heo, làm bằng ruột non,“lộn lèo”
để rửa sạch sẽ bằng muối.
Nhân dồi gồm những gia vị lá mơ,
đậu xanh rang chín giă nát, mắm tôm, mẻ,
riềng. Một miếng dồi chó "đúng
chuẩn" phải hội được vị
lá mơ, cái bùi bùi của đậu xanh, thoang
thoảng mùi mẻ, riềng, mắm tôm, cái béo
dịu dàng của mỡ chó. Nhưng để
đậu xanh không bị bở mất hương
vị, dồi phải được nướng
hay chiên chớ không thể luộc như dồi
heo. Về món dồi chó bất hủ, Vũ quân luận như sau “Sao mà có những người có óc vĩ đại lại đi nghĩ ra được cách làm được cái thứ dồi ngon lạ ngon lùng đến thế, một tổ hợp tiết tấu đến như thế, hở Trời? Gắp một miếng chấm
muối chanh, rồi đưa cay một hơi rượu,
ta thấy tất cả tiết, sụn, lá thơm
và đậu xanh ở trong miếng dồi nâng
đỡ nhau, đoàn kết nhau thành một
khối bất khả chia ĺa, không những
thấy ngon lành cho khẩu cái mà thôi, nhưng
lại c̣n làm cho ta mát gan nở ruột v́ cái
đẹp tinh thần do sự nhất trí tạo
thành. Ai cũng đă ăn dồi lợn, và ai cũng
ăn dồi của người Tây mà ta thường
gọi một cách nôm na là “sốt sích”.
Bằng thế nào được dồi chó,
phải không ông? Dồi chó làm khéo th́ cái
ruột phải ken kỹ cho mỏng như tờ
giấy, đến lúc ăn vào nó cứ gịn tan,
không mềm lừ những tiết như dồi
lợn, mà cũng không bă như rơmi kiểu
dồi tây; nhưng nó nhuyễn lừ đi, nhai
kỹ lại hơi sừn sựt, bùi béo nhưng
không ngấy, ngan ngát nhưng không nồng mùi
tỏi.” Món dồi đă bất hủ,
đến món chả chó cũng hấp dẫn
không kém đến nỗi cô thôn nữ đi
chợ thèm quá, giả bộ nói mua về cho
chồng, nhưng thật ra để ăn
vụng: “… Ăn rồi xách nón ra về
Chả chó thịt cắt thành
từng miếng bằng đốt ngón tay,
vừa nạc vừa mỡ trộn với
riềng già, mẻ, mắm tôm bóp cho đều,
để vài tiếng đồng hồ cho
ngấm. Xiên vào thành từng xiên. Rồi nướng.
Than phải là than tàu, lúc nào cũng quạt
liền tay cho đỏ, thịt xèo xèo cháy,
mỡ nhỏ xuống than bốc khói thơm lên
quyện vào thịt. Chả chó tương tự
như bún chả nhưng thịt thơm hơn
nhiều v́ có nhiều gia vị, ngon đến
nỗi không thể từ chối, xa mấy cũng
phải ḅ tới:
“Rượu tăm thịt chó nướng
vàng Nhựa hay rựa mận lại
là một tuyệt chiêu khác! Cũng mắm tôm,
gừng già, mẻ trộn với nhau. Thêm hành,
muối vừa đủ. Cho thịt cầy vào
bóp kỹ, để chừng một tiếng
đồng hồ cho thấm rồi ninh. Trước
khi ninh trộn thêm tiết chó vào. Ninh cho tới
khi quánh lại “đưa bát rựa mận lên
ngang mặt, nheo một con mắt lại mà không
thấy nổi lên những rằn ri của
bẩy sắc cầu vồng, thế là chưa
biết nấu” như Vũ Bằng mô tả.
Rựa mận sền sệt như nhựa cây,
ăn với bún, bẻ thêm chút miếng bánh
đa nướng th́ tuyệt vời.
