|
CỐM VÒNG HÀ NỘI
Tùy
bút Trong
bài thơ "Paris có gì lạ không em ?" của
Nguyên Sa đoạn kết có câu: "Vẫn
hỏi lòng mình là hương cốm Chả
biết tay ai làm lá sen ?..." BS
thấy hay nhưng vẫn không mường tượng
được ý tác giả muốn nói gì ? Nhân lúc
rảnh vớ được tờ báo có bài tùy bút
của Băng Sơn viết "Cốm Vòng Hà
Nội", bài viết thật công phu, sau khi đọc
xong mới thấy bài thơ "Paris có gì lạ không
em" của Nguyên Sa dụng chữ "hương
cốm" với "lá sen" thật tài tình. Xin
được post lên đây để các bạn cùng
thưởng thức hương vị cốm vào
cuối thu. CỐM
VÒNG HÀ NỘI Hương
vị mùa thu Những
người Hà Nội đang ở xa, khi thu về có
một lúc nào để lòng mình nhớ nhung về nơi
có mùa thu kỳ lạ? T cảm nhận được
ngọn gió heo may tràn ngập hồn mình khi liễu
buồn buông lệ bên Hồ Gươm, khi có
những người từ đâu không biết, đi
rong phố phường bán từng lồng chim ngói, loài
chim chỉ xuất hiện mỗi độ thu
về... Mùa
trời lên cao, đất khô đi, cây tự
nhuộm mình cho lá mang màu vàng đỏ, lòng người
nhớ thương nhau, tìm tri âm tri kỷ, thanh tao thì
uống một tách cà phê, dung tục thì đến quán
mộc tồn... ấy là lúc có món đặc
biệt: Cốm Vòng, chỉ mùa thu Hà Nội có và ngon
đến thế. Và
cũng chỉ một làng cổ, huyện Từ Liêm
cổ, quá cửa Ô Cầu Giấy mấy trăm bước
chân, làng Dịch Vọng mới có thứ cốm vòng
như thế. Ngay cách đấy ít làng, có làng Lũ
cũng làm cốm, nhưng chỉ là món quà rẻ cho
trẻ em, cứng và bệch bạc, dù đây là nơi
chôn nhau cắt rốn của nhà thơ Nguyễn Siêu
trong bốn chữ xưng tụng của người
đời cùng với Cao Bá Quát "Thần Siêu, Thành
Quát". Cốm
là quà không phải để ăn nọ Ăn
cốm là ăn mùa thu vào lòng, vào tâm khảm. Mùa thu
Hà Nội trong veo như tâm hồn thiếu nữ,
thanh sạch, mát dịu như không chút bụi
trần, để con cá chép Lý Ngư cũng phải
vượt Vũ Môn mong hóa thành rồng. Sáng bảng
lảng sương, chiều dìu dịu nắng, đêm
êm đềm ngọt ngào... trong không gian huyền
thoại đắm say ấy, sớm sớm những
chuyến tàu điện đầu tiên rẽ sương
từ Ô Cầu Giấy vào Hàng Ðẫy, Hàng Bông,
Bờ Hồ... có những bà, những cô hàng cốm
xuống tàu, theo lối quen, tỏa hương thu vào
mọi nẻọ. Ít
người cần rao. Ai cũng có khách quen, có khi quen
đã mấy đời. Nếu là khách lạ cứ
nhìn chiếc đòn gánh cong một đầu là
biết. Ðòn gánh là cả gốc tre già, đánh lên
cả gốc, chẻ đôi, dùng từ đời
mẹ, sang đời con, nó như cái câu liêm, câu
bầu trời xuống ủ cho mềm cốm. Hai bên
thúng là từng lớp cốm xanh thoang thoảng hương
lúa, mùi mùa phơi thóc, cốm nằm mơ màng trong
từng lớp lá sen già đượm thứ hương
hoa dâng hiến, hoặc lá khoai ráy xanh non, bóng như
một thứ xa- tanh (satin) mát mịn. Dúm một dúm,
đặt vào lòng bàn tay, ngửa cổ, thả nó vào
đầu lưỡi, nó sẽ tan, sẽ ngấm,
sẽ thì thầm thứ vị ngọt mềm của
trời đất nước non, cả đầm sen
ngan ngát, cả sóng lúa rì rào, cả màu mây lãng đãng...
và mơ màng nhớ đến một suối tóc dài
thơm hương bồ kết của ai đó đang
ngồi giã cốm trong đêm trăng. Ăn
cốm là nhai từ từ, khoan thai, từng hạt
ngọc xanh mà dẹt, mềm mà thơm, ngọt mà mát.
