Thiên Hương
Từ lúc máy bay cất cánh, cô gái ngồi bên
cạnh tôi cứ măi thở dài. Thức ăn
người chiêu đăi viên đưa đến
cô cũng không buồn đụng đến.
Đôi mắt cứ thẫn thờ nh́n qua khung
cửa sổ. Tôi khẽ hỏi: “Em không
ăn sao, sáng nay đi sớm chắc đâu
kịp ăn sáng hả”. Cô quay lại nh́n
tôi, ứa nước mắt nhẹ lắc
đầu, rồi lại gục đầu
xuống đôi bàn tay. Tôi lặng nh́n cô ta khóc,
nh́n cách ăn mặc khá đỏm dáng và thanh
lịch, tôi chắc cô cũng thuộc hàng khá
giả và có học. Không phải thuộc nhóm
người mỗi khi về thăm nhà, đi máy
bay mà ăn mặc như đi dự dạ
hội, vàng ṿng đeo đầy người c̣n
hơn đi dự đám cưới. Những
ngón tay của cô trơn tru, không sơn quét, mái
tóc thẳng buộc túm gọn gàng. Tôi khẽ
thở dài, không biết cô bạn cùng chuyến
gặp chuyện ǵ đau ḷng quá vậy.
Ông khách Úc ngồi bên tay phải đang hỏi
cô chiêu đăi viên môt lon bia Úc, mà sao cô ta
cứ ngẩn ngơ không hiểu ông nói ǵ, tôi
dịch hộ. Ông Úc phía sau cũng than phiền
với cô là sao hỏi whisky th́ lại đem ra
cho người khác mất. Cô ta cũng cứ ngơ
ngẩn chẳng hiểu ông ta nói ǵ, tôi lại
một lần nữa làm thông ngôn bất đắc
dĩ. Những chuyến bay của Air Vietnam lâu lâu
lại như vậy, có một số nhân viên
phi hành nghe tiếng Anh rất dở, hay chẳng
chuyên tâm chú ư nghe? Nhiều khi khách Việt Nam nói
tiếng Việt mà c̣n bị lơ là chẳng
nhớ, có lẽ bảy phần mười là
con ông cháu cha nên lên máy bay vẫn muốn làm
cha và ông của hành khách. Có điều v́ là
chuyến bay thẳng, chỉ bay trong ṿng tám
tiếng nên khách vẫn đông nườm nượp.
Và dầu sao, lên máy bay này cũng cảm
thấy ấm cúng hơn khi đi các máy bay
của các hăng hàng không ngoại quốc khác.
Cô bạn đồng hành vẫn ngồi yên
lặng lẽ, như đắm ch́m vào một
thế giới xa xăm nào đó. Tôi thấy lo
lo cho cô, nhưng không tiện hỏi, đưa
mắt nh́n vu vơ xung quanh. Tiếng nói
chuyện bằng tiếng Việt ồn ào nghe
khá vui tai. Khoang máy bay có vẻ ấm cúng không
mang cái vẻ lạnh lẽo như đi các máy
bay ngoại quốc khác. Nh́n những người
lớn tuổi có mặt trên máy bay, h́nh như
ai cũng cảm thấy vui vẻ và háo hức.
Cái háo hức sau những ngày tháng quá rảnh
rang ở hải ngoại, rảnh rang đến
độ chán chường. Dạo này trên
đường phố gần các chợ
Việt Nam, xuất hiện rất nhiều các bà
già, ngồi trên một cái ghế nhựa, bán các
thứ để trong xe đẩy như xôi, chè,
đậu hũ chiên, các bó hành, rau sống, các
túi ớt nhỏ, v.v… có lẽ cắt từ vườn
nhà. Bán không phải v́ thiếu thốn, ở
xứ Úc này, trợ cấp xă hội dư
giả cho người già, nhưng có lẽ
họ bán cho vui, để có thêm đồng
tiền rủng rỉnh, để thêm tiền
đi về Việt Nam, để cho bà con
họ hàng. Có lẽ không từ nước nào
trên thế giới có số người già
trở về Việt Nam nhiều như ở Úc.
Nơi mà chỉ cần tám tiếng máy bay là
về tới nơi, nơi mà đa số các người
già không phải lo về sinh kế, nơi mà
họ có thể về Việt Nam ở liền
một hơi sáu tháng mà tiền trợ cấp
cứ đều đều vào nhà băng tháng
hai lần. Ăn ở đă có con cái bao
bọc, tiền tiêu có nhà nước cấp,
sức khỏe có nhà nước lo vẹn toàn.
Vậy th́ cứ ung dung, mỗi năm về
Việt Nam một, hai lần. Ra phi trường
đă có con cái đưa ra, một nhân viên Hàng
không Việt Nam đă có mặt ở dó,
khỏi cần thông dịch. Lên máy bay th́ nhân
viên nói tiếng Việt, ở phi trường
không cảm thấy lạc lơng, không sợ bơ
vơ. Vậy th́ chấp nhất làm ǵ những
lỗi lầm của các phục vụ nhỏ
nhặt trên máy bay khi ḷng đang phấn
khởi vui như sắp Tết.
Mấy ông Úc phía trước và phía sau lại
loay hoay, loay hoay. “I can’t hear”, “Me
neither”. Tôi cũng thử cái head phone của
ḿnh, h́nh trên TV th́ có, mà âm thanh th́ không.
Mấy người ngoại quốc lao nhao, h́nh
như cả khoang không ai nghe được cái
ǵ. Người chiêu đăi viên b́nh thản như
không: “Có lẽ máy hư chị ạ”.
Thế là xong, đúng là cứ tự nhiên như
người Hà Nội. Có lần được
ăn cả thức ăn thiu, cũng vẫn câu
trả lời êm như nhung: “Chắc
nhiệt độ hôm nay nóng quá”. Có
lần cả một chuyến máy bay chỉ có
hai toilets có thể sử dụng được.
C̣n 4 toilets khác mở cửa ra là trên bồn
cầu đă chễm chệ một bao rác to tướng.
Và vẫn câu trả lời thản nhiên của
đám nhân viên phi hành: “Rác nhiều quá không
có chỗ để chị ạ”. Có
phải chỉ v́ ḿnh Hàng không Việt Nam độc
quyền đường bay thẳng nên coi hành
khách như pha: “Ta phục vụ thế đấy,
chê th́ đi hăng khác đi. Đi hăng khác để
đổi chuyến hai, ba lần, thủ tục
check in/out hai, ba lần, thời gian kéo dài
gần gấp đôi, cái nào hơn”. Thôi th́
cắn răng ngồi tám tiếng cho xong,
được cái này mất cái kia, đừng
được voi đ̣i tiên, khó tính quá làm ǵ.
Thành ra nếu có bật đèn gọi chiêu
đăi viên mà không có ai tới th́ cũng nên
nhẫn nại, đèn bật quá hai mươi
phút th́ tự động tắt, tiền điện
đă covered trong vé máy bay, có ǵ mà ngại.
Thấy nhân viên phi hành nào đi qua, có muốn
hỏi khăn, hỏi nước mà được
đem đến th́ hôm đó coi như may
mắn cực kỳ. Nếu buồn th́ đi vào
các khoang dành cho các nhân viên phi hành nghe họ rôm
rả nói chuyện với nhau vui như Tết,
và xin chớ làm phiền cắt đứt câu
chuyện đang vui của họ. Cắt đứt
lời nói chuyện của người ta là
bất lịch sự đấy, những người
đă ở ngoại quốc lâu phải biết
điều đó chứ. Nhưng cũng có khi
gặp những nhân viên phi hành phục vụ hành
khách trên mức đ̣i hỏi. Một lần
đi máy bay, lúc c̣n cho phép hút thuốc trên máy
bay từ ghế số 32 trở xuống, tôi
ngồi ghế số 32. Người hành khách phía
trên là người ngoại quốc, ông ta
hỏi cô chiêu đăi viên xem ông được
hút không? Cô ấy trả lời không được.
Rồi cô ấy tự động đi
xuống bảo tôi đổi chỗ cho ông ta
để ông ta có thể hút thuốc. Dĩ nhiên
là ông ta đâu yêu cầu điều đó, và
dĩ nhiên tôi không thể theo lời yêu cầu
của cô đổi chỗ để ngồi hít
khói. Cô này thật đáng được ông khách
ngoại quốc tuyên dương.
Nhưng nói cho cùng ngay ở nước ngoài, vào
một số tiệm ăn Việt Nam, thái độ
phục vụ khách hàng của các nhân viên cũng
khác hẳn khi khách là ngoại quốc. Người
ngoại quốc vào, đặt thực
đơn một chút thức ăn đă ra. Người
Việt Nam ngồi chờ dài cả cổ. Vào
những tối cuối tuần, thong thả
ăn chậm một chút đă được
nhà hàng ra nhắc khéo đứng lên nhường
chỗ cho khách khác, trong khi những bàn khách
ngoại quốc th́ thấy họ cứ điềm
nhiên, ung dung hưởng một bữa ăn nhàn
nhă. Tại sao lại có hiện tượng
kỳ thị như vậy khi chính chúng ta cùng là
người Việt với nhau. Tại sao
phải sợ những người ngoại
quốc như vậy, tôi cũng chẳng
hiểu nổi. Ừ, nhưng sao tự dưng
lại hay nghĩ lung tung, h́nh như càng lớn
tuổi, cái trí óc lại càng lăng đăng,
cứ nhảy chuyện nọ sang chuyện kia.
Tôi quay sang cô gái ngồi bên cạnh, cô có
vẻ mệt mỏi, tôi hỏi cô xem có cần
nước uống không, cô gật đầu.
