|
|

Thăm Côn Đảo và suy ngẫm
về cuốn Thi tù tùng thoại của
Huỳnh Thúc Kháng
Quốc thổ trầm
luân dân tộc tụy
Nam nhi hà phạ sự Côn Lôn !
Phan Châu Trinh
Đất nước chơi
vơi ṇi giống khổ
Thân trai nào sá chuyện Côn Lôn !
V.S.
dịch
Vĩnh Sính
Mính Viên Huỳnh Thúc Kháng đã gom góp những bài thơ và
chuyện của anh em bạn tù chính trị phạm và cùng tội trong
13 năm (1908-1921) bị đày ở Côn Đảo để viết nên cuốn
Thi tù tùng thoại
詩囚叢話.
Có thể gọi nôm na tên cuốn sách là Những bài thơ và
những chuyện trong nhà tù Côn Đảo.
Chính thiên tù sử này là lý do chúng tôi ra viếng thăm Côn Đảo
vào cuối tháng bảy năm 2002. Mấy ngày trước khi ra lên đường,
chúng tôi đă nghiền ngẫm từng bài thơ cùng những lời giải thích súc
tích của Mính Viên. Sau khi ra đảo viếng thăm tận mắt những nhà
giam, nơi tù nhân đập đá ngày trước, v.v. rồi chiều tối về ngồi đọc
lại từng chương, chúng tôi mới thấm thía ư nghĩa của cuốn sách.
Thi tù tùng thoại quả là một tư liệu văn học và lịch sử hiếm
có!
Thi tù tùng thoại
đă được cụ Huỳnh Thúc Kháng biên soạn bằng Hán văn và do chính
tay tác giả dịch ra chữ quốc ngữ — một hiện tượng quá ư độc đáo.
Nguyên tác Thi tù tùng thoại đă bị tịch thu và thiêu hủy khi
cụ Huỳnh được trả tự do về lại đất liền năm 1921. Sau đó, trong thời
kỳ làm báo Tiếng Dân ở Huế, cụ đă dựa theo kư ức viết lại
cũng bằng chữ Hán, rồi tự ḿnh dịch ra quốc ngữ. Theo cụ, bản dịch
sang tiếng Việt “tinh thần ư tứ không bằng nguyên văn, nhứt là về
thi văn th́ dịch mười phần không được năm, sáu; song không mất bản
ư”.
Trước hết, chúng tôi xin trình bày về chuyến đi.
*
*
*
Chúng tôi ra thăm Côn Đảo trong một chuyến đi hai đêm ba ngày do
công ty Saigon Tourist tổ chức. Vào mùa đó v́ sóng biển hăy c̣n lớn
nên đường giao thông ra đảo bằng tàu thủy phải tạm ngưng. Phương
tiện duy nhất là đi bằng máy bay trực thăng từ Vũng Tàu, mỗi tuần có
một chuyến và mỗi chuyến chỉ đủ chỗ vỏn vẹn cho 25 người. Bởi vậy,
du khách phải đặt mua vé trước cả tháng mới mong kiếm ra chỗ.
Chuyến đi do Saigon Tourist phụ trách chính thức khởi hành từ sân
bay Vũng Tàu và cũng chấm dứt tại đó. Hành khách tự lo phương tiện
chuyên chở đến Vũng Tàu và tụ họp ở sân bay vào 7 giờ rưỡi sáng. Để
kịp máy bay, hôm khởi hành, từ Sàig̣n chúng tôi lấy chuyến tàu cao
tốc cánh ngầm đi Vũng Tàu sớm nhất lúc 6 giờ 15. Sau khi tàu cập
bến, tất tả t́m xe ôm, đến sân bay th́ hành khách đă bắt đầu làm thủ
tục kiểm tra và chúng tôi là người khách lên máy bay cuối cùng.
Ngồi vào chỗ và thắt dây an toàn xong xuôi tôi mới thấy hú vía: suưt
chút nữa th́ tôi đă trễ giờ, bỏ mất chuyến đi mà chúng tôi hằng
mong đợi bấy lâu nay!
Đúng 8 giờ, máy bay cất cánh. Quạt máy bay đánh b́nh bịch. Vài khách
yếu bóng vía đưa mắt nh́n nhau như có vẻ lo ngại. “Ối giời! Phi
công ta lái ngon lắm!”, người khách trung niên ngồi ở hàng ghế trước
nói như để trấn an những hành khách mới đi máy bay trực thăng lần
đầu, trong đó có chúng tôi. Mà quả đúng như thế, người phi công đă
lái rất đằm và vững vàng trong suốt chuyến bay, ngay cả khi lên
xuống.
Từ máy bay nh́n xuống đất liền trông rất rơ. Những cánh đồng xanh
mướt, những ḍng sông con nước — chi nhánh của sông Tiền và của quê
miền Đông đất đỏ — hiện ra mồn một. Lẫn trong tiếng quạt b́nh bịch
liên hồi, từ dưới đất liền dường như đang vọng lên những lời ca rạo
rực mà từ lâu đă lắng sâu trong kư ức của chúng tôi:
Cây lúa non chờ
từng cơn mưa nhỏ
Cây lúa
trổ chờ nước đổ trên nguồn
... Con nước
trong về miền Đông con nước đỏ
Sông
nước đỏ dào dạt vỗ quanh bờ...
Trần Long Ẩn, “Tình đất
đỏ miền Đông”
Một giây phút trộn lẫn hư và thực, giữa quá khứ với hiện tại — một
thoáng t́nh quê “miền Đông đất đỏ” đậm đà!
*
Chiếc trực thăng bay trên đất liền từ Vũng Tàu cho đến Trà Vinh, sau
đó mới quay ra biển theo hướng Đông-Nam. Khoảng 9 giờ 15, máy bay
đáp xuống sân bay Cỏ Ống trên Côn Đảo.
Từ sân bay về đến khách sạn Saigon Tourist (khách sạn độc nhất trên
đảo lúc bấy giờ) khoảng chừng 12 cây số. Chiếc xe ra đón đưa
chúng tôi đi qua những con đường đất đỏ ven biển xanh. Côn Đảo, nói
chính xác, là một quần đảo gồm 16 ḥn đảo lớn nhỏ có tổng diện tích
là 76 km vuông, đảo lớn nhất ngày xưa gọi là Côn Lôn nhưng ngày nay
cũng mang tên là Côn Đảo. Từ năm 1991, quần đảo được gọi chung là
huyện Côn Đảo, thuộc tỉnh Bà Rịa — Vũng Tàu. Dân số trên đảo hiện
nay có khoảng 3.200 người. Khách sạn ở vào khoảng giữa bờ biển vịnh
Đông Nam (tức vịnh Côn Đảo).
Băi tắm nằm ngay bên kia đường trước khách sạn cát mịn và không có
đá ngầm. Về đêm thủy triều xuống rất nhanh, nước rút cạn khỏi bờ đến
mấy trăm mét, để lại đây đó trên băi cát c̣n ủng nước những con cá,
con mực không kịp bơi theo nước thủy triều.

“Cầu lịch
sử 914”
Đứng từ bờ biển ban đêm nh́n cảnh trăng