Ngoài ra c̣n các món thông dụng
khác như thịt luộc xắt thành miếng
mỏng cả thịt, mỡ và da chấm với
muối tiêu chanh hay mắm tôm. Thịt chó
luộc phải ăn với húng chó (húng
giổi) phải là húng Láng cùng vài lát riềng.
Thịt chó vốn nóng, húng vừa thơm vừa
điều chỉnh vị thịt chó làm cho
dịu lại. Có khi dùng cả củ sả, lá mơ
tam thể cho thêm phần long trọng. Món xáo chó
hay xáo ninh nấu bằng xương chó như
nấu xúp, có thể cho thêm măng tươi hay
khô, thường ăn với bún. Món này tuy
rẻ tiền nhưng rất ngon và phổ thông
như chúng ta thường nghe ca tụng “ngon như
xáo chó”. Tiệc cầy th́ cứ phải rượu
đế “cuốc lủi sủi tăm” để
đưa cay th́ mới đúng điệu. Ngoài
ra, khi nói đến món ăn miền Bắc,
ngoài cái công việc “nghi lễ và cách thức
ăn uống” phải kể đến yếu
tố hoàn cảnh, không gian lẫn thời gian.
Thật vậy, không có ǵ bằng buổi trưa
nóng hừng hực, được một mâm
gỏi cá với những đĩa rau lá xếp
gọn gàng thứ tự, bát giấm nóng thơm
phức để giải nhiệt. Gói miếng
cá mè sống trong lá sung, thêm chút rau thơm,
chấm nước giấm vừa chua cay bùi
ngọt pha sền sệt rồi đưa vào
miệng, chiêu thêm ngụm rượu tăm th́
thực là lên cơi tiên! Rồi những buổi mưa
tầm tă, hưởng mùi ngai ngái của hơi
đất ẩm nồng, mùi nụ mướp
đơm hoa, cà vừa chớm nụ mà trước
mặt ḿnh ngổn ngang “11 món thịt cầy”
th́ c̣n ǵ ấm ḷng hơn? “Nắng gỏi mưa
cầy” là vậy đó.
Điểm sơ qua mấy món
mộc tồn như trên, tuy mới “hàm
thụ” mà đă “tiết tâm linh” như
“cờ tây” khi nghe tiếng chuông Pavlov. Quả
hiếm có con mồi nào dân nhậu vừa ăn
vừa nâng niu trân trọng, lại kể lể
"thắm thiết" đến thế.
Ngoài thịt cầy thật, c̣n
có món cầy giả hay giả cầy hấp
dẫn không kém. Có những cái giả, cái
rởm bị người đời lên án nhưng
món giả cầy hay nói cho đúng hơn là món
"cầy rởm" th́ chẳng chê vào đâu
được. Món này được chế
biến bằng thịt heo để làm vừa
ḷng những người không ăn được
mộc tồn, nhất là phái nữ, nhưng
vẫn muốn thưởng thức hương
vị đặc trưng của cờ tây.
Giả cầy tương đương như
món nhựa mận nhưng làm bằng chân gị heo
thui (đốt) cho vàng đều, xắt
miếng chừng vài đốt ngón tay, ướp
mẻ, riềng, mắm tôm, để ngập nước
mà hầm. Giả cầy ăn với bún Phú
Đô là món ăn ưa thích của người
dân Bắc. Các bậc hiền thê muốn
được chồng thích chồng mê như
điếu đổ, hăy theo công thức gia
truyền dưới đây nấu món giả
cầy đúng khẩu vị quê hương
“cây c̣n” để đăi gia đ́nh, bè
bạn trong dịp Tết. Bảo đảm
sẽ thành công, chỉ xin nhớ dành phần cho
tác giả một tô xe lửa!