Không thể ăn cốm mà xới vào bát rồi lùa
như ăn bún, ăn phở. Người Hà Nội
ăn riêng cốm, ăn một mình cốm để
tận hưởng sắc màu, hương vị thanh
thoát, tao nhã đúng là "ăn hương ăn
hoa", ăn để mình cũng biến hình vào
trời thu, hồn mình lãng du cùng non nước... Cũng
có người thích ăn cốm với hồng
ngọc là thứ hồng đỏ, ngọt sắc
cho hai màu tương phản, nâng đỡ âm dương,
hoặc ăn cốm với chuối tiêu trứng
cuốc, thứ chuối mà chỉ mùa thu mới vàng
ươm dệt thêm từng đốm màu nâu vào
vỏ để quyến rũ mắt nhìn và dâng hương
cho mê tơi khứu giác, dù ăn như thế
cốm phải hy sinh một phần hương
sắc. Người
Hà Nội còn ăn chè cốm, cốm xào, chả
cốm... nhưng bánh cốm thì cũng đã thành
nghệ thuật. Bánh cốm Nguyễn Ninh đường
Hàng Than, đã tiêu biểu cho nghệ thuật chế
biến món ngon Hà Nội, thành tấm lòng thơm
thảo của người con đi xa gửi về
biếu mẹ cha luống tuổi, thành sự mừng
vui của những ngày sêu Tết. Cô
hàng cốm xưa, đi chân đất, vấn vành khăn
nâu, trên đầu đòn gánh cong, còn tòn ten chiếc
chổi mới bện bằng rơm cốm. Sau
mấy chục mùa thu chinh chiến, nay đất nước
lặng im tiếng súng, cốm vòng lại có mặt
với miền Nam, mang theo gió thu Hà Nội, mang màu xanh
và hương đất Bắc để hòa với
mưa nắng của miền Nam. Khi lúa nếp
uốn câu chưa chín vàng, đã được
tuốt mang về. Làng Dịch Vọng um tùm tre trúc,
ngập tràn trăng sáng, đầy gió thu mát, điển
hình cho làng quê Việt Nam như ca dao, như cổ tích.
Trong gió và trăng ấy, thóc nếp được
tuốt rồi được rang trên lửa củi,
xong đem giã chày tay, rồi sàng, rồi giần quay
quay nhè nhẹ êm êm... Lại giã, lại giần, sàng.
Hàng chục lượt như thế, vỏ trấu
bong ra, cái bổi tơi bời, hạt cốm dẹt
mình, bắt đầu tỏa hương vào mùa tu làng
xóm. Nó còn được hồ thêm chút lá lúa cho thêm
xanh, cho đậm chất đã làm nên hạt lúa.
Cuối cùng những hạt ngọc mềm ấy
được nằm mơ ngủ say trong lá sen, lá ráy
đã lau chùi thật sạch, chờ chuyến xe điện
đầu tiên, lên đường vào phố. Tháng tám
qua làng Vòng sẽ nghe được nhịp gõ,
bộ gõ tiết tấu to nhỏ gần xa, vang vang và
trầm đục, tiếng loạt xoạt của rơm
xanh, tiếng rì rầm của tay sàn sảy... Cốm
không thể ăn nhiều. Cô hàng cốm cũng không
gánh đi nhiều, không lặc lè như cô hàng
gạo, hàng rau. Và cốm cũng không thể làm
nhiều như sản phẩm bằng lúa nếp khác. Cốm
là hạt lúa nếp nhưng đã thành kiếp khác.
Nó là tinh hoa, là tài tình, cũng chẳng giống bánh
chưng bánh dầy... nó là sáng tạo đã ngàn
đời, từ nguyên thủy đến trường
tồn dân tộc? Nhiều
năm cốm tưởng chừng bị mai một.
May thay, mùa thu vẫn xanh cùng đất nước,
cốm lại được sinh thành, hồi xuân,
lại tái hồi cho lòng người nguôi ngoai thương
nhớ. Bạn
phương trời, bao mùa xa vắng! Hà Nội
lại gởi lá thư xanh bằng gói cốm lá sen
cho bạn đây, một chút "thời trân",
một câu thơ lục bát bằng hương và
vị... Hãy nhận lấy bạn ơi, để
nhớ về một mùa thu Hà Nội đầy
mỹ cảm... Băng
Sơn
|