|

HOA
Ô MÔI
Tên Việt: ô môi
Tên Hoa : 大果鐵刀木(đại
quả thiết đao mộc)
Tên Anh :CARAO, STINKING TOE
Tên Pháp: cassier
Tên khoa học: Cassia grandis L. [Bactyrilobium molle Schrader, C.
brasiliana Lam., C. mollis Vahl.]
Họ: Vang (Caesalpiniaceae)

Trong trái tim tôi nỗi nhớ nhà
Nhớ ô môi nở đẹp Tha La
Nhớ từng hàng dậu, ngôi đình cũ
Nhớ tiếng chuông rung, nhạc thánh ca
Anh đã về thăm xóm Đạo chưa?
Sông xanh in bóng những tàn dừa?
Ô môi, ngũ sắc, vườn hoa trái
Vẫn nở hoa tươi mặc nắng mưa?
Nguyên Đỗ

Trong chúng ta thuở còn bé chắc cũng biết qua trái
Ô Môi, một loại quà bình dân thường hay bày bán trước
cửa trường. Trái Ô Môi có vỏ cứng và kích thước
bằng khỏa cây Italian Sausage. Thường được róc vỏ ,chỉ chừa
lại 2 đường song song hai bên. Ăn có vị hăng nồng và chua chua

Tuy nhiên hoa Ô Môi lại rất đẹp,khi nở
rộ trông thật rực rỡ và đỏ thắm như hoa phượng

Vẫn khựng lại một sân trường áo
trắng,
Cây phượng hè hoa đỏ rụng vai ai...
Cắn mảnh đầu trái ô môi đen đắng,
Bỗng giật mình không lẽ nắng vàng phai.
(Ô môi - ĐTK)