Vật liệu giả cầy chính
gồm một chân gị sau nây thịt, thêm vài ba
chiếc móng gị. Hai thứ đốt lên cho vàng
đều, sau đó th́ cạo sạch rửa
kỹ. Phần thịt thái miếng bằng bao
diêm. Phần móng chẻ đôi, chặt thành khúc
nhỏ. Xong xuôi ướp mẻ lọc, mắm
tôm rây và riềng củ giă nhỏ. Nếu không
có mẻ, dùng tạm sữa chua “yogurt” thay
thế. Rưới tí nước màu cho thịt
đỡ nhợt rồi ướp gia vị ít
nhất một tiếng đồng hồ cho đủ
ngấu. Vài giờ sau trút cả vào nồi, đổ
ngập nước, đặt lên bếp. Lúc
đầu lửa to, sau khi sôi rút bớt lửa.
Nước giả cầy phải sền. Nấu
xong, múc ra bát to ăn với bún, bên là đĩa
lạc rang nóng gịn c̣n vỏ áo. Hương thơm
chân gị nướng đă ninh kỹ trộn hoà
với mùi thơm của riềng, của mẻ
lúc đang bốc hơi xông lên điếc mũi.
Nghệ thuật ở chỗ gốc là thịt
heo mà cứ như đang thưởng thức
cầy tơ! SRC="../dkpict/c_hanoi.jpg"
ALIGN=LEFT>Hiện nay tại Việt Nam, từ khi
dịch cúm gia cầm tái phát, nhiều quán
nhậu chuyên bán thịt gà, thịt vịt
dẹp tiệm, lần lượt dựng lên
bảng “cầy tơ bảy món” theo đúng phương
châm “gia cầm xuống hố, thịt chó lên
bàn”. Các nơi trước đây chỉ có
một vài quán nhậu “cầy tơ” lèo tèo
th́ hiện nay các quán “chuyên chó” đă mọc
lên như nấm sau mưa, được
mệnh danh là phố … thịt chó. Để
thay đổi khẩu vị nhiều chủ quán
đă tự nghiên cứu chế biến ra
nhiều món mới rất “bắt” như:
cầy quay, nướng ngũ vị, hầm măng
tre, hằm sả, hầm chanh muối, ướp
muối sả chiên gịn... Đặc biệt
nhiều quán cầy tơ lại có thêm món...
cháo chó. Và cũng chính v́ thịt chó lên cơn
"sốt", nhu cầu thiêu thụ gia tăng
nên thời gian gần đây có những tay lái
chó xuôi ngược khắp nơi kiếm chó bán
cho đại lư. Mỗi ngày trung b́nh một đại
lư mua vô 50-100 con, nhốt đầy lồng, để
trong “khách sạn chó”, hôm sau đẩy đi
không c̣n con nào! Không ít người đă lao vào
nghề buôn chó trong mùa cúm gia cầm với hy
vọng đổi đời. Phương
tiện hành nghề chính của cánh lái chó là
một chiếc xe máy, một cái lồng sắt,
một cây bắt chó “chuyên dùng” được
làm bằng ống sắt luồn giây tḥng
lọng dùng để siết cổ chó.
Tệ hại hơn nữa,
nhiều nơi đă xuất hiện các nhóm
“cẩu tặc” chuyên bắt trộm chó
nhất là vào ban đêm. Bọn này thường
chở nhau hai người trên xe gắn máy quăng
tḥng lọng vào cổ con chó kéo đi xềnh
xệch mấy mét rồi hốt lên cho vào bao
bố. "Kéo cẩu" là một nghề
trộm lạ nhất, công khai mà khi xử
lại khó đi... tù! Một tay "anh
chị" trong làng bắt chó vỗ ngực
tự hào "từ xe đạp cà tàng mà
tớ lên Đờ-rim láng cóng cũng nhờ
chuyển sang nghề "kéo cẩu" đấy!
