|
|
Hảo Ngọt Nguyễn thượng Chánh DVM
Có một điều
tương đồng ở tất cả
mọi người , dù già hay trẻ, dù Ta hay Tây
ai nấy cũng đều thích ngọt cả .
Một món ăn có vị ngọt vẩn dễ
hấp dẫn khẩu vị hơn là một món
ăn nhạt nhẽo vô vị . Một lời nói
ngọt ngào ( dù cho không thật ḷng đi
nữa ) vẫn làm mát ḷng người nghe hơn
là một lời chua cay đầy đố
kỵ cao thấp…
Thèm ngọt là
một nhu cầu thiết yếu của cơ
thể để cũng cố năng lượng.
Carbohydrate hay Glucide là những hợp chất bao
gồm đường (sugar ) , bột đường
hay tinh bột ( amidon, starch ) và chất xơ
(fibre ). Những chất nầy rất cần
thiết cho chúng ta để sống . Nhưng
ngọt quá đôi khi cũng nguy hiểm lắm
đó ! Ngọt mật chết ruồi mà .
Lời đường mật làm cho con người
si mê điên dại. Hảo ngọt quá đôi
khi cũng không tốt …
Các
loại đường
Đường
là chất phụ gia đứng hàng đầu
tại Hoa Kỳ. Các chất đường thiên
nhiên sau đây được xem là tiêu biểu
và thông dụng nhất:
Đường
cát ( table sugar, white sugar, granulated sugar) : đường
cát là loại đường thông dụng
nhất hiện nay trên thế giới. Màu
trắng, hạt nhuyễn mịn hay to
được trích lấy , biến chế
từ mía đường hoặc từ củ
cải đường . Tên khoa học của
đường cát là sucrose hay saccharose .
Đường cát đả chịu qua
nhiều giai đoạn tẩy trắng bằng
hóa chất nên rất tinh khiết cho nên có
người nói rằng ăn đường cát
thường xuyên sẽ không tốt cho sức
khỏe .
Đường thô
( raw sugar ) : có được trong
giai đoạn đầu của việc sản
xuất đường. Đường thô màu
xậm và hạt to hơn đường cát
trắng . Tại Hoa Kỳ, sau khi xử lư
lấy bớt chất bẩn ra , đường
thô được bán với những tên như
demerera, turbinado, hoặc muscavado .
Đường nâu
( brown sugar) : Màu từ xậm tới lợt .
Đây là đường cát ( trên 90% )
được nhà sản xuất trộn thêm
mật đường . Có người nghĩ
rằng ăn đường nâu thơm ngon
và tốt cho sức khỏe hơn ăn
đường cát trắng
Đường
bột ( confectioner’s sugar , powdered sugar) :
Đây là loại đường nhuyễn y như
bột . Đôi khi người ta thêm tinh bột
bắp để giúp đường khỏi
bị đóng cục . Đường bột
được dùng để áo bên ngoài của
các loại bánh ngọt .
Đường trái
cây ( fructose) : hiện diện một cách
tự nhiên trong các loại trái cây .
Đường
của sữa ( lactose) : các loại sữa
đều có chứa lactose một cách tự nhiên
Mật đường
( molasse ) : Sau khi đường cát được
trích lấy, chất nước c̣n lại
được gọi là mật đường
. Chất nầy có màu đen , vị ngọt hơi
đắng và có chứa nhiều chất
khoáng như magnesium và chất sắt .Mật
đường được dùng để nuôi
gia súc ,để cất rượu cồn
ethyl alcohol , hoặc để làm bánh .
Sirop bắp ( corn syrup
) : c̣n được gọi là high fructose
corn syrup v́ chứa rất nhiều fructose .
Đường glucose của tinh bột bắp
được chuyển thành fructose . Sirop
bắp được sử dụng rất
rộng răi trong kỹ nghệ biến chế
thực phẩm .
Sirop cây phong (
sirop d’érable, maple syrup) : Đây là sirop quốc
hồn quốc túy của Canada . Nhựa cây phong
được trích lấy khoảng tháng ba
khi bớt tuyết và trời bắt đầu
hơi ấm áp , đến cuối tháng tư lúc
cây đâm chồi th́ ngưng hứng nhựa .