Trái
ô môi
Hồi còn nhỏ tôi không thích trái ô môi. Trái gì mà dài
thậm thượt, sần sùi, gút mắc, cong cong,
đen đúa, cứng đờ như thanh gỗ,
chẳng có mỹ quan.
Làng tôi xưa kia hầu như không có ô môi. Vậy mà
không biết từ đâu, mấy chị tôi cứ vài
hôm đùm túm về mấy trái. Buổi trưa
rảnh rỗi "các bà" vạt trái ô môi,
vạt sạch vỏ cứng quanh trái, chừa lại
hai sống hai bên, rồi đẩy nhẹ hai sống
so le, gỡ ra từng tấm tròn tròn như đồng
tiền thời ấy, xúm nhau ăn ngon lành, ném
hạt ra sân.
Có lần các chị tôi nài nỉ: "Em ăn
thử đi! Ngon lắm!". Hết chị này đến
chị khác dỗ dành, chừng như trái ngon này em mình
chưa được ăn là điều thiệt cho
em, mà lỗi là ở các chị. Người dỗ
nhiều nhất là chị Sáu, người chị tôi
thương mến hơn các chị kia. Nể
chị, hôm ấy tôi nhíu một tấm "tiền
ô môi" ngần ngại đưa vào mồm.
Rờn rợn một mùi hương kỳ lạ.
Chị Sáu động viên: "Hay quá, ăn đi em,
ngon lắm, thơm lắm". Lạ thật, cái mùi
hăng hăng, khăm khắm qua rất nhanh, đầu
lưỡi còn lại vị ngọt bùi bùi và mùi thơm
kín đáo ở lại trong cổ rất lâu.
Tôi bắt đầu biết ăn ô môi từ trưa
hôm ấy.
Thì ra trái ô môi bán ở chợ, người ta mang ra
từ những làng quê Bảy Núi. Khi đã bén mùi
rồi không dễ gì quên.
Hôm về An Giang dự trại sáng tác văn học,
đang ngồi trên xe mười hai chỗ, thình lình
Huỳnh Thanh Diệu chồm lên, chỉ tay phía trước:
"Cây ô môi kìa". Cây ô môi đối với tôi
bây giờ quen thuộc quá. Những năm kháng
chiến, qua nhiều làng quê An Giang, Ðồng Tháp, ô môi
mọc hàng hàng hai bên kinh trên những gò đất cũ.
Có lạ là sao Diệu có vẻ thảng thốt khi
thấy ô môi?. "Hoa ô môi đẹp lắm, trái
ăn thú vị vô cůng. Ở quę em, mấy ông
giŕ còn ngâm rượu ô môi trị thận suy, và
đau gân cốt". Tôi bật cười, Diệu
ríu rít như trẻ con: "Em nói vậy không
phải sao? Ở quę em cňn có những cặp
vợ chồng, thuở nhỏ cùng nhau chơi búng
hạt ô môi, chơi lò cò với hạt ô môi,
rồi sinh tình cảm...". Diệu đột
ngột thở dài: "Nhưng bây giờ đâu còn
nữa, gần như tuyệt chủng rồi!
Mùa hoa ô môi thắm nhất, đẹp nhất vào tháng
tư, sau vài cơm mưa đầu mùa. Trong nắng
chói chang bờ kinh làng này sang xóm khác rực lên cái
mầu hồng tím làm vợi đi cái oi ả của
đồng bằng. Cái mầu tím ngát ô môi đầy
đặn mọi cành. Tưởng chừng chỉ có
hoa, không thấy lá. Mùa hoa dài hàng tháng. Ô môi có cái dáng
sắc quyến rũ của anh đào Ðà Lạt, Long
Thành, một chút đào thắm đào phai miền
bắc. Cuối xuân, ô môi nở đỏ bờ kênh,
gò đất làm đẹp xóm làng, làm vui bờ kênh
vắng vẻ. "Sau mùa hoa, ô môi lại cho trái
ngọt... Ô môi hương vị đậm đà..."
(Trần Hữu Huệ - An Giang). Tác giả này còn
viết những dòng nhiều cảm xúc: "Ngày nay
người ta quên mất vẻ đẹp hiếm có
của hoa ô môi... Nếu được về lại
tôi sẽ trồng hàng trăm hàng nghìn cây ô môi
dọc đường đến quê tôi...".
Ðầu xuân 1973, chúng tôi hành quân, cuối xuân về
đến Sở Thượng Giang - con sông biên thùy
hai nước Việt Nam-Combodia. Mấy hôm sau lại
ra Thường Lạc, Thường Phước, Thường
Thới hoang tàn, ngổn ngang vết tích chiến tranh.
Chợt đằng trước, ngay đầu Mương
Kinh - Thường Thới, sừng sững một
gốc ô môi, cành đỏ đầy hoa trong nắng
sớm. Một ý thơ chợt đến bất
ngờ: "Làng xưa đổ nát, long đong. Ô môi
hoa muộn vẫn hồng cuối thôn". Giữa Trường
Sơn tình cờ gặp lại mai vàng, về đến
quê hương buổi đầu tiên, tái ngộ hoa
ô môi. Tôi có cảm giác mùa xuân chưa hết, mùa xuân
đang cùng tôi đến khắp chốn làng quê.
Nhà quay phim Ðồng Anh Quốc, quê ở Giang Thành,
nhiều ngày về An Giang làm phim với tôi, thỉnh
thoảng anh buông ra câu nói không vui: "Tôi lo rồi
đây giống cà-na không còn nữa". Anh lẩn
thẩn gì vậy? Lo thì cũng lắm thứ lo, lo
mất giống cà-na, thật ít người nghĩ
tới. Cà-na giống cây mọc ở bìa làng vùng sông
nước, trái nhọn hai đầu như quả trám.
Trái cà-na còn sống chát chát, chua chua, khi chín hơi thơm,
hơi ngọt. Mùa nước dâng, bọn nhóc chúng tôi
xưa, thường bơi ra rặng cà-na, trèo lên cây
rung cành, trái chín rụng lều bều mặt nước.
Lại lao ào xuống nước tranh nhau nhặt,
ăn chơi.
Bây giờ tôi mới cảm nhận cái lo của nhà
quay phim có lý, cái ái ngại của Huỳnh Thanh
Diệu có tình. Người lo mất bóng loài cây gan lì
trong sóng nước, người nuối tiếc
một sắc hoa. Ô môi, cà-na không chỉ là hai loài
thực vật, trái có vị ngọt, chát, chua. Mà còn
là bóng dáng, vẻ đẹp làng quê và ký ức
tuổi thơ.
(Báo Ðại đoàn kết)
Sưu tập
_________________
VuQuyen
|
|