Phương tiện hành nghề có ǵ đâu:
một sợi dây thắng xe đạp làm tḥng
lọng, một cái bao bố miệng to thắt
rút. Thằng vững tay lái (lạng lách nhanh)
chở thằng chắc tay chèo (có tài tung tḥng
lọng) ngày kiếm hai, ba con là đă có dư trăm
ngh́n! Nội ô th́ bắt nóng buổi sáng tinh sương
hốt ổ những con mới được
sổng chuồng đi giải, ngoại ô th́
đi nguội vào ban trưa khi chó lang thang
kiếm ăn. Khó con nào bị tḥng lọng
siết cổ mà có thể kháng cự được,
lạ kỳ là khi bỏ chúng vào bao bố dù
gỡ tḥng lọng ra rồi chúng vẫn im thin
thít! Tối tân hơn nữa, c̣n có những
bọn dùng điện để giật chết
chó! Thịt chó đă lên bàn, nhưng
những con chó kia có khỏe mạnh hay không th́
chính lái cũng không biết rơ v́ khi mua chỉ
xem bề ngoài chứ không thể khám như bác sĩ
thú y. Người ăn càng không thể phát
hiện chó bệnh khi các chủ quán ngụy trang
khéo léo bằng màu vàng của sa tế và mùi ngũ
vị hương. Ngay cả những con chó
ghẻ lở loét cũng được chủ
quán trang điểm bằng cách bôi mật vào da
rồi dùng mỏ hàn gió đá “khè” vài cái là
da đă vàng rệu hấp dẫn không thua ǵ
cầy tơ! Có lẽ chính v́ ăn phải
thịt những con chó như vậy mà khối người
đă bị sốt và tiêu chảy nhiều ngày
liền sau một buổi tiệc cày tơ
chấm mắm tôm uống kèm rượu đế!
Nhưng thịt cầy ngon đâu
chưa thấy, mục kích cảnh giết chó
thật rất thương tâm. Có ông hàng xóm làm
thịt con chó nuôi trong nhà. Ông âu yếm gọi
nó lại, nó vẫy đuôi nhưng chân c̣n
ngại ngùng, h́nh như linh tính báo cho nó điều
chẳng lành. Nhưng rồi nó cũng rón rén bước
lại, thè lưỡi liếm chân ông. Ông
bỗng bóp cổ con chó, cột chặt bằng
sợi dây thép, xiết cổ cho tới lúc lưỡi
nó thè ra. Nh́n kỹ vào mắt con chó trợn
trắng tội nghiệp, thấy vẻ ngạc
nhiên hơn là oán thù. Có lẽ nó ngạc nhiên
v́ sự đổi thay của người
chủ mà nó vẫn phục ṭng cho tới khi
nhắm mắt! C̣n người khác bắt chó cho
vào bao bố cột lại rồi liệng
xuống hồ trấn nước. Con chó tội
nghiệp vùng vẫy thoát ra được,
lội lên bờ không chạy đi mà lại
gần dụi đầu vào chân chủ như
muốn được che chở sau cơn
hoạn nạn. Nhưng người chủ
lại bắt con vật đáng thương cho
vào bao bố, lần này cột miệng bao
chắc hơn rồi liệng xuống nước!
Nếu ai có dịp đi qua hàng bán thịt chó
gần lăng Bác tại Hà Nội xă nghĩa,
thế nào cũng được mục kích
những đầu lâu chó nhe răng trắng
nhởn như oán hờn đe dọa chế
độ đă giết ḿnh.
Tại Việt Nam hiện nay đang
có phong trào “chè Thái, chó Hàn, tiền Mỹ”.