Bốn mươi gallons nhựa cây phong đem
nấu cho được 1 gallon sirop .
Mật ong (
honey) : rất thay đổi tùy loại mật .
Nói chung mật ong chứa nhiều đường
fructose ( levulose) 38%, dextrose 31%, sucrose 1 %, nước
17 % , và vitamins.
Đường
nghịch chuyển ( invert sugar) : có được
qua phương pháp làm thủy phân
sucrose ra đường glucose ( dextrose) và
đường fructose với 1 tỷ lệ
bằng nhau . Đường nghịch
chuyễn ngọt hơn đường cát , và
thường được dùng để làm
chậm lại hiện tượng kết tinh (
thí dụ trong các lọ mứt) cũng như
để giữ độ ẫm lâu hơn
nhất là đối với các loại bánh
ngọt có chứa rất ít chất béo ,
nhờ vậy sản phẩm sẽ lâu
khô và có vẻ tươi mới .
Việt Nam , ngoài
những loại đường thông thường
như vừa kể bên trên , ḿnh cũng có
nhiều loại đường rất đặc
biệt và rất b́nh dân , đó là :
đường thẻ, đường móng trâu
, đường chảy dùng để nấu
chè hoặc kho cá v́ nó rẻ tiền . Đường
xắc, dùng làm nước mắm hoặc để
ăn xoài tượng sống ngon khỏi
chỗ chê . Ở vùng Tân Châu, Châu Đốc th́
có đường thốt lốt , ngọt
dịu và thơm nữa . Muốn sang hơn th́
ăn đường phèn, nhưng loại
đường nầy cũng không mấy thông
dụng cho lắm . Ba bốn chục năm
về trước, lúc quê hương c̣n
nhiều khó khăn , đường là
một nhu yếu phẩm, thường bị
khan hiếm cho nên giá mua rất đắt .
Tại Canada, lúc bán sale mua đường có khi
c̣n rẻ hơn là mua muối .
Đường
đơn giản hay đường hấp
thụ nhanh
Đây là
đường theo nghĩa thông thường mà
chúng ta hiểu vv…Những chất tạo
vị ngọt nầy được thấy
trong bánh, kẹo, chè ,chocolat hoặc trong các
loại nước ngọt Pepsi,Coca , soda
vv…Đường mía ( saccharose) , đường
trái cây ( fructose) , đường sữa (
lactose) là những thí dụ điển h́nh
. Trong ruột, đường đơn giản
chuyển thành glucose và được hấp
thụ vào máu một cách rất nhanh chóng .Khi
đường huyết tăng , lập tức
tụy tạng sẽ tiết ra insulin để
giúp tế bào hấp thụ glucose vào đồng
thời kéo đường huyết xuống
mức b́nh thường .
Đường
phức tạp hay đường hấp thụ
chậm
Vị hơi
ngọt và gồm có bột đường( tinh
bột ) và các chất xơ . Tinh bột
được thấy trong bánh ḿ, khoai tây
, cơm, gạo , ngũ cốc, và trong các pasta
. Chất xơ có nhiều trong rau, cải,
hoa quả, trong đậu , trong hạt dẻ
(walnuts) cũng như trong các loại cereal làm
từ hạt thô ( wholemeal grain, grain entier) …Đường
phức tạp cần sự tác động
của một số enzymes để chuyển ra
thành glucose rồi mới được
hấp thụ vào máu, bởi lư do nầy cho nên
đường huyết tăng lên chậm hơn
so với trường hợp đường
đơn giản . Đường phức
tạp rất cần cho các hoạt động
biến dưỡng của cơ thể .
Đường đơn giản và đường
phức tạp không thể thay thế lẫn
nhau được.
Ăn
nhiều đường quá có hại sức cho
khỏe không ?
Đường
đơn giản và đường phức
tạp đều tạo ra năng lượng .
Một gram đường cho ra 4 Calo . Năng lượng
dư thừa sẽ được dự
trử dưới dạng glycogen và mỡ .
Ăn ngọt thường xuyên quá , mập ra cũng
dễ hiểu mà thôi . T́nh trạng béo ph́
dễ dẫn đến các bệnh tim mạch,
tăng áp huyết, và tiểu đường.