Cầm lấy ly nước từ tay tôi, cô
khẽ nói lời cám ơn, rồi uống
từng ngụm nhỏ. Tôi khẽ hỏi: “Em
về Việt Nam thăm nhà hả, có chuyện
ǵ không mà sao khóc hoài vậy?” Cô ứa nước
mắt rồi như nỗi buồn trong ḷng u
uất quá, cô nói thật nhỏ: “Em về t́m
chồng em”. Tôi tṛn mắt ngạc nhiên. Cô
khẽ kể, qua Úc đă hơn mười năm,
bươn chải cho đến lúc làm chủ
được một shop bán quần áo. Ngày ngày
ra shop, nuôi ba đứa con ăn học,
chồng không đi làm, ở nhà thư thả
đọc sách, trồng hoa, cuộc đời
đă tưởng đâu yên ả. Mấy năm
sau này, tiền bạc dư dả, chồng
rảnh rang đi về Việt Nam thăm nhà vài
lần một năm. Mới đây, nghe nói ông
già chồng bệnh, ông chồng về thăm
đă hơn hai tháng, tiền bạc ôm theo cũng
bộn. Tới tuần rồi, nhận điện
thoại từ nhà chồng yêu cầu gửi
tiền về cho nhà, cô mới ngă ngửa. Ông
bố chồng chả bệnh hoạn ǵ cả,
ông chồng về Việt Nam chả biết
ở đâu. Nhờ bạn bè ḍ t́m mới
biết ông đang thuê nhà ở với một cô
gái chỉ hơn 20 tuổi. Cô vội vă nhờ
bạn bè trông shop, gởi con và bổ về
Việt Nam t́m chồng…
Tôi nghe mà chỉ biết im lặng nh́n những
hàng nước mắt của cô xót xa. Những
chuyện như vậy giờ h́nh như nhan
nhản. Đó cũng là một trong những lư
do khiến những chuyến đi về
Việt Nam của tôi mất đi nhiều
hứng thú. C̣n ǵ vui khi trở lại một nơi
mà những h́nh ảnh êm ái nên thơ bị
đồng tiền làm cho nhơ bẩn, một
nơi mà giá trị tinh thần đă xuống
dốc từ lúc nào và cuộc sống trở nên
vô cùng chụp giật. Mọi người
sống vội vă, hưởng thụ vội vă,
nh́n về một tương lai ngắn hạn
hơn là dài hạn.
Nhớ những năm trước đây khi ra
miền Bắc, hoàn cảnh những người
đàn bà trong lúc ông chồng đi làm xa, gánh
hết giang sơn nhà chồng, tảo tần nuôi
bố mẹ, em chồng, con cái. Đến khi ông
chồng trở về, đem theo vợ bé,
bố mẹ chồng cưng con nín lặng,
đuổi nàng dâu trưởng ra sau vườn
với lũ con để lấy nhà chính cho con
trai và nàng dâu mới ở. Những câu
chuyện như vậy xảy ra đă gần như
b́nh thường trong đời sống, và
những người đàn bà trong cuộc
chấp nhận nó như là một định lư
của cuộc đời.
Một buổi chiều năm 89, khi đứng
đợi phà ở bến phà Bính, cô bạn Úc
cùng làm việc chung đă nói với tôi:
“Sao tao ghét đàn ông Việt Nam quá?”
Trả lời cái nhướng mày của tôi, cô
bạn nói:
“Mày nh́n mà xem, năy giờ tao đếm 57 người
đi từ bến phà lên và những người
quanh các quán gần đây. 39 người đàn
ông, hoặc chễm chệ trên xe máy, xe đạp,
hoặc vắt vẻo hút thuốc, uống nước
trà, tán dóc trong các quán. C̣n lại là toàn đàn
bà, hoặc gánh gồng, hoặc ngồi bán quán.
Tao bảo đảm với mày bà nào cũng
phải nuôi hoặc bố mẹ chồng, em
chồng, con cái và nuôi cả mấy cái ông
chồng để mấy ông có th́ giờ
rảnh rang như vậy.”
Dù tôi có căi lư thế nào, lư lẽ của tôi
cũng quá sức yếu ớt trước
những con số hùng hồn như thế kia, và
nhất là v́ những h́nh ảnh ấy diễn
ra ở khắp nơi. Từ những bà cụ
già bước không nổi với một rổ
con con bán các thứ vặt vănh trên hè phố
đến những người đàn bà gánh
gồng, một bên thúng là đưá con thơ,
bên kia là mấy bó rau nhúm nhó. Biết tới
bao giờ, những người đàn ông
Việt Nam mới gột bỏ hẳn được
cái ư thức ta luôn là boss đă bám sâu trong tâm
năo.
Có một lần, trên phà, gặp một người
đàn bà trẻ dắt hai đứa con gái sinh
đôi rất xinh, tôi thích thú nh́n hai đứa
bé: “Chị thích quá, sinh được hai cháu
xinh quá”. Mới thế mà người đàn
bà đă bật khóc: “Xinh th́ làm ǵ hả
chị, em chỉ thèm con giai thôi”. Chưa
kịp hỏi cô đă kể: “Anh ấy
bỏ em đi lấy vợ khác kiếm con giai
rồi”. Gia đ́nh ở đây chỉ
được sanh hai con, sanh thêm th́ mất
việc, nên ông chồng “đành” ly dị
vợ để có thể lấy vợ khác
kiếm con trai cho vừa ḷng bố mẹ và
vừa ḷng ông ta. Nghịch lư đă trở thành
định lư mất rồi, biết nói làm sao.
Rồi sau này ở khắp nơi, các quán ăn
nhậu, các chốn ăn chơi mọc lên như
nấm; các ông ra ngoài làm ăn là thế nào cũng
phải đón đưa ăn nhậu. Vợ
con thui thủi ở nhà để chồng đi
giao tiếp bên ngoài, t́nh trạng một
cảnh năm ba quê của các ông trở nên
phổ biến. Rồi các ông Việt Nam ra nước
ngoài trở lại quê hương. Ohụ
nữ Việt Nam đi ra ở ngoại quốc
tưởng đă thoát được cảnh
một chồng hai vợ nhưng lại có
một số người bắt đầu lâm
vào những t́nh cảnh này. Khi những ông
chồng áo măo xênh xang về đến quê nhà.
Bạn bè, họ hàng săn đón. Đưa
đi chơi chỗ nọ chỗ kia, rủ rê vào
những chỗ ăn chơi tươi mát.
Ở đấy, dù bao nhiêu tuổi vẫn
được các cô gọi là anh ngọt như
đường phèn. Cái cảnh thanh tịnh
ở nước ngoài trở nên quá sức
boring, người vợ ở nước ngoài
bỗng trở thành một cái ách nặng
nề trên cổ. Ở nước ngoài người
phụ nữ bao nhiêu công việc, thời
giờ đâu săn sóc các ông tận t́nh, các
ông về quê nhà tránh sao khỏi sa ngă. Và như
thế lại thêm một định lư trở
nên định luật.
Tôi ái ngại nh́n cô bạn đồng hành:
“Rồi mấy hôm nay em liên lạc được
với anh ấy chưa?”
“Dạ em có số mobile, em có nói chuyện.”
“Anh ấy nói sao?”
“Anh ấy nói có chuyện ǵ đâu, đừng
nghe người ta đồn bậy, về Sài G̣n
anh ở với người bạn cho vui, về
nhà chật chội, nóng nực.”
“Anh ấy biết em về Việt Nam không?”
“Hôm em nói là về, anh ấy bảo đừng
về làm chi, vài tuần nữa anh ấy
về.”
“Rồi hôm nay anh ấy biết em về không?”
“Dạ biết, anh ấy bực lắm, nói em
là đừng có về, mà nếu về th́
về ở nhà, coi như thăm gia đ́nh
chứ chẳng cần kiếm anh ấy làm ǵ.
Để anh ấy đi chơi cho thỏa thích
đă, một năm ở nhà với vợ con
mấy tháng, c̣n mấy tháng phải để
cho anh ấy tự do.”
Tôi nghe mà cũng không biết nói làm sao. Cô gái
lại nức lên khóc:
“Chị bảo em giờ phải làm sao.”
Tôi cắn nhẹ vành môi nín lặng. Biết
khuyên cô thế nào bây giờ. Chẳng lẽ
bảo cô ta là người như vậy bỏ
quách cho xong. Nhưng nói cho cùng, các ông Việt
Nam h́nh như vẫn sống theo lối cổ.
Ông nào cũng muốn ḿnh làm chủ gia đ́nh,
được vợ con nể sợ. Chồng cô
này chỉ ở nhà, trông vào đôi tay làm ăn
của vợ, tự nhiên ông ta cảm thấy
thiếu thốn, cái self esteem mạnh quá nên khi
về Việt Nam, được một người
đàn bà khác nể sợ, cảm phục,
chiều chuộng, dù chỉ là v́ đồng
tiền do vợ ḿnh làm ra, ông ta cũng cảm
thấy thoải mái v́ tự ái được
ve vuốt. Cũng không hẳn ông ta chán ghét
vợ con, nhưng ông ta muốn được tôn
thờ và nể trọng. Cô gái có vẻ
hiền nhưng chắc chắn với một cái
shop phải trông coi, ba đứa con phải
đưa đón, cơm nước, việc nhà,
việc shop, cô không thể lo lắng chiều
chuộng chồng ngọt ngào như các cô gái
ở Việt Nam đối với ông ta khi ông
ta trở về với đô la rủng rỉnh,
và hứa hẹn cái viễn ảnh được
bảo lănh sang Úc. Bây giờ điều tốt
nhất để khuyên cô nắm giữ ông
chồng ḿnh, là đợi ông ấy trở
về, đặt ông ta trở lên lại ngai vàng
để tôn thờ và chiều chuộng, mong
rằng tự ái ông ta lại được ve
vuốt, và ông ta lại trở lại với
vợ con. Nhưng liệu cô có thực hiện
được không, khi công việc hàng ngày
đầy ắp thời khóa biểu và
những mệt mỏi trong đời sống
khiến cô ta cũng đang tha thiết cần
một sự chia sẻ và nâng đỡ? Và khi
một người đàn ông đă có những
nghĩ suy như vậy, ông ta có bằng ḷng
với khung cảnh hiện tại khi biết là
nếu ḿnh ôm nửa gia sản về bên kia,
sẽ có bao nhiêu cô gái trẻ đẹp
mời gọi, dù biết chỉ v́ đồng
tiền nhưng đồng tiền đó đă
nâng giá trị của ông ta lên. Tội ǵ ở
ngoại quốc làm một cái bóng khi có thể
về nước làm một hoàng đế không
ngai. “Thà một phút huy hoàng rồi chợt
tắt, c̣n hơn buồn le lói suốt trăm năm”.