Chè Thái là loại cocktail trộn sữa tươi
với các loại mứt và trái cây tươi
xắt nhỏ, ăn bằng tô. Nếu dân khoái
ngọt rủ nhau đi ăn chè Thái th́ dân
nhậu cũng rủ rê nhau ăn thử món
thịt chó Hàn Quốc. Thịt chó kiểu Hàn
không nhiều, chỉ vài món qua loa như lẩu
và món hấp, nhưng cũng đủ để
tạo thành một phong trào. Món lẩu theo
kiểu Hàn Quốc được người
Hàn gọi là lẩu bổ dưỡng, gồm
thịt chó nấu chung với củ hành tỏi
ớt, mù tạt và các loại rau. Món hấp cũng
tương tự như của Việt Nam, nhưng
nước chấm gồm mù tạt, dầu mè,
mè đen, giấm… Nhiều người ăn
thử món lẩu nấu từ thịt chó Hàn
Quốc xong phát biểu: rau quá nhiều nên không
ngon mấy. Có lẽ, cái mùi mắm tôm, lá mơ,
riềng, mẻ kèm với thịt chó đă không
thể tách rời khỏi khẩu vị của
người Việt. C̣n tiền Mỹ th́
“hết ư”, đến bác Hồ nằm trong lăng
đánh hơi thấy cũng vội vàng nhỏm
dậy! Về mục “chó Hàn” tưởng cũng cần thêm ba điều bốn chuyện. Cũng như người Trung Quốc, Việt Nam và một số nước châu Á khác, người Hàn Quốc rất khoái món "mộc tồn". Qua thống kê, mỗi năm người Hàn Quốc làm thịt tới 1 triệu con và thịt chó là thức ăn được sử dụng nhiều thứ tư ở Hàn Quốc, sau thịt lợn, thịt ḅ và thịt gà. Khi được phỏng vấn, 92% đàn ông và 68% phụ nữ Hàn Quốc ở tuổi trưởng thành đă cho rằng thịt chó là một trong những món ăn ngon nhất đối với họ. Thế nhưng v́ món mộc tồn này mà trong thời gian diễn ra thế vận hội 1988 ở Seoul, chính phủ Hàn Quốc đă yêu cầu các chủ nhà hàng bán thịt chó tạm thời đóng cửa hoặc di chuyển sang các khu phố xa trung tâm để tránh mắt người ngoại quốc. Với hàng trăm ngàn khách du lịch đến Hàn Quốc dự giải bóng tṛn World Cup 2002, một lần nữa những tranh căi xung quanh món mộc tồn lại trở nên hết sức sôi nổi, thậm chí có phần căng thẳng. Tại Hàn Quốc có tới 6000 cửa hàng bán thịt chó. Bạn vào một nhà hàng, có thể gọi một đĩa thịt chó lớn nghi ngút khói và ngồi bên cạnh một bếp ḷ. Phía dưới tấm kính, cả thịt lẫn rau xanh và rau xà lách cùng sôi sùng sục. Các vị cay của gừng, kim chi, chua của dấm và bùi của dầu mè ngấm vào từng thớ thịt. Món thịt hầm này được dùng theo cách "sambap" của người Hàn Quốc, tức là dùng rau xà lách gói miếng thịt và chêm thêm các gia vị cần thiết. Ngoài ra, thịt chó thường được chế biến thành một món xúp có tên gọi là “boshintang” tương tự như xáo chó mà người dân nơi đây cho rằng rất bổ dưỡng cho sức khỏe. Món súp này hội tụ gần như tất cả các vị của các món súp truyền thống của Hàn Quốc, như món “doenjang” hay súp kim chi. Khác biệt duy nhất là trong món súp này có thịt chó. Tại Hoa Kỳ, “chó nóng” hay Hotdog là một món ăn rất thông dụng đă được liệt vào hàng tứ khoái của dân Mỹ như trong câu “Baseball, Hotdog, Apple Pie, Chevrolet”. Vậy hotdog bắt nguồn từ đâu và tại sao món ăn phổ thông này mang tên “chó nóng”? T́m trong "gia phả", Hot Dog bắt nguồn từ một trong các món ăn của người Đức, được di-dân gốc Đức mang sang Mỹ. Theo tài-liệu, nguyên-thủy tại nước Đức, món Hot Dog có tên là Frankfuter, được sản-xuất tại thành-phố Frankfurt, bắt nguồn từ xúc xích là món ăn lâu đời, rất phổ thông của người Âu như đă được văn hào Hy Lạp Homer kể lại trong thiên hùng ca Odyssey từ thế kỷ 9 trước Tây Lịch. Đây là món thịt bằm, sang Mỹ được nắn thành h́nh trụ, kẹp vào bánh ḿ nhỏ để ăn, chắc khỏi cần nói rơ, chúng ta ai cũng biết. Món Frankfurter được bày bán lần đầu tiên tại Hoa-Kỳ vào năm 1860. Vào thời gian đó, người Mỹ thường gọi món Frankfurters là "Dachshund sausages". Dachshund là tên của một loại chó nhỏ của Đức có thân h́nh dài và 4 chân cụt. Thế rồi sau đó Dachshund sausages được xem là một cái tên tốt hơn Frankfurters và trở nên thông-dụng đối với khách tiêu-thụ. Dachshund sausages thoạt-tiên phổ-quát tại khu-vực New York, bày bán ở các nơi tập-họp đông người như các nơi tranh tài thể-thao, hội họp; đặc-biệt, được bán trong các sân bóng chày (baseball). Tại đây, các người bán giữ nó trong ḷ hấp để cho bánh hot dog được nóng lâu v́ khách hàng thích ăn nóng. Họ mang cái thùng bánh hotdog đi lên đi xuống giữa các hàng băng người ngồi xem chơi bóng và rao: "Dachshund sausages đây, mua đi!". Người mua loại sausages này bỏ vào trong ổ bánh ḿ nhỏ xẻ làm hai, một loại bánh ḿ để ăn với món Dachshund sausages. Thông thường, tại Mỹ, các loại hàng nếu có nhiều món hàng cùng dùng chung với nhau th́ người ta đóng gói với số lượng mỗi loại ngang nhau, để khi dùng th́ có một thứ nầy cùng một thứ kia. Riêng loại hot-dog và bánh ḿ kẹp hotdog, mỗi bịch (bag) thịt hot-dog có 10 cái trong khi bánh ḿ để kẹp hotdog mỗi bịch chỉ có 8 cái. Đố qúi vị hai cái hotdog dư kia dùng để làm ǵ? Đến năm 1906, nhà vẽ hí-họa tên là Tad Dorgan của một tờ báo đến sân bóng chày, thấy những người rao bán Dachshund sausages bèn năy ra một ư hài-hước. Ngày hôm sau, ông nầy vẽ ổ bánh ḿ xẻ làm hai và h́nh một con chó Duchshund nằm ngữa trong đó trên tờ báo ông ta làm việc - không phải là Duchshund sausages. Ông Dorgan không biết ghi chú thế nào để gọi Dachshund, ông bèn viết dưới bức hí-họa mấy chữ: Hăy mua "Hot Dog" của anh! Ḍng chữ phía dưới bức hí-họa ấy về sau trở nên phổ-biến và người ta quên dần cái tên Duchshund sausages chính-thức mà chỉ c̣n biết "Hot Dog" và nó truyền đến ngày nay. Cũng có tài liệu giải-thích chữ Hot Dog: chữ Hot do nó được giữ nóng để cho ngon hơn, chữ Dog do chữ Duchshund mà ra, chữ Duchshund khó đọc, khó nhớ hơn chữ Dog, cả hai đều diễn tả một con vật 4 chân. Theo quan-niệm Đông-phương, h́nh ảnh con chó "không mấy đẹp" nhất là tại "Việt-Nam xă-nghĩa" sau ngày 30-4-1975 do nó ăn chất thải ra từ con người ra. Do vậy, việc người Việt nghe từ-ngữ Hot Dog dường như có một ư nghĩ khác, có lẽ do ảnh hưởng tâm-lư. Tại Âu Mỹ, h́nh ảnh con chó trong tâm-khảm con người khác hơn, được con người yêu quư hơn. SỐ MẠNG TRONG NĂM CHÓ Qua mục Tử Vi bói toán, đặc biệt đúng với các liệt nữ “sáng trăng em tưởng tối trời … đen như mơm chó chém cha sự đời”, Quỉ Cốc tiên sinh luận bàn tổng quát trọn đời về Tuổi Tuất (con Chó) như sau: “Tuổi Tuất là con chó c̣ Tuổi Chó trung thành, trung tín, trung trực, có một đức hạnh vững vàng trong cách sống và đáng được trông cậy trong những lúc khó khăn. Tuổi nầy rất kín miệng , nghe chuyện người không bao giờ để lộ và tinh ư nhận ra điều sai điều phải và giữ vững trách nhiệm, làm trọn bổn phận cho tới cùng. Tuổi nầy có một triết lư để sống: sống phải đạo, giúp đỡ người cô thế, và chống lại bất công bằng mọi cách. Nhớ rằng tuổi Chó một khi quyết định chuyện chi là quan trọng, họ theo đuổi chuyện đó tới cùng nhưng vui buồn bất chợt không lường trước được, ví như một con chó phóng ra gặp bạn không biết chắc là nó sẽ liếm chân mừng hoặc cắn bứt gị bạn. Tuổi Chó cũng có lúc làm việc liều mạng khi cảm thấy lo âu bồn chồn vô cớ. Cần có thời gian gần gủi để t́m hiểu, tuổi nầy mới từ từ tin tưởng người đối diện được. Thiếu sự tin cậy nầy, tuổi Chó đâm ra xét đoán phiến diện, chỉ trích và thô lổ với người khác. Hơn thế nữa, tuổi nầy có chút đỉnh bất thường về phương diện t́nh ái, lúc thương lúc ghét khó lường, mà khi đă không thích ai rồi th́ có thể ghét người ấy tận mạng. Tuổi Chó làm thương mại giỏi, lượm đồ vụn vặt cũng làm nên tài sản bạc triệu như chơi. Nói về đường t́nh duyên th́ ôi sao lận đận, t́m hoài cũng chẳng thấy ư trung nhân. Tuổi nầy có tánh độc tài về mặt t́nh cảm, thương yêu ai th́ yêu cho bằng được và cũng bắt buộc người t́nh đáp lại tối đa ! Điều khuyên cho tuổi Chó là hăy dẹp bỏ những nổi lo âu vô lư và những đ̣i hỏi xa vời thiếu thực tế, chỉ làm cho người ḿnh thương tránh né một cách đáng tiếc. Tam Hạp: Tuổi Chó hạp với tuổi Dần (con Cọp) và tuổi Ngọ (con Ngựa). Tứ Xung:Tuổi Chó khắc/kỵ tuổi Sửu (con Trâu) , tuổi Th́n (con Rồng) và tuổi Mùi (con Dê). Bài phiếm luận đến đây đă khá dài, đủ để “c̣ bay thẳng cánh, chó chạy cong đuôi” nên mạn phép được tạm ngưng nơi đây, dành sức sang năm tới sẽ luận bàn về sư phụ heo nọc. Thành thật cầu chúc qúi độc giả năm mới phước lộc song toàn. Riêng đối với bọn Kẩu Kầy và đám xướng ca vô loại nỏ mồm nỏ mơm núp dưới chiêu bài ḥa hợp ḥa giải, t́nh tự quê hương để nịnh bợ luồn cúi đám chó đỏ xin chút xương thừa, hăy đọc bài thơ “Vịnh con chó chết trôi” để tự răn ḿnh trước khi quá trễ. Bài thơ này của nhà chí sĩ Phan Văn Trị gửi những con chó săn Việt gian bán nước: Vịnh con chó chết trôi “Sống thời bắt thỏ,
thỏ kêu rêu Chó chết hết chuyện!
TRẦN ĐỖ CẨM
<Phụ chú của ERCT : Xin phép lấy ra một sồ h́nh ảnh có thể gây hiểu lầm về sự bạc đăi thú vật > |