Ngoài ra việc ăn nhiều đường ,
kể cả đường thiên nhiên như
đường trái cây và mật ong cũng
vậy , có thể đưa đến t́nh
trạng hư răng nếu không chịu súc
miệng đánh răng kỹ lưỡng. Ăn
nhiều bánh kẹo ngọt cũng có thể làm
chất triglyceride ( 1 loại mỡ xấu ) trong
máu gia tăng. Năm 1998 , trên thế giới có
khoảng 135 triệu người mắc bệnh
tiểu đường . Thực phẩm quá
dồi dào đường cũng như quá
nhiều mỡ dầu chất béo, cộng thêm
việc thiếu vận động là những
nhân tố dẫn đến t́nh trạng béo ph́,
bệnh tim mạch và bệnh tiểu
đường . Lối sống vội vă ,
ăn nhiều fast foods ù ĺ thiếu
vận động , là những nguyên nhân
quan trọng cho sự bộc phát của
những bệnh vừa kể trên .
Người
bị bệnh tiểu đường có
thể dùng đường được
không?
Theo l’Association
Canadienne du Diabète , th́ họ vẫn có
thể ăn ngọt được , nhưng
phải ăn một cách điều độ
chừng mực và vừa phải thôi .
Họ cũng có thể thay thế đường
bằng cách ăn trái cây, rau cải, hoặc
bằng các sản phẩm của sữa . Trong
một ngày họ có thể ăn 10 % Calo từ
các thức ăn ngọt . Trên đây là
những chỉ dẫn chung chung mà thôi .
Bệnh trạng mỗi người mỗi khác,
nên chỉ có bác sĩ điều trị
mới có thẩm quyền quyết định
.
Chỉ
số đường huyết ( Glycaemic index ,GI )
là ǵ ?
GI do Gs David Jenkin,
Canada nêu ra đầu tiên vào những năm 80 .
Ư niệm nầy lần hồi đă thay
thế ư niệm đường đơn
giản và đường phức tạp ngày
nay và đă lổi thời rồi. Chỉ
số đường huyết là vận tốc
chuyển hóa của 1 carbohydrate ra thành
glucose để được hấp
thụ vào máu . Một thức ăn có GI càng
cao th́ đường huyết càng tăng nhanh .
V́ vậy các nhà dinh dưỡng khuyên ta nên dùng
những thức ăn nào có GI thấp để
ngăn ngừa béo ph́ , bị bệnh tim
mạch và tiểu đường . Trong thực
tế, chúng ta thường pha trộn lẫn
lộn các loại thức ăn có GI khác nhau
trong các bữa ăn hằng ngày . Nh́n chung các
loại đường phức tạp
như ngũ cốc, cơm gạo, bánh ḿ ,
pasta, spaghetti, và các loại rau cải xanh là
những thực phẩm chứa nhiều dưỡng
chất và chất xơ . Đối với
những loại carbohydrate nầy , đường
huyết tăng chậm hơn các loại
đường đơn giản quá tinh
khiết như đường cát trắng
chẳng hạn . Tuy vậy cũng có một vài
ngoại lệ, một số chất
đường phức tạp như gạo
trắng , pain blanc, bắp, khoai tây lại có GI
cao hơn một số đường đơn
giản . GI cũng có thể thay đổi tùy
theo nhiều yếu tố khác nhau như : kích thước
các phân tử tạo nên sản phẩm ,
chẳng hạn như cereal càng nhuyễn , càng
tinh khiết th́ có GI càng cao, tùy theo cơ
cấu sinh hóa ( thí dụ gạo Basmati
chứa nhiều đường amylose nên
có GI thấp hơn gạo trắng hạt dài, là
thứ gạo chúng ta ăn hằng ngày), tùy theo
cách biến chế nấu nướng , như
khoai tây nấu chín trong nồi
có GI thấp hơn khoai tây đút ḷ , bột
khoai tây ( purée , flocon de pomme de terre ) có GI cao hơn
GI khoai tây nguyên củ , carotte tươi có
GI thấp hơn GI carotte nấu chín
vv… Trong lĩnh vực thể thao , ư niệm GI
rất đáng được các vận
động viên quan tâm đến . Trước
hôm ngày tranh tài , nên ăn những loại
thực phẩm có GI thấp và trung b́nh , như
pasta, spaghetti, chuối, yogurt để dự
trử năng lượng…Ngày tranh tài th́ dùng
những thức ăn dễ tiêu, có GI cao như
các thỏi bánh kẹo ngọt có nhiều
đường và vitamins . Ngay sau khi kết thúc
cuộc thi đấu nên ăn những món
có GI cao để bù đấp lại nhanh chóng
năng lượng tiêu hao .