Nhưng mà như thế th́ c̣n ǵ hai chữ t́nh
nghĩa và thủy chung. Một chị bạn
ở đây đă hằn học nói: “Sao các
ông không bỏ chúng tôi lúc chúng tôi chỉ ngoài
20 để chúng tôi c̣n kiếm chồng khác. Bây
giờ chúng tôi già th́ các ông bỏ, các ông
về Việt Nam lấy vợ trẻ dễ quá
mà, c̣n tụi tui lấy ai”. Nghe thấy
cả hai bên cùng có lư. Nhưng mà bây giờ,
ngồi cạnh cô gái này, tôi biết tôi
phải t́m một câu nào đó để khuyên
giải cô ta, nhưng khuyên làm sao tôi cũng
chẳng biết. Thiệt t́nh tôi cũng
chẳng t́m ra được câu nào để
khuyên cô. Chẳng lẽ khuyên cô bỏ luôn,
rồi cũng chẳng lẽ khuyên cô nên áp
dụng cách chiều chuộng tối đa để
níu lại ông chồng cô, khi chính tôi cũng
thấy chuyện này cũng khó thể thực
hiện được th́ làm sao có thể
thuyết phục người…
Tôi chỉ cho cô gái ngả chiếc ghế ra phía
sau để ngả người cho thoải mái,
hai chị em im lặng một lúc, cô ngủ
thiếp đi v́ mệt, c̣n tôi lại cứ
loay hoay với những ư nghĩ đối
nghịch trong đầu. Người đàn ông
Úc bên cạnh lại nhờ hỏi giùm cô chiêu
đăi viên là v́ máy bay cất cánh trễ,
chuyến bay này xuống phi trường trùng
giờ với chuyến bay sắp tới của
ông, làm sao ông làm thủ tục transit cho
kịp. Cô ta nói là chuyến kia sẽ đợi
ông ta. Cứ thế tôi làm thông dịch giùm cho
ông nên thời giờ qua cũng mau. Ông này
về Việt Nam mỗi năm cũng vài
lần, coi bộ mê Việt Nam dữ quá. Mà công
nhận, sau khi chu du các nước khác mới
thấy dân Việt Nam quá sức dễ thương
và hiếu khách, hèn chi Tây Việt ǵ cũng ham
về nước cả. Ở Việt Nam
đường phố luôn nhộn nhịp đông
đúc, đi tới đâu cũng thấy
nở nụ cười trong lúc ở nước
ngoài, mỗi người là một thế
giới riêng biệt, nên vào những mùa đông,
trời đă lạnh h́nh như lại lạnh
thêm v́ thái độ buốt giá của
những người xung quanh.
Nhớ lại đám đồng nghiệp cùng
qua Việt Nam làm một thời gian. Về nước
đến hơn một nửa gia đ́nh tan ră.
Lư do rất dễ hiểu, về Việt Nam, hưởng
qui chế người nước ngoài về làm
việc, nhà cửa được cấp, xe
được cấp, có tài xế, nhà hai, ba người
giúp việc. Tiền lương, phụ cấp
lại cao, nghỉ mát hàng năm. Về lại
nước, thời tiết đă lạnh
lẽo, tiền lương thấp hẳn sau khi
mất các trợ cấp, công việc nhà vợ
chồng phải chia nhau ra làm. Đời sống
vật chất trở nên nặng nề và khó
khăn hơn trước rất nhiều, và
thế là vợ chồng bắt đầu
lục đục rồi tan ră. Một số th́
các ông chồng bỏ vợ để bảo lănh
các cô thư kư ngọt ngào như mật,
trẻ trung, học thức, rất thông minh,
rất dịu dàng, vô cùng tế nhị và đầy
thông cảm với ông xếp bận rộn
của ḿnh. H́nh ảnh phụ nữ Việt Nam
dưới mắt các ông ngoại quốc
trở nên tuyệt vời diễm ảo, trong
khi dưới mắt các bà vợ của các ông
ấy th́ h́nh ảnh các cô gái Việt Nam
lại trái ngược hoàn toàn. C̣n tôi th́ sao,
tôi nghĩ thế nào về các cô gái này, đáng
ghét hay đáng thương khi họ cũng
chỉ muốn t́m một lối thoát cho ḿnh và
cho gia đ́nh của họ. Họ có ích kỷ
không khi quay lưng lại với những
gịot nước mắt của những người
vợ bị chồng phụ. Nhưng họ cũng
có ích kỷ đâu khi phải lấy những
người chồng xa lạ, có khi lại
rất lớn tuổi. Mười phần trăm
lấy v́ yêu thương và chín mươi
phần trăm lấy để có tấm
giấy thông hành ra ngoại quốc. Lấy
chồng ngoại quốc để đổi
thay số phận cho ḿnh và cho gia đ́nh, và
để cũng fashioned như người ta khi
lấy ngoại quốc đă trở thành
thời thượng. Làm sao trách những cô gái
này và cũng làm sao trách được các ông
kia khi những người vợ ngoại
quốc này đă luôn nghĩ ḿnh là Lady First, và
tự họ đă làm cho các ông chồng
của họ chán ngán.
Tôi cũng biết có những cô gái Việt Nam
rất nghèo khổ. Bạn trai sống và
lớn lên trong cùng một khu phố, có
được một việc làm trong các công ty
ngoại quốc, có khi chỉ là gác cửa, hay
lái xe. Các cậu này đi làm đem tiền giúp
bạn gái đi học Anh văn, vi tính,
giới thiệu bạn gái vào làm cùng sở. Đến
khi các cô vững rồi, như những con chim cánh
đă bắt đầu cứng cáp, sẵn sàng
chắp cánh bay đến những khung trời sáng
sủa hơn, bỏ mặc bạn trai của ḿnh
với những công việc tầm thường
của họ. Những kỷ niệm của
cuộc t́nh ngày xưa giờ chỉ để
thả theo gió bay. Nhưng làm sao trách được
khi các cô c̣n nặng gánh cha mẹ, anh em, và các
kỷ niệm ấy cũng là những h́nh
ảnh xa xót của cảnh nghèo nàn thiếu
thốn. Biết trách ai bây giờ, chỉ
biết nghĩ đến cái cuộc sống chông
chênh khi mọi kim chỉ nam h́nh như đều
quay lệch về phía kim tiền óng ánh.
Máy bay đang giảm dần cao độ.
Từ phía dưới đă xuất hiện ḍng
sông Đồng Nai, rồi những cánh đồng,
rồi những khu nhà cửa san sát. Các hành khách
đă bắt đầu nhấp nhổm sau khi bánh
máy bay bắt đầu chạm đất.
Buồn cười, đă bao nhiêu chuyến bay mà
h́nh như chuyến nào cũng vậy. Cũng
những hành khách đó, những khuôn mặt
đó, lúc ở phi trường Bangkok, Singapore,
Malaysia, Sydney, Melbourne, Taiwan, Hongkong th́ rất
từ tốn, trật tự bước chân lên
máy bay, mà sao cứ tới gần phi trường
Tân Sơn Nhất hay Nội Bài là như thành
những người khác, hối hả, chụp
giật, dù Việt hay ngoại quốc. Máy bay chưa
ngừng hẳn đă vội vă lấy hành lư,
vội vă chen đẩy để ra khỏi máy
bay cho nhanh.
Lần này, máy bay đậu sát cánh cửa
mở vào khu làm thủ tục, hành khách không
phải chuyển qua xe buưt; số khách cũng
vắng nên cảnh tượng chen chúc cũng
đỡ phần nào. Tôi đi cạnh cô
bạn đồng hành. Mới về nước
lần đầu nên cô khá bỡ ngỡ.
Kiểm lại cho cô các giấy tờ cần
thiết, tôi bảo cô đứng trước làm
thủ tục nhập cảnh, khi nào xong qua
cửa đợi, đi cùng với tôi để
đi lấy hành lư. Nh́n dáng cô ngơ ngác đến
tội nghiệp. Những người đàn bà
Việt Nam, qua xứ sở mới, dù cố
gắng đến đâu, thành công trong thương
trường đến đâu, vẫn là
một công cụ trong tay người chồng,
người con. Thoát ra khỏi cái ṿng trói
buộc của chồng con, họ chợt
trở nên hụt hẫng và bơ vơ ghê
gớm. Tôi cũng là một người đàn
bà, và liệu tôi đă thoát khỏi cái ṿng
muộn phiền nghiệt ngă ấy chưa?
Người nhân viên nhập cảnh uể
oải nh́n tấm hộ chiếu và giấy
tờ, nh́n cung cách chậm chạp của anh ta,
tôi chợt nghĩ hay tại ḿnh không bỏ vào
trong hồ sơ tờ năm hay mười
đô để anh ta làm nhanh hơn. Đă lâu
lắm rồi tôi không có thói quen bỏ tiền
vào giấy tờ khi làm thủ tục nữa.