Thức
ăn chuẩn là Glucose có GI = 100
Thức ăn có GI
thấp hơn 55 : Đậu nành, đậu
phọng ( 15) , đậu xanh ( 30 ) , đậu
trắng (38) , đậu đỏ ( 40) , sữa
(30) , yogurt ( 35), cam ( 40) , táo pomme ( 39) , biscuit khô(55),bột
lúa mạch oat (50), bún (35) , gạo Basmati có
nhiều amylose (50), carotte tươi(35) , fructose
hay đường trái cây (20) , All bran cereal (51) ,
gạo lức , đậu petit pois, khoai lang, bánh
ḿ multigrain , pain au son ( 45) , rau cải xanh,
tomate, cà tím , ớt xanh, hành , tỏi, nấm rơm
( 10 ) , bưởi (22) , cam ( 43) , trái poire (
36) , xoài ( 55) , trái pêche tươi (28) , nước
trái táo pomme ( 48) , nho tươi ( 43) .
Thức ăn có GI
trung b́nh 56-69 : càrem ( 59) , nước cam lon (
65) , chuối ( 62) , đu đủ ( 60) , pain blé
entier, wholemeal bread ( 69) , trái kiwi ( 58) , khoai mỡ
( 51) , nho khô (64) , đường cát sucrose,
saccharose ( 65) , khóm ( 66 ) .
Thức ăn có GI
cao trên 70 : carotte chín ( 85) , pain blanc ( 70) , cơm
trắng gạo hạt dài ( 72) , các loại
cereal , cornflakes ( 80) , mật ong ( 90) , Pepsi Coca ( 70)
, riz instantané ( 90) , maltose beer (110 ) , Khoai tây
chiên fries , hay khoai đút ḷ ( 95) , khoai tây
nấu chín ( 70) , dưa hấu ( 72) , bí rợ (
75) , corn chip ( 72) , bánh biscuit khô cracker ( 78) , bánh ḿ
baguette ( 95) .
Ăn
để giảm mập
"...Theo
l’Association Canadienne du Diabète , th́ họ
vẫn có thể ăn ngọt được ,
nhưng phải ăn một cách điều
độ chừng mực và vừa phải
thôi . Họ cũng có thể thay thế
đường bằng cách ăn trái cây, rau
cải, hoặc bằng các sản phẩm
của sữa . Trong một ngày họ có thể
ăn 10 % Calo từ các thức ăn ngọt . Trên
đây là những chỉ dẫn chung chung mà
thôi . Bệnh trạng mỗi người
mỗi khác, nên chỉ có bác sĩ điều
trị mới có thẩm quyền quyết
định ..."
« Je mange, donc je maigris » , đây là tựa đề một quyển sách của Michel Montignac. Ông này là người Pháp ,và cũng là một nhà dinh dưỡng tự học lấy, nhưng ông ta lại có sáng kiến độc đáo đánh trúng vào yếu điểm của dân Tây phương là ai ai cũng đều sợ mập cả . Theo Montignac, th́ năng lượng calories không đáng cho ta quan tâm đến, thịt, mỡ, chất đạm , chất béo cũng không đáng ngại . Thủ phạm của t́nh trạng béo ph́, vẫn theo Montignac, là đường, và các carbohydrate quá tinh khiết ( raffiné, refined) , như các loại khoai tây, pain blanc ,đường cát trắng vv…Muốn giảm cân th́ cần tránh những thực phẩm có GI cao, chỉ nên dùng những thức ăn nào có GI thấp dưới 50 mà thôi , và phải biết cách phối hợp các loại thức ăn với nhau cũng như cần ăn nhiều rau cải trái cây có nhiều chất xơ .Ăn bao nhiêu thức ăn cũng được, ăn cho đến no th́ thôi không cần phải hạn chế số lượng ăn vào . Lẽ dỉ nhiên là ư niệm quá cách mạng của Montignac đă làm phần lớn các nhà dinh dưỡng nhảy nhơm lên hết . Phương pháp Montignac đă bị công kích , đă phá khắp mọi nơi . Tuy vậy, Montignac vẫn t́m được một số đồng minh cho thuyết dinh dưỡng của ḿnh . Tại Quebec, Canada, Bs Dumesnil chuyên khoa tim mạch đă hết ḷng bênh vực Montignac . Ông lang Tây này nói là đă áp dụng thành công và hiệu quả phương pháp Montignac , và nó đă giúp ông sụt được 21 kg trong ṿng có 6 tháng mà thôi ( ? ) . Rất nhiều người trên thế giới đă theo phương pháp Montignac và xem nó như một loại mode trong cuộc sống vậy . Hiệp hội các nhà dinh dưỡng Quebec đă đưa ra nhận xét là phương pháp Montignac là dơm , rất nguy hiểm , thiếu cơ sở khoa học cũng như thiếu thử nghiệm lâm sàng đáng tin cậy . Thực chất của phương pháp Montignac là việc giảm thiểu đáng kể của số lượng calories ăn vào mà thôi. Phương pháp này cũng nguy hiểm v́ nó không quan trọng hóa các loại chất béo và mỡ dầu ăn vào, cũng như nó không đặt nặng việc cần phải vận động tập thể dục để có một sức khỏe tốt. Ai chê , ai khen mặc ai , Montignac vẫn phây phây và đă trở thành triệu phú nhờ vào hằng triệu sách bestseller của ông bán ra, cũng như vô số trung tâm dinh dưỡng theo phương pháp Montignac mọc lên khắp thế giới .
Chế
độ ăn uống ít chất đường
/bột đường
Từ 30 năm nay
tại Hoa Kỳ, Bs Robert Atkins, chuyên khoa tim
mạch đă hết ḷng quảng bá và bảo
vệ thuyết dinh dưỡng do ông đề
xướng ra, đó là cách ăn uống ít
đường và bột đường nhưng
ăn nhiều thịt nhiều mỡ để
giảm cân . Tiếng Anh gọi là Low carb diet.
Theo ông ta, ăn nhiều carbohydrate sẽ tạo
ra nhiều glucose trong máu , đồng
thời tụy tạng sẽ tiết nhiều
insulin. Số glucose thặng dư được
chuyển thành mỡ và chất insulin sẽ giúp
vào sự tích tụ của mỡ trong cơ
thể . Thông thường , lối 60% năng lượng
của cơ thể có nguồn gốc từ các
loại đường và bột đường
ăn vào . Vậy muốn giảm mập th́
phải giảm chất carbohydrate xuống c̣n
lối 40 g/ ngày và tăng khối lượng
chất đạm của thịt ăn vào. Trong
t́nh trạng thiếu glucose này, cơ thể
bắt buộc phải làm thoái biến
số mỡ dự trử ra thành các acid béo, và
gan sẽ chuyển chúng thành các chất ketones .
Chất này là nguồn năng lượng
của cơ thể trong điều kiện
ăn uống ít chất carbohydrate. Hiện tượng
sinh hóa này khoa học gọi là benign dietary ketosis
và là căn bản của Atkins diet .
Thuyết low carb của Atkins có vẻ ngược
đời nên đă bị cộng
đồng khoa học chỉ trích thậm
tệ và cá nhân Bs Atkins bị ngạo báng
hết cở . Mặc dù vậy , Low carb diet cũng
được hằng triệu người Hoa
Kỳ hoan nghênh , trong số có nhiều tài
tử Hollywood . Họ nói Atkins diet đă
thật sự giúp họ giảm cân một cách
mau lẹ ? Bs Atkins và phe nhóm của ông ta
đă trở thành triệu phú nhờ vào
việc bán sách chỉ dẫn phương pháp
dinh dưỡng Low carb cũng và như nhờ vào
sự khai thác các cơ sở kinh doanh Atkins
Nutritionnals . Ngày nay ,phong trào dinh dưỡng low
carb đă trở thành một lối sống
mới đối với một số lớn người
tiêu thụ, cho nên kỹ nghệ thực
phẩm và các hệ thống nhà hàng fast foods như
Mac Donald cũng nhảy vô ăn có , tạo
ra vô số sản phẩm ít đường và
bột đường để mong giành
giựt thị trường với các sản
phẩm Atkins . Tại Canada ,gần đây
thấy có xuất hiện 1 loại beer low carb,
đó là beer Molson Ultra , chai 12 oz chứa 2.5g
carbohydrate và 97 calories, trong khi loại beer regular có
13 g carb. và 146 calories . Vậy thực chất
của low carb diet là ǵ? có tốt cho sức
khỏe hay không ? Hầu như tất cả các
nhà khoa học về dinh dưỡng đều
chống đối mănh liệt phương pháp
dinh dưỡng của Bs Atkins . Họ nói, low
carb diet có thể có hiệu quả ngắn
hạn , nhưng rất nguy hiểm cho sức
khỏe về lâu về dài . Một chế
độ nhiều đạm động vật
, nhiều mỡ dầu nhất là cholesterol và
chất béo băo ḥa sẽ dẫn đến
các bệnh về tim mạch , làm nghẽn
mạch máu, gây tai biến mạch máu năo và làm
gia tăng nguy cơ xuất hiện của vài
loại cancer . Ngoài ra, một khẩu
phần quá nhiều đạm động
vật có thể rất có hại cho thận ,
cho gan và dễ dẫn đến t́nh
trạng loăng xương ( osteoporosis). V́
thiếu chất bột đường
(gạo ,bánh ḿ, pasta, ngũ cốc, đậu )
và rau quả nên cơ thể sẽ thiếu
rất nhiều dưỡng chất thiết
yếu , vitamins , cũng như thiếu chất xơ
để có được một sự tiêu hóa
tốt . The American Heart Association cũng đă bày
tỏ nổi lo ngại của ḿnh đối
với phương pháp Atkins . Gịng đời không
phải lúc nào cũng bằng phẳng cả
đâu . Một biến cố quan trọng
gần đây đă làm mọi người bàng
hoàng và hoài nghi về thuyết dinh dưỡng
Atkins . Ngày 8 tháng 4 năm 2003 , cha đẽ
của thuyết low carb diet bị té trên
đường phố New York , hôn mê bất
tỉnh trong 9 ngày rồi chết sau đó . Phúc
tŕnh khám tử cho biết nạn nhân 72
tuổi, rất béo ph́ cân được 258 lbs
là sức nặng trên mức quy định
sức khỏe, và rất có thể ông ta đă
chết v́ bệnh tim . Lẽ đương nhiên
bà vợ và phe nhóm của Bs Atkins đă cực
lực cải chính và nói rằng nạn nhân
đă chết v́ bị chấn thương
sọ năo mà thôi . Theo họ , ông có vẻ
mập v́ đă được tiếp quá
nhiều dịch truyền ? Phúc tŕnh bệnh
viện là âm mưu triệt hạ uy tín của
Bs Atkins cũng như để đă phá
thuyết low carb diet mà thôi ? Thật ra lúc c̣n
sống ,nhân một buổi phỏng vấn Tv ,
Bs Atkins đă xác nhận là ông cũng có
vấn đề tim nhưng mà nhẹ thôi . Không
biết trong tương lai sẽ c̣n thuyết ǵ
nữa đây ? Ai cũng sợ bệnh
, ai cũng sợ chết hết, cho nên
rất dễ bị mê hoặc bởi những ǵ
nghe có vẻ hơi bùi tai và hơi hợp lư
một chút .
Đường
hóa học và các chất thay thế đường
Đây là
những chất có vị ngọt nhưng
tạo ra rất ít calories. Người ta chia chúng
ra làm 2 nhóm :
·
- Nhóm có tính dinh dưỡng ( édulcorants nutritifs)
: Xylitol, Sorbitol và Mannitol ,là những chất
được làm từ trái cây . Người
ta c̣n gọi những chất nầy là
đường rượu ( sucre alcoolique) . Chúng
có vị ngọt nhưng lại có thêm tính
nhuận trường nữa , ăn trên 30 g/ ngày
có thể bị tiêu chảy . Mỗi gram của
các chất này chỉ cho ra có 2 calo, trong khi
đường cát cho ra 4 calo. Các loại
đường này không mấy phổ biến
cho lắm , chỉ thấy được sử
dụng trong một số sản phẩm
,chẳng hạn như trong kẹo chewing gum.
·
- Nhóm không có tính dinh dưỡng ( édulcorants non
nutrtifs ) : Cyclamate, Saccharin, Aspartame, Sucralose.
Những chất này không tạo ra năng lượng
,nhưng lại có vị ngọt gấp cả
trăm lần đường cát . Chúng thường
được đựng trong các bao nho nhỏ
màu xanh, vàng hoặc hường để chúng
ta bỏ vào café . Kỹ nghệ thực phẩm
cũng sử dụng các loại đường
hóa học này để tạo vị ngọt
cho các loại sản phẩm ít năng lượng
và các thực phẩm diet . Thông dụng nhất
là chất aspartame mà chúng ta thấy trong các
thức ăn thức uống diet .
Các nhà dinh dưỡng
đều đồng ư là các loại đường
này có thể giúp ích một phần nào cho con người
, nhưng không thể xem chúng là một giải
pháp thỏa đáng để giúp ta có một hàm
răng tốt, để giảm cân, hoặc
để kềm hảm bệnh tiểu
đường .
Cần
nên đọc kỹ nhăn hiệu
Thông thường
trên mỗi loại thực phẩm sản
xuất theo lối công nghiệp đều có
liệt kê bản nguyên liệu ( ingredients)
sử dụng . Các chất nầy đều
được xếp theo thứ tự quan
trọng từ nhiều tới ít , và từ trước
ra sau . Các danh từ tận cùng bằng chữ
OSE là đường, như sucrose, fructose,
dextrose, saccharose, maltose…Đôi khi chúng ta cũng
thấy ghi trên nhăn hiệu những câu có hàm ư
đặc biệt về một chất dinh dưỡng
nào đó. Tại Canada, cơ quan Kiểm tra
Thực phẩm ( CFIA) có trách nhiệm ấn
định và kiểm soát sự xác thực
của các nhăn hiệu . Sau đây là
một vài thí dụ :
FAIBLE TENEUR EN SUCRE ( Low
sugar): không được chứa nhiều hơn
2 g đường cho 1 phần chuẩn hay
xuất ăn ( par portion, per serving )
SANS SUCRE AJOUTÉ , NON
SUCRÉ ( No sugar added, unsweetened ): sản phẩm có
thể chứa đường một cách
tự nhiên , chẳng hạn như các loại nước
trái cây, nhưng ngoài ra không có một
loại đường nào khác ( như
đường cát, mật ong, mật đường)
được thêm vào hết .
SANS SUCRE ( sugar free) :
không được chứa hơn 0.25g đường
cho 100g sản phẩm và cũng không được
có hơn 1 Calorie cho mỗi 100 g . Loại thức
ăn nầy chứa ít đường và ít
Calo nhất và được xem là thực
phẩm ăn kiêng diète .
TENEUR RÉDUITE EN CALORIE :
sản phẩm chứa 50% Calorie ít hơn so
với những sản phẩm b́nh thường
đồng loại .
ALIMENT HYPOCALORIQUE : là
những thực phẩm có số Calorie giảm
cũng như không thể chứa hơn 15
Calories cho mỗi phần chuẩn hay xuất
ăn
SOURCE DE FIBRES
ALIMENTAIRES : ít nhất phải chứa 2 g chất
xơ cho mỗi phần chuẩn .
SOURCE ÉLEVÉE
DE FIBRES : phải chứa ít nhất 4 g chất xơ
cho mỗi phần chuẩn .
SOURCE TRÈS
ÉLEVÉE DE FIBRES : phải có
ít nhất 6 g chất xơ cho mỗi
phần chuẩn
Khuyến
cáo của cơ quan Liên Hiệp Quốc
Tổ chức Y
tế Thế Giới ( WHO) và Cơ Quan Lương
Nông Quốc Tế ( FAO) vừa phối hợp
nghiên cứu và nhất trí khuyến cáo mọi
người nên cắt giảm số Calories
do đường mang vào xuống dưới
mức 10 % . Nói một cách dễ hiểu ,
nếu tổng số nhu cầu của một người
là 2000 Calories/ngày , th́ Calories do đường
tinh khiết (refined sugar) tạo nên phải
thấp hơn 200 . Được biết, 1 g
đường cho 4 Calories , 1 muỗng café
đường có khoảng 16 Calories và 1 lon
Coke regular chứa lối 9 muỗng đường
tương đương với 145 Calories
. Mục đích của Cơ Quan Liên Hiệp
Quốc là nhằm giúp ngăn chận
phần nào các loại bệnh mạn tính cũng
như các bệnh về tim mạch , bệnh béo
ph́ , bệnh tiểu đường và một vài
loại cancer . Để duy tŕ một sức
khỏe tốt, chúng ta cần theo đuổi
một chế độ dinh dưỡng ít
dầu mỡ, ít đường, ít muối , không
được dùng quá 2400 mg sodium
hay 5 g muối tương đương
với 1 muỗng café muối ăn ,trong một
ngày . Đồng thời cần phải ăn
nhiều rau cải, trái cây tươi và nên
vận động ,tập thể dục thường
xuyên . Chắc chắn là khuyến cáo nầy không
làm hài ḷng kỹ nghệ bánh kẹo và kỹ
nghệ nước ngọt rồi . Một tài
liệu khảo cứu mới vừa
được phổ biến trong tạp chí
JAMA ,August 2004 cũng đưa kết
luận là các loại nước ngọt classic
hay regular như Coke, Pepsi, Soda….v́ chứa quá
nhiều đường nên là một trong
nhiều nguyên nhân quan trọng làm gia tăng
sự xuất hiện của bệnh tiểu
đường type II .
Kết
luận
Thời đại nào,
xă hội nào cũng thế, thức ăn
ngọt vẫn dễ hấp dẫn mọi người
. Tại Canada,từ 1986 đến 1996, các
sản phẩm ngọt đă tăng vọt lên
hơn 102 % , trong số này nước ngọt tăng
hơn 5% . Số người bị béo ph́ tăng
lên một cách đáng ngại , 25 % ở
trẻ em và 50 % ở người lớn .Công
ty Coca Cola và Pepsi Cola không ngừng t́m mọi cách
để xâm chiếm thị trường , và
khai thác thị hiếu hảo ngọt của dân
chúng , đặc biệt là giới trẻ em ,
sinh viên học sinh .Các nhà dinh dưỡng thường
xếp các loại thức ăn thức uống
bán trong máy (bánh, kẹo, chip,chocolat, Coca Pepsi…) vào
nhóm tạp phẩm ( junk food), không bổ dưỡng
ǵ hết v́ chứa nhiều Calorie rỗng (
empty calorie ) , nhiều đường, nhiều
caffeine, nhiều gaz, và chất hóa học ,nhưng
lại không có hoặc có rất ít vitamins . Ôi
sức mạnh của đồng tiền là
thế đó ! Ai chết mặc ai, tiền ông
bỏ túi .
Cuối cùng, cũng
cần phải nói đến một loại
vị ngọt cũng khá hấp dẫn đối
với một số các ông bất luận
tuổi tác nhưng lại hay có tính hảo
ngọt thích mật , thích đường . Tính
nầy thường do bẩm sinh mà ra , nhưng
nếu có hoàn cảnh thuận tiện ,
tiền của rộng răi và cộng thêm
một sinh lực dồi dào th́ nó lại càng
dễ bộc phát ra . Tuy không làm tăng
đường huyết , nhưng đôi lúc nó
cũng làm nhức nhối con tim nhiều lắm
và làm xáo trộn luôn cả mái ấm gia đ́nh
nữa . /.
Tài
liệu tham khảo :
- The
glycaemic index www.mendosa.com
- Montignac ,
Conseils en nutrition . www.montignac-intl.com
- Jennifer R
Scott , An Introduction to the Atkins Diet
- AHA
Scientific Statement on Sugar, Circulation; 106 :523
- Matthias B.
Schulze et al , Sugar- Sweetened Beverages , Weight Gain, and
Incidence
Of Type 2 Diabetes in Young and Middle-Aged Women ; JAMA, August
25,
2004, No 8
Montreal, Feb
6 , 2006
(*) Bài đă đăng trên Diễn Đàn Y Khoa #6467 , post lại với sự đồng ư của Diễn Đàn Y Khoa :
|