Chẳng biết ḿnh làm như thế là đúng
hay sai, thỉnh thoảng vẫn nghe những
mẩu chuyện nói rằng một nhân viên
muốn vào làm trong phi trường không
những phải quen biết mà c̣n phải có
lệ phí lót tay sáu ngàn đô Mỹ, rồi
phải đóng thuế mỗi ngày cho một ai
đó, và số tiền đó chỉ bảo
đảm cho một công việc trong ṿng sáu tháng.
Nghe cũng thấy cam go, làm thế nào lấy
lại được vốn và có lời
thiệt cũng nhức đầu nếu
chỉ gặp những người như tôi,
chả có ǵ để mà giấu giếm.
Qua khỏi khâu nhập cảnh, tôi nói cô
bạn đợi để vào mua mấy cây
thuốc lá miễn thuế về làm quà.
Thuốc lá ở Việt Nam rẻ kỳ lạ
so với Úc và Mỹ, h́nh như chỉ
khoảng nửa giá. Cô bạn cũng theo vào, tôi
lấy hai cây thuốc ra bàn tính tiền, cô
bạn lấy tới bốn cây, cô cười:
“Thấy rẻ em lấy một số về
làm quà, mấy hôm lu bu đâu có mua quà cáp ǵ
về cho gia đ́nh”. Cô bán hàng hỏi
rất kỹ: “Chị đi mấy người,
nếu một người, chị chỉ mua
được hai cây thuốc lá thôi”.
Rồi các hoá đơn, hộ chiếu cô
photocopy lại, cô cũng viết luôn cả vào
tờ khai hải quan một mă số ǵ đó.
Có lẽ tại thiên hạ thấy thuốc lá
rẻ nên mua nhiều quá chăng.
Chúng tôi ra băng lấy hành lư. Hàng hóa
xuống cũng khá nhanh. Từ lúc xuống máy
bay tới lúc này chưa đầy hai mươi
phút mà đă thấy hành lư của tôi nhấc
ra khỏi băng từ lúc nào. Thủ tục
hải quan cũng mau lẹ. Bên ngoài, đám người
đi đón người nhà nhốn nháo hai bên
hàng rào ở lối ra. Cô bạn ngơ ngác nh́n
quanh rồi bảo tôi: “Anh ấy không ra
đón em rồi chị ơi, giờ em làm sao?”
Tôi bảo cô để tôi đi taxi cùng cô
về nhà chồng của cô trước rồi
tôi sẽ về nhà tôi sau. Cô mừng quưnh
gật đầu. Trời ơi, một cô
chủ shop lanh lợi như thế mà vào lúc này
sao không khác ǵ gái quê ra tỉnh. Tôi thật xót
xa cho cô.
Mấy người lái taxi, c̣ taxi chạy
lại “Hai cô về đâu, mười đô
thôi”. Tôi lắc đầu, dạo này taxi
nhiều, cạnh tranh dữ dội, đón taxi
ngay ở lối ra luôn luôn phải qua trung gian.
Đi bộ thêm vài bước, taxi đầy
ở ngoài, lên xe trả tiền theo máy bấm cây
số khỏi nhức đầu, khỏi
mặc cả, khỏi sợ bị tính mắc
rẻ, xuống xe muốn đưa tips bao nhiêu
th́ đưa.
Chúng tôi lên xe, cậu lái taxi c̣n trẻ.
Những người lái taxi ở Sài G̣n
phần lớn có ăn học v́ các hăng đ̣i
hỏi phải biết tiếng Anh để nói
chuyện với khách ngoại quốc. Đa
số ăn mặc gọn gàng sạch sẽ và
nói chuyện rất nhỏ nhẹ, lịch
sự và hiểu biết. Ở Sài G̣n hiện
nay có rất nhiều hăng taxi nên t́nh trạng
cạnh tranh giúp cho sự phục vụ khách hàng
ngày càng cải tiến. Nhưng taxi ở đây
nghe nói cũng có loại của tư nhân, máy
chạy cây số đă chỉnh lại cho
chạy nhanh hơn, tiền sẽ tính nhiều hơn,
nhưng dù sao dựa trên máy dù máy dởm cũng
đỡ phiền phức hơn qua những người
c̣ cốt. Nghe cũng buồn nhỉ.
Cô bạn xin tôi số điện thoại và
cho tôi số của cô. Anh lái xe vui vẻ
hỏi: “Hai cô về đây làm ăn hả?
Ở Việt Nam bây giờ làm ăn nếu có
vốn sướng hơn ở ngoại quốc
nhiều đó cô.” Tôi cười: “Muốn
làm ăn có lời ở đây phải lanh,
phải quen biết, phải liều em ơi. Cô
không có cả ba thứ đó nên thôi làm ở
ngoại quốc rồi về đây ăn coi
bộ có lư hơn”. Cậu lái xe cũng cười
theo. Cô bạn cũng nhếch miệng cười,
cái cười hiếm hoi từ lúc tôi gặp cô
tới giờ làm khuôn mặt cô sáng hẳn lên.
Cô cũng thuộc loại xinh đẹp mà sao
ông chồng có thể bỏ bê được.
Đúng là các ông chỉ ham của lạ và mê
của ngọt.
Đường phố Sài G̣n mới hơn
một năm tôi chưa trở lại mà đă
thay đổi quá nhiều. Nhịp độ xây
dựng của thành phố nhanh đến chóng
mặt. Các con đường ngập tràn
cửa hàng, cửa hiệu. Các tiệm ăn
mọc lên như nấm. Số lượng xe xích
lô giảm đi một cách đáng kể. Xe
chạy đă cả mười lăm phút tôi
mới thấy có một cái xích lô. Không
biết những người làm nghề này làm
sao sinh sống. Bóng các người ăn xin
nằm vạ vật ngoài đường cũng
không nh́n thấy. Anh lái xe nói dạo này thành
phố gần như đă hết cảnh ăn
xin. Âu cũng là một hiện tượng
tốt. Tôi sợ cảnh đi vào tiệm ăn,
vừa ăn xong đă có những đứa bé
chạy tới bê tô phở thừa trút vào
những ống lon dơ bẩn, làm bữa ăn
vừa xong trở nên nặng nề, và người
ăn cảm thấy thật tội lỗi khi
đă có thể vui trước những cái
đau khổ, đói rách của những người
đồng chủng. Tôi cũng sợ cảnh
đi tới đâu, luôn có những cánh tay ch́a
ra xin tiền, không cho th́ áy náy, cho một người
th́ cả một đám người từ đâu
ùa đến làm bỏ chạy không kịp.
Những h́nh ảnh ấy đă làm những ngày
ở Việt Nam mấy năm trước
trở nên u ám sầu bi chi lạ. Rồi
cảnh những đưá bé chỉ vài tháng
vứt ở góc đường, với một
đứa bé lớn hơn gầy ốm nằm
úp mặt bên cạnh, một tay ôm đưá bé
kia, một tay là cái rổ đựng tiền.
Không cho th́ cầm ḷng không đặng, mà cho th́
biết là ḿnh đang tiếp tay cho những
kẻ nào đó đứng sau lưng dàn ra
những bối cảnh đau thương. Nghe nói
đă có những người đầu
nậu, đưa cả một làng vào ở lây
lất ở Sài G̣n, sáng thả người ra
ăn xin, chiều gom người lại thu
hết tiền. Nghe thật thê thảm, cũng
may những hiện tượng này nghe nói đă
không c̣n nữa, nếu không những ngày
sắp tới của tôi ở đây lại thêm
những giờ trằn trọc khó ngủ và ray
rứt.
Trên đường phố cũng không thấy
ai mặc áo bạc màu hay rách rưới. Tương
đối đa số ăn mặc rất
gọn gàng, sạch sẽ. Số người
ăn diện theo mốt thời thượng như
anh lái xe th́ vào buổi chiều chưa xuất
hiện. Thường phải khi thành phố lên
đèn, thiên hạ mới túa ra đường
đi ăn, đi chơi buổi tối.
Tới nhà chồng cô bạn đồng hành, căn
nhà ở khu phố tương đối tươm
tất, hẻm rộng, có đám trẻ đang
chơi dưới hàng cây, thấy các em ăn
mặc cũng rất gọn gàng và sạch
sẽ. Cuộc sống vật chất h́nh như
đă có vẻ khá hơn. Cô bạn cám ơn tôi
và đi theo đám người nhà chạy ra
tận xe đón vào nhà. Xe đưa tôi về
nhà, cái ngơ nhà tôi cũng đổi khác hẳn
đi với rất nhiều nhà mới đang xây
cao nghễu nghện. Tôi không hiểu sao
những gia đ́nh thấy không giàu ǵ lắm mà
có thể xây nổi những căn nhà lớn
như vậy. Đúng là không phải việc
của ḿnh mà vẫn ṭ ṃ và thắc mắc.
Con đường bên ngoài đă được
mở rộng, gần như nhà nào cũng
mở hàng quán. Buổi chiều, các quán ăn,
quán nhậu đă đầy người.
Những ngày sau đó, tôi bận rộn đi
thăm những người quen, hết người
này kéo đi ăn lại đến người
kia. Các quán ăn nhậu ở Sài G̣n mở ra
khắp nơi. Các siêu thị nườm nượp
người. Đi trên các phố lớn như Đồng
Khởi, Nguyễn Huệ hay vào các nhà hàng
lớn, các hàng quán ở quận một,
quận ba, đa số là người Bắc sau
75. Không hiểu sao người ta có thể giàu
nhanh lên như thế. Tuy nhiên, cũng có một
số người Bắc ở các làng quê
mới vào làm các nghề vặt vănh như
chạy xe thồ, bán bắp, bán xôi. Nhưng nhóm
này chiếm tỉ lệ rất ít. Các sạp
trong chợ phần lớn chủ là người
sống ở miền Nam từ trước 75.
Có một lần tôi ghé hàng bát chén trong chợ
Bến Thành. Cô bán hàng ăn mặc rất
giản dị, nói tiếng Pháp trôi chảy,
giọng rất đầm với một cô khách
người Pháp. Thật lấy làm tiếc cho
một người học hành như thế
giờ chỉ quây quần với đám chén bát
bán trong chợ. Nhưng dù sao, thu nhập của
các quán hàng trong chợ cũng rất cao.
Tốt nghiệp đại học không có
việc làm đầy dẫy, tỉ lệ
kiếm được việc làm thu nhập vài
trăm đô một tháng rất ít. Ra chợ bán,
có thể kiếm vài trăm đô dễ dàng.
Vậy th́ có ngại ngần ǵ khi ra chợ làm
chủ shop của ḿnh, nh́n vào th́ thấy
vất vả một tí nhưng tương đối
tự do, công việc lại vững vàng. Cơm
trưa chỉ việc ngoắc tay đă có người
bưng ngay đến, buổi trưa thưa khách,
có thể ngồi vắt vẻo cho người
làm móng tay, móng chân, hay nhờ người trông
hàng để chạy đi tắm hơi, massage
mặt, gội đầu, v.v… Buổi xế có
thể vừa ăn vặt vừa tán dóc
với các bạn hàng bên cạnh, hay rảnh
rang đọc một vài cuốn sách.
Nói đến thú đọc sách, lúc trước
vẫn nhớ đám đồng nghiệp
ngoại quốc rất phục dân Việt Nam
khi đất nước coi như không có người
mù chữ, khi họ đi trên đường,
gần như hấu hết những người
bán hàng, từ tủ thuốc lá lề
đường, đến các xe bán hàng, ai
nấy nếu rảnh là lại chúi đầu
vào một tờ báo hay một quyển sách. Các
đứa bé bán vé số, bán đồ lưu
niệm dọc đường phần đông
đi học một buổi, một buổi
đi bán. Chẳng cha mẹ nào để con cái
thất học dù nghèo khổ đến đâu
chăng nữa, dù biết có hết lớp mười
hai cũng chưa chắc đă có một
chỗ ngồi trong đại học, dù
biết có tốt nghiệp đại học cũng
dễ ǵ kiếm ra một việc làm tương
xứng với khả năng. Cái truyền
thống của dân tộc h́nh như vẫn
trọng cái chữ và mảnh bằng dù
biết nhất sĩ nh́ nông, hết gạo
chạy rông, nhất nông nh́ sĩ. Nhưng lúc
đó hăy hay, bây giờ c̣n cha c̣n mẹ, c̣n có
thể đi học th́ hăy cứ đi học cái
đă.
Những ngày ở đây, tôi có cái thú lang thang
đến các tiệm sách. Ngoài cửa hàng sách
Nguyễn Huệ hai tầng lầu rất
lớn, các cửa hàng sách khác cũng rất
lớn. Sách bây giờ đầy ra, đủ
thể loại, in theo đủ mẫu mă.
Từ kiếm hiệp, truyện dịch,
truyện Việt Nam dài, ngắn, các tác phẩm
khảo cứu, nhạc, truyện thiếu nhi,
truyện tranh, v.v… như rừng vậy.
Mấy năm trước, vào hiệu sách nói
với các cô cậu bán sách giới thiệu
hộ ít quyển sách hay để mua thật
dễ dàng. Các cô cậu này nh́n phần lớn
có vẻ là học sinh vừa tốt nghiệp
trung học hay sinh viên đại học nên có
vẻ đọc nhiều. Nhưng bây giờ th́
các cô cậu có vẻ lúng túng v́ số lượng
sách ra quá nhiều, và thị hiếu của khách
hàng cũng muôn màu muôn vẻ. Các cô cậu
ấy chỉ có thể nói: Cuốn này
thấy bán rất chạy, cuốn kia của
một nhà văn rất nổi tiếng, v.v…
Cẩn thận hơn, có cô cậu c̣n nói: “Cuốn
này bán chạy lắm nhưng không biết có
hay không v́ cuốn này được báo
giới thiệu nên người ta hỏi
nhiều”. Trong các cửa hàng sách, ngoài sách
c̣n có thể t́m thấy băng, CD, DVD, các
đĩa thu software lậu, các dụng cụ văn
pḥng phẩm, các đồ lưu niệm, thôi
th́ đủ thứ trên đời.
Trên khu bán sách cho thiếu nhi, nh́n như thư
viện vậy, các em bé ngồi đầy dưới
sàn đọc sách. Nh́n thấy thật thương
và ứa nước mắt. Nhưng nói cho cùng,
sách th́ nhiều quá, in rất đẹp, đủ
thể loại, thư viện th́ không có, các em
thích đọc sách chỉ có thể vào
tiệm sách ngồi trên sàn bên cạnh các
kệ sách để mà đọc. Dù sao cha
mẹ các em cũng may mắn là con cái không lêu
lổng. Và các em này chắc gia cảnh cũng
khá hơn nhiều em bé vẫn đi vào các
tiệm bán vé số hay đánh giầy.
Rời tiệm sách tôi lang thang ra khu Huỳnh Thúc
Kháng mua DVD. DVD ở đây thôi th́ đủ
loại. Người mua hàng ngồi trên
những ghế thấp, lựa dĩa từ các
túi xách đặt trên các bàn nhỏ trước
mặt. Khách cần loại DVD nào là có ngay người
chạy đi đâu gần đó lấy về
những túi xách nhỏ đầy nhóc những
DVD không hộp cho khách lựa. Họ không để
nhiều trong cửa hàng có lẽ sợ bị công
an ụp vào bắt th́nh ĺnh. Cô bán hàng nói: Chị
mua đợt này xui, tại nguồn hàng từ
Trung Quốc qua mới bị bắt nên hàng không
có nhiều. Giá một DVD chưa tới hai
đô Mỹ, giá CD chỉ khoảng 50 cents. Nhưng
CD gốc giá chính thức chỉ khoảng hai
đô Mỹ, chả dại ǵ mua CD copied về
cái nghe được cái không. CD, VCD copied trong nước
nên chất lượng không tốt bằng DVD
copied ở Trung Quốc. Tuy nhiên ở một
số nơi vẫn có DVD copied trong nước
từ những DVD copied ở Trung Quốc về.
Mua loại này đem về có thể không xem
được hay dĩa bị đứng,
nhảy h́nh, rất khó chịu.
Đi mua hàng ở Việt Nam hiện nay khá
thoải mái, các cửa hàng dịch vụ quá
nhiều nên rất cạnh tranh. Giá bán cho
Việt kiều và Việt Nam không c̣n chênh
lệch nhiều nữa. Lâu ngày người dân
đă hiểu là những người Việt
kiều cũng phải làm ăn khó khăn và
chật vật ở xứ người, chứ
không phải đồng tiền của họ là
từ trên trời rơi xuống. Hơn
nữa, trong nước lúc sau này sản sinh ra
một giai cấp rất giàu, v́ buôn lậu, v́
hối lộ, v́ gặp thời cơ trúng
lớn, v.v… Những người này hạ
vị trí Việt kiều xuống rất nhanh. Vào
những cửa hàng ăn chơi, mua bán hàng hoá
cao cấp, những người này vung tiền
đô la như nước. Việt kiều
về nhiều quá, nên Việt kiều có đi
đường cũng chẳng ai thèm ngó. Tuy nhiên,
vào các cửa hàng, một số nhân viên
phục vụ có vẻ vẫn thích Việt
kiều v́ có lẽ đa số Việt kiều
ăn nói lịch sự hơn những người
mới nhờ thời thế mà lên. Rất
nhiều siêu thị mọc lên, bán đủ
loại hàng, giá cả bấm sẵn, khỏi lo
vấn đề mặc cả. Các nhân viên
ở đây cũng mặc đồng phục,
đeo bảng tên. Vào các cửa hàng ở Đồng
Khởi, thương xá Tax, các người bán hàng
hay nói tiếng Anh, có lẽ họ tưởng tôi
không phải Việt Nam chăng v́ các bà
Việt Nam đi một ḿnh thường không vào
những khu này, giá mắc nhiều so với ngoài
chợ.
Một buổi sáng tôi bước vào thương
xá Tax, mua một tủ đựng nữ trang
nhỏ. Đi t́m ṿng vo, các cô bán hàng chỉ lên
lầu ba. Lên đó, thấy một cửa hàng
để mảng giấy lớn: “Bán đúng
giá niêm yết”. Tôi mừng quá, vậy là
khỏi phải qua khâu mặc cả, cái mà tôi
vẫn sợ nhất. Cầm lấy cái tủ
nhỏ xíu bằng gỗ vừa ư, thấy giá
để 465.000 VND (khoảng 30 đô Mỹ). So
với giá ở ngoại quốc th́ không
mắc, cô bé bán hàng khoảng mười
mấy tuổi, nh́n thật xinh xắn và thùy
mị, nhẹ nhàng nói: “Cô lấy th́ con
bớt cho cô năm chục ngàn”. Tôi cười
v́ thấy coi bộ những chữ trên tấm
bảng trước cửa đă có vẻ hơi
lạc điệu, coi bộ có màn mặc
cả rồi, tôi khẽ lắc đầu quay
đi, cô bé bán hàng níu lại, cặp mắt ngây
thơ van nài: “Mới sáng ra cô trả giùm
con một hai tiếng mở hàng đi cô”, tôi
cười trả đại “ba trăm ngàn
thôi”. “Ba trăm con bán không được,
không đủ vốn cô ơi”. Tôi vội
quay đi, nhưng cô bé níu lại và ngọt ngào
chèo kéo. Dứt bước ra đi không nổi
với giọng nói ngọt như mật và cái
nh́n ngây thơ của cô, tôi ôm cái hộp đi
với cái giá ba trăm tám chục ngàn, biết
là ḿnh mua hớ mà chẳng biết hớ bao nhiêu.
Sau mới biết ở chợ Bến Thành cái
hộp này giá khoảng một trăm hai
chục ngàn. Vậy là mắc hơn gấp ba, dù
biết là ḿnh sẽ mắc bẫy mà vẫn
mắc bẫy như thường, một cái
bẫy ngọt ngào, như vậy th́ đừng
trách ǵ các ông.
Nhớ lại cách đây vài tháng, cậu cháu
trở về sau khi qua làm ở Việt Nam
một năm, hai vợ chồng bắt đầu
xào xáo v́ một lá thơ gửi sang: “Anh
ơi, anh nói với chị là em hiền lắm,
em chịu nhịn, và bằng ḷng làm bé, anh nói
với chị để bảo lănh em qua”. Cái
hiền chết người này làm hai vợ
chồng cậu cháu căi nhau hàng ngày, ai bảo cô
vợ dữ quá, người ta chịu nhịn
mà cô không chịu nhịn th́ làm sao… Ôi,
mật ngọt luôn chết ruồi, ḿnh đàn
bà c̣n hảo ngọt th́ c̣n nói ǵ các đấng
liền ông.
Các cửa hàng massage, tắm hơi, sửa
sắc đẹp, cắt tóc cũng mọc lên
như nấm. Giá cả tuy rẻ hơn so
với nước ngoài nhưng so với người
trong nước vẫn c̣n cao vọt. Khách hàng
của các tiệm này đa số là các khách nước
ngoài, các vị có quan, có chức hay có tiền.
C̣n đa số các người đi làm
sống v́ đồng lương chắc
chẳng ai vào đây. Vào đây các cô gái ăn
nói rất nhỏ nhẹ, ngọt ngào dù khách hàng
là nam hay nữ, v́ đa số sống nhờ
tiền lương th́ ít, mà nhờ tiền bo
(tiền tips) th́ nhiều. Vào đây, nếu
dự trù chi phí khoảng một trăm rưởi
ngàn, chi phí này sẽ lên gấp đôi, gấp
ba dễ như không khi các cô ngọt ngào
giới thiệu thêm các dịch vụ khác. Các
cô gái làm ở đây c̣n rất trẻ,
chỉ trên dưới hai mươi. Có một
số từ tỉnh lên, làm việc và ăn
ở luôn tại chỗ làm. Đa số các cô ngoài
giờ làm việc, trải thời giờ trong các
tiệm internet. Cô nào cũng thích chat, để
biết đâu có cơ hội quen được
một Việt kiều về làm lễ cưới
đón đi.
Các quán internet mở khắp nơi, đầy các
ngơ hẻm, giá chỉ từ bốn đến sáu
ngàn một giờ (khoảng 30 cents), nên lúc nào
cũng đông khách. Buổi tối th́ h́nh như
không thể nào kiếm ra một máy trống,
từ sinh viên học sinh đến các cô công
nhân, thợ cắt tóc, v.v… Ở đây
dạo này c̣n bán các thẻ gọi điện
thoại qua internet giá rất rẻ, bảy
chục ngàn đồng gọi được
hai ba tiếng. Lại đây thấy các cô
bỏ hàng giờ ra thủ thỉ với các anh
bên nước ngoài. Nhiều cô nh́n vóc dáng
rất tội nghiệp, không biết sẽ có
bao nhiêu cô may mắn được các anh
về bảo lănh đem qua khi nh́n thấy
tận mặt. Dù sao, những giờ chuyện
tṛ đó cũng là những niềm vui của các
cô. Sau khi rời máy, các cô lại trở về
với công việc thấp hèn của ḿnh, đời
sống cực khổ nhưng với ḷng tràn
trề hi vọng và thoải mái v́ đă
sống trong những phút đầy ắp mơ
ước ngọt ngào. Đời sống cơ
cực quá nên một ngày có được vài
tiếng đồng hồ sống trong ảo tưởng,
cũng là một điều hay, và biết đâu
may mắn có thể đến với các cô.
Biết đâu, ừ nhỉ, biết đâu
đấy, tôi thật ḷng cầu nguyện
điều hay sẽ tới với các cô gái này.
Các quán café cũng mở ra như nấm,
nhiều quán trang bị rất đẹp.
Nhiều quán café c̣n chia ra nhiều khu, khu dành
cho những cặp t́nh nhân với cây cảnh và
nhạc nhẹ. Khu có những ḍng thác, ḍng
suối, khu có ca nhạc sống, và khu có cả
các tṛ chơi điện tử cho trẻ em. Vào
những quán café này thấy như ḿnh đi vào
thế giới khác, hồn mềm đi một
chút, nhẹ đi một chút giữa cái nóng
bức của Sài G̣n, vào để tránh ánh
nắng chói chang, mịt mờ bụi và khói xe.
Nhưng cũng đau ḷng khi thấy sao ḿnh xa cách
quá với những người đang bán rong
ngoài kia, tuy nhiên tiếng nhạc cũng làm
dịu ḷng đi được một chút.
Các nhân viên bán hàng trong các tiệm phần
lớn đếu có đồng phục. Các
tiệm sang th́ các cô cậu bán hàng ăn
mặc đỏm dáng và bảnh bao, con trai
mặc quần tây, áo sơ mi ủi thẳng
thớm, có khi có cả veste nữa; các cô gái
hoặc mặc áo dài hay áo đầm rất
xinh xắn. C̣n ở các tiệm ăn nhỏ th́
đa số cũng có mặc đồng
phục gồm một cái T-shirt in nhăn hiệu nhà
hàng. Ở nhiều tiệm ăn, c̣n có một
số các cô gái mặc váy ngắn, T-shirt mang
logo của các hăng bia, đem bia mời khách
uống.
Giá quần áo rẻ nên tương đối
ai cũng ăn mặc tươm tất. Đàn bà
con gái Sài G̣n khá thích ăn diện. Đa số
đều làm móng tay, móng chân, trang điểm
kỹ càng khi ra đường. Trên đường,
các cô, các bà đi xe gắn máy thường
đội nón, che mặt, mang găng tay rất
kỹ để bảo vệ da. Ngay các người
đạp xe ba gác, xích lô hay chạy xe thồ cũng
ăn mặc không đến nỗi tồi tàn.
Ở các đầu đường, đầu
hẻm nào cũng thường luôn luôn có năm
ba chiếc xe gắn máy đợi khách. Xe taxi th́
chỉ nhấc điện thoại năm ba phút
là có xe tới ngay. Các người bán hàng rong,
rau cải ăn mặc cũng tương đối
gọn gàng không luộm thuộm rách rưới.
Tuy nhiên nh́n những người buôn bán dọc
dường, hay chạy ngoài chợ, người
nào nh́n cũng thấy có vẻ mệt mỏi,
héo úa và hốc hác. Tương phản hoàn toàn
với đám thực khách đi vào các hiệu
sang, hồng hào sang trọng và mập mạp.
Ngay cả những cô cậu bán hàng ở các
cửa hàng này nh́n cũng rất lịch sự
và tươi đẹp.
Dân chúng tuổi ba mươi trở lên ở
đây rất chịu khó giữ ǵn sức
khỏe. Trẻ th́ sáng sớm đă theo các
lớp thể dục thẩm mỹ, nhịp
điệu. Lớp trung niên hay người cao
tuổi thường ra công viên theo các lớp
tập dưỡng sinh, múa gậy, thái cực
quyền, khí công, yoga. Buổi sáng sớm, các
con đường dọc theo công viên, bờ sông
đă nhiều người đi bộ. Ở các
công viên đă nhộn nhịp các nhóm tập
thể dục. Tới gần tám giờ sáng
mới ră hết các đám.
Buổi tối, là giờ đi chơi của
đám choai choai. Đường phố đầy
xe. Các cô cậu nhà giàu phóng xe ào ào trên các
loại xe gắn máy mắc tiền, mặc áo
quần cũng rất fashioned. Con trai quần
jeans, T-shirt loại hàng hiệu. Con gái th́ ăn
mặc cũng theo các kiểu thời trang mùa hè
ở ngoại quốc. Nhiều cô mặc hở
nguyên lưng, váy rất ngắn nh́n rất mát
mẻ. Các tụ điểm văn nghệ, các
quán nhạc sống, tiệm café rạp hát,
tiệm ăn, tiệm kem nghẹt khách. Ngoài
bến tàu, các tàu lớn cũng sáng choang đèn.
Một số tàu vừa làm tiệm ăn,
vừa chạy dọc trên sông từ bảy
đến chín giờ tối.
Đám thanh niên ở đây nhảy đầm
rất giỏi, tôi có nghe, có đọc về
những tiệm nhảy nơi thanh niên dùng
thuốc lắc nhưng chưa đến bao
giờ. Chỉ nhớ lại và thấy buồn
cười khi những năm trước về
đây làm việc, mỗi lần sở có
hội hè, functions, đám local staff nhảy
rất đẹp trong khi ḿnh th́ ngồi trơ
như phỗng v́ không biết nhảy. Dân
ở nước ngoài ǵ mà quê hầy, thua xa dân
bản xứ.
Thành phố nhộn nhịp đến khoảng
hơn chín giờ tối th́ bắt đầu
thưa vắng. Ở một số con đường
của thành phố giờ này bắt đầu
xuất hiện những cô gái ăn sương,
níu kéo các xe gắn máy đàn ông chạy
một ḿnh. Lúc nào thấy bóng công an, bóng các cô
gái chạy thoăn thoắt vào các ngơ tối.
Ban đêm cũng là lúc các xe đổ rác, quét
đường làm việc. Các công nhân làm
vệ sinh mặc đồng phục xanh
thẫm, đeo khẩu trang, quét đường
bằng những chổi lúa, lùa rác vào những
xe ba gác, rồi đổ những đống rác
này vào một góc đường nào đấy
cho xe rác lớn tới mang đi. Thành phố
đă không c̣n những đống rác cao
nghễu nghện như trước, cũng là
một điều hay.
Thành phố về đêm, trong các ngơ nhỏ
vẫn thấp thoáng bóng các em bé đi rao ḿ
xực tắc. Tiếng gơ, tiếng rao buồn
thảm thỉnh thoảng lại lẫn vào
tiếng rao bánh chưng bánh gị của những
người đàn ông lầm lũi đạp
xe đạp len lỏi từng con hẻm
nhỏ. Ngoài đường xe cộ thưa nhưng
vẫn có những cửa hàng mở cửa. Có
những khu phố hàng ăn nhộn nhịp
suốt đêm. Những người chạy xe
thồ vẫn đậu xe đầu những
ngơ đón khách suốt đêm.
Những ngày ở Sài G̣n của tôi đă trôi
qua như thế, ăn những món ăn hương
vị đă không c̣n đậm đà như
trong trí tưởng lúc ở nước ngoài,
đi mua bán lặt vặt, thăm gặp
những người quen biết, những
bạn bè cũ. Có những người mới
vài năm giàu lên không thể ngờ. Có
những người vẫn đeo đẳng
những cuộc sống buồn tẻ và chán
nản, nhưng nh́n chung cuộc sống có khá hơn
vài năm về trước dù cũng c̣n
vất vả. Trong xă hội bây giờ có
một số người giàu không thể tưởng
nhưng đa số c̣n khó khăn và có
những người rất là thiếu thốn.
Nh́n các bé gái trong ḷng tôi thấy rưng rưng,
xă hội vật chất quá cám dỗ, nếu
gia đ́nh không khá giả, giáo dục không
kỹ càng, chỉ cần quen biết vài bạn
bè xấu là sa ngă quá dễ dàng. Các bé trai cũng
vậy.
Các bạn tôi than, bây giờ giữ con mệt
quá, đưa đi học thêm đủ
thứ chứ không có vào lớp không theo
kịp chương tŕnh học. Thày giáo nào cũng
dạy tư nên nếu học tṛ không học
thêm vào lớp chẳng biết đường
nào làm bài tập và bài thi. Bạn bè th́
lại cứ lôi kéo vào những tṛ chơi
xấu, con cái sểnh ra một chút là hư
ngay. Lúc trước báo có đăng một gia
đ́nh đưa đón con đi học rất
kỹ, bà mẹ đă té xỉu khi công an đến
c̣ng tay đứa con trai v́ nó theo bạn bè
giật đồ của người ta. Bạn
tôi cũng kể có đứa con c̣n học
tiểu học về nói chuyện là để
chọc cô giáo, một đám chung nhau tiền ra
mua seduxen (loại thuốc ngủ chứa
diazepam), một viên có hai ngàn, chia nhau đứa
uống vài viên, để cô giáo vào lớp
thấy cả đám học tṛ đang ngủ
vật vă. Bạn khác lại kể, sợ
lắm, con mới học lớp sáu, mà có đứa
bạn vào lớp rút ra mấy tờ một trăm
đô Mỹ rủ rê cả bọn đi
nhảy đầm, đưá nào không đi th́
bị chê quê. Cứ thế, không theo bạn bè
th́ bị trêu chọc, theo bạn bè th́ hư lúc
nào không biết.
Mỗi lần ra đường trở về tôi
lại đâm ra chóng mặt v́ bụi, v́
nắng và v́ nhịp điệu sống thay
đổi quá nhanh của thành phố, v́ cái
khoảng cách giữa người thật giàu và
thật nghèo đă trở nên quá lớn.
Thành phố Sài G̣n như một con xúc xắc
quay ṿng nhiều mặt trong ngày ở những
thời điểm khác nhau. Ở một thành
phố dân số lên đến hơn bảy
triệu, sức sống ngồn ngộn, nhưng
như một bộ máy quá tải, không đáp
ứng nổi tiến độ phát triển quá
nhanh của cuộc sống nên chắc chắn
phải có rất nhiều những chông chênh. Bên
bóng những ngôi nhà cao nghệu vẫn c̣n
những người lao động thấp thoáng
đâu đó, đem h́nh bóng nhoà nhạt
của ḿnh làm bước đệm cho
những người có quyền chức đi lên.
Bên những ánh đèn lấp lánh đêm thâu
vẫn c̣n bao nhiêu những thanh niên trẻ lao ḿnh
vào cái sáng loáng của ánh đèn để thiêu
cháy như những con thiêu thân. Bên những
ngọn đèn heo hắt trong ngơ nhỏ, trong
những kư túc xá sinh viên vẫn c̣n bao học
sinh, sinh viên miệt mài học để mong
kiến thức của ḿnh sẽ đóng góp
được một chút ǵ cho gia đ́nh, cho
bản thân và cho xă hội, dù biết rằng xác
suất thành công rất thấp nhưng vẫn
cố gắng hết mực để biết
đâu có cơ hội vươn lên. Bên
những người giàu có luôn dư thừa
những bữa tiệc xa xỉ vẫn c̣n
những người chạy gạo từng
bữa, vẫn c̣n những người bệnh
không thuốc không thang. Thành phố vào giờ
cao điểm vẫn nườm nượp
nhiều h́nh ảnh lẫn lộn của
những chiếc xe hơi bóng lộn, những
chiếc xe gắn máy ồn ă, những chiếc
xe đạp và ba gác cọc cạch, và
những người buôn thúng bán bưng.
Tôi đă ở trong ḷng Sài G̣n, với những
sáng nắng, những buổi chiều mưa.
Lang thang từ những con đường
lớn đến những ngơ nhỏ tồi tàn.
Bước chân nhỏ nhoi không đi qua hết
nổi một phần mười thành phố nhưng
cũng đủ để nh́n thấy phần
nào những muôn màu muôn vẻ cuả cuộc
sống ở đây.
Cô bạn gặp trên máy bay thỉnh thoảng
lại gọi điện thoại than khóc,
những tiếng động cơ, tiếng người
nói, tiếng buá đập, cưa máy từ các
nhà đang xây trong ngơ suốt ngày làm tôi cũng
mệt nhoài.
Ở được một tuần, tôi rời
Sài G̣n trở về Đà Lạt, nơi tôi đă
sinh ra và lớn lên, nơi tôi luôn mong ước
trở về nhưng mỗi lần trở
về lại rưng rưng nước mắt
khi những người thân xưa cũ nay đă
hoặc mất đi hoặc dời đi sinh
sống nơi khác.
Đường đi thật là xa lạ, từ ngă
tư Hàng Xanh, đến xa lộ Biên Hoà,
những tên đường lạ hoắc,
lại cũng đă vài lần thay tên làm tôi không
thế nào nhớ nổi. Cố h́nh dung con
đường hồi xưa, mỗi sáng đi
xe búyt từ trường Khoa học lên khu Sinh lư
Sinh hoá ở Thủ Đức mà không thể
nhận ra. Cố t́m lại cái khúc rẽ vào trường
từ xa lộ mà không thể nào nh́n ra
được. Xe đi qua Rừng Lá, Dầu Giây,
rừng cao su, cảnh vật cũng xa lạ không
ngờ. Cảnh trí thay đổi quá nhanh hay
tại trí nhớ của tôi đă bắt đầu
trở nên mụ mẫm. Định quán vẫn c̣n
đây với những tảng đá chồng
chất, nhưng sao đă mất cái cảm giác
choáng ngợp thưở xưa lúc c̣n là cô gái
bé tí theo cha về Sài G̣n. Lúc ấy, mỗi
tảng đá như ẩn chứa cả
một thế giới kỳ bí. Bây giờ
mỗi tảng đá như nằm chơ vơ,
vô hồn vô cảm.
Hai bên đường dầy đặc nhà
cửa, chỗ nào cũng thấy xe gắn máy
chạy nhan nhản. Các cửa hàng mọc đầy.
Xe lên đến đèo Bảo Lộc, cái
cảm giác nhẹ nhàng ngày xưa như đang
trở lại, khi xe ṿng lên những đường
đèo xanh um bầu lá, thỉnh thoảng có
tiếng thác róc rách bên đường,
thỉnh thoảng lại ẩn hiện rặng
núi xanh ngắt. Tôi lại được
trở về, dù chỉ trong thoáng chốc
với những h́nh ảnh của ngày xưa.
Càng gần Bảo Lộc, càng ngửi thấy mùi
trà thơm ngát. Các tiệm trà đều mở
thêm hàng café hay hàng ăn để hấp
dẫn du khách. Xe ngừng ở tiệm trà Đỗ
Hữu ăn trưa. Xuống xe đă nh́n
thấy những quán bán sầu riêng, bơ, chôm
chôm và bắp luộc. Bắp ở Việt Nam
sao vẫn dẻo và thơm ngon. Năm ngàn
bốn cái, rẻ không ngờ nhưng những
người đi cùng xe c̣n mặc cả, bốn
chiếc ba ngàn thôi. Tôi nh́n thúng bắp,
lại một màn tính nhẩm để không
hiểu sao nó có thể nuôi sống cho một
gia đ́nh.
Ăn xong, xe lại chạy qua những đồi
trà bát ngát xanh. Nhà cửa hai bên đường
cũng mọc lên như nấm, có những ngôi
nhà xây dựng rất đẹp, rất bề
thế và kiểu cách.
Chạy được khoảng hơn một
tiếng, xe ngừng ở một tiệm bán trà
khác. Ở đây bán đủ loại trà, khách
được uống café và trà miễn phí. Các
cô gái ở đây c̣n rất trẻ, chỉ
khoảng dưới hai mươi. Đa số xa
nhà, ăn ở ngay tại chỗ làm. Lúc
trả tiền, có người cho tiền tips các
cô, các cô bé không dám lấy. Người đàn
bà có lẽ là chủ tiệm miệng mồm
nhanh nhẩu: “Các anh cho tiền bo, tụi nó
không dám lấy đâu. Các anh bắt tụi nó
ḅ th́ tụi nó ḅ cho các anh coi, chứ cho
tiền bo th́ không dám lấy”. Vài người
khách sững người trước câu nói này.
Tôi không dám nh́n những cô bé đó, lặng
lẽ đi vội ra xe, nghe một nỗi chua xót
và căm giận không biết từ đâu
ập tới. Ngồi trên xe măi, h́nh như tôi
vẫn thấy ḿnh c̣n đang run rẩy, câu nói
không biết là đùa hay thật của người
đàn bà làm cảnh vật h́nh như càng u ám.
Mưa bắt đầu lất phất ngoài
cửa kính, và h́nh như mặt tôi cũng nḥe
nhoẹt nước mắt.
Hai bên đường, nhà cửa cũng vẫn
san sát, nhưng thấy dân ở đây có
vẻ nghèo và hiền hơn dân Sài G̣n. Quanh vùng
Bảo Lộc, Ma-đa-gui (chiến khu D cũ)
đa số là người ngoài Bắc sau 75. Công
nhận những người dân Bắc thật
giỏi, vào khu kinh tế mới Bảo Lộc hơn
mười năm, từ tay trắng, các gia
đ́nh này đă trở nên giàu có không
ngờ. Trong khi đám dân trong Nam không khá lên bao
nhiêu nếu tính theo tỉ lệ. Có người
cũng nói là số dân từ Bắc vào lên
nhanh nhờ họ có thần có thế, có
quyền có chức nên xin giấy tờ ǵ cũng
lọt, và lại có kinh nghiệm đă sống
trên đất Bắc; nhưng chắc nếu nói
theo một cách công bằng, th́ cũng nhờ
một phần vào tính tháo vát, siêng năng và
cần kiệm của họ. Có một vài hăng
tơ lụa làm từ dâu tằm nhưng đă
đóng cửa. Tôi lại chua xót nghĩ tới
cảnh hàng ngàn công nhân đă bị mất
việc, không biết những cô gái này bây
giờ đă trôi nổi về đâu.
Dù cây cối ở các đồi, các con dốc
đă bị chặt bỏ rất nhiều, nhưng
Đà Lạt vẫn c̣n những con đường
và cảnh hồ rất đẹp. Sáng sớm,
bóng dáng các em nữ sinh mặc áo dài trắng,
áo len xanh trên đường nh́n dễ thương
chi lạ, làm hiện về cả một quá
khứ ngọt ngào của những ngày ngây thơ
xưa cũ. Con gái Đà Lạt vẫn má
hồng, mắt đen, da trắng, mái tóc mượt
mà, ăn nói ngọt ngào hiền hậu. Hèn chi
tỉ lệ lấy Việt kiều khá đông.
Các anh Việt kiều chưa vợ, lên đây
gặp các cô gái xinh xắn, mộc mạc xiêu
ḷng cưới về nuớc khá nhiều. Dân
Đà Lạt đa số vẫn c̣n giữ dược
nếp sống xưa, con gái đi học về
lo việc nhà, quây quần với gia đ́nh, ít
chơi bời đàn đúm.
Người Đà Lạt vẫn như xưa,
nhẹ nhàng và hiền ḥa, chợ Đà Lạt vào
sáng sớm vẫn đầy những người
bán rau cơ cực. Trời rét, những người
này quấn mấy lớp khăn nh́n vẫn nghèo
và khổ. Gương mặt mệt mỏi và
xanh xao v́ thiếu ngủ, thiếu ăn. Các người
chạy xe thồ nh́n cũng không được
tươm tất như những người cùng
chạy xe thồ ở Sài G̣n. Dân ít, nên
kiếm được đồng tiền cũng
khá vất vả. Vậy mà nhịp độ xây
dựng trong thành phố cũng phát triển kinh
người. Giá đất tăng vọt trong vài
năm nay, những ngôi biệt thự vẫn xây
dựng thật lộng lẫy bên cạnh
những ngôi nhà đă bắt đầu đổ
nát. Những người có công việc làm tương
đối ổn định hơn nhưng
cuộc sống cũng lắm cam go. Ở
chợ các em bé đánh giầy và bán xổ
số cũng khá đông. Nhiều em nh́n chỉ
bé độ bốn, năm tuổi, một
buổi đi học, một buổi đi bán.
Không biết bán được bao nhiêu. Một
gánh rau xà lách khoảng hơn hai mươi kí lô,
bán một ngàn đồng một kí, nguyên gánh
rau chỉ bán được hơn một đô,
không hiểu họ có thể làm sao nuôi sống
được cả một gia đ́nh.
Những người chạy xe thồ cũng nói
một ngày kiếm một hai chục ngàn
(khoảng trên một đô) cũng không dễ
ǵ.
Ấy vậy mà sao cuộc sống lại
vẫn cứ trôi đi. Những buổi
chiều trời êm, trên ngọn đồi
gần sân vận động đối diện
hồ Xuân Hương, tấp nập người
ra thả diều. Những con diều đủ
màu vẫn phất phới dâng cao, mặt hồ
vẫn phẳng trong xanh, mây trắng vẫn
bồng bềnh và hoa cỏ vẫn tươi
tốt. Cuộc sống vẫn hiền ḥa thanh
thản trong lúc tôi măi ngồi khóc mướn
thương vay.
Có những tối ngồi ở Thủy Tạ,
nh́n sóng dập dềnh, nhắm mắt nhớ
lại những khung trời xưa cũ. Bên tai
tiếng đàn chát tai của ban nhạc dân
tộc chơi đủ loại bài hát.
Tiếng đàn bầu, đàn tranh, guitare
hỗn độn xen lẫn nhau, đă chẳng
hoà quyện được mà lại như
đối nghịch ồn ă làm nhà hàng Thủy
Tạ mất đi cái bản sắc nên thơ
của nó. Nhưng có lẽ nhờ những
ồn ào đó mà nhà hàng trở nên đông
đảo với số khách đến ăn và
nghe loại nhạc này. Nếu để đèn
mờ, nhạc nhẹ như ngày xưa, biết
đâu đă thành một nhà hàng vắng vẻ
và có thể đóng kín cửa không chừng.
Cuộc sống đă thay đổi, th́ tâm t́nh,
thị hiếu làm sao giữ được nguyên
vẹn như xưa.
Buổi tối nhiều quán café mở khắp nơi,
nhưng sau chín giờ đă bắt đầu
hết khách, một vài chỗ c̣n mở khuya
với số khách thưa thớt trên đầu
ngón tay. Đà Lạt vẫn chẳng phải là
một nơi chốn ăn chơi. Đêm chạy
xe trên những con đường thật yên
ắng, nghe rơ cả tiếng sương rơi
và tiếng gió cựa ḿnh, để hồn
lắng đi một chút và thấy là Đà
Lạt trong một góc cạnh nào vẫn c̣n
đẹp lắm.
Rời Đà Lạt, trở lại Sài G̣n, vẫn
c̣n cái cảm giác ngột ngạt như ngày xưa
khi xe qua khỏi các râm mát của đèo Bảo
Lộc để đi vào cái không khí nóng
nực, bụi bậm của miền Nam.
Hai tuần đă trôi qua, tôi sửa soạn
rời thành phố, cô bạn gặp trên máy bay
đă nhắn sẽ về cùng ngày v́ cô ta
đă đổi vé lại. Đón cô cùng ra phi trường,
cô khóc: “Chị ơi, anh ấy giờ không
chịu về, anh ấy bảo em muốn ly
dị th́ ly dị, tiền bạc chia ra cho anh
ấy về đây sống, chị bảo em
phải làm sao?”
Làm sao ư, tôi cũng chẳng biết phải
làm sao, tôi đă sắp lên máy bay, sắp
rời cái thành phố mà ở đó có rất
nhiều những nụ cười, những
tiếng khóc, những khuôn mặt lạnh
lẽo và những khuôn mặt mệt mỏi chán
chường, cũng có một số ít các khuôn
mặt phủ phê thỏa măn, với thật
nhiều những cảnh đời đa
dạng. Ở đấy, chắc cũng có
rất nhiều người đang tự
hỏi họ sẽ sống ra làm sao đây. Làm
sao tôi có thể trả lời, chỉ biết
nhắm mắt nghe hai mi nằng nặng, tôi
phải khuyên cô, phải t́m cho cô một
lối thoát, chắc chắn là như thế, nhưng
lúc này đây, tôi chẳng biết nói ǵ. Đầu
óc lơ mơ, nghĩ đến một
chuyến trở về rồi lại ra đi hay
một chuyến mà tôi ra đi khỏi nơi
chốn b́nh yên của xứ Úc và bây giờ
trở về, tôi cũng thật chẳng
biết. Lúc này đây, tôi chỉ biết ḿnh
đang ứa những giọt nước
mắt khóc theo cô bạn mới quen. Sài G̣n
ơi, chào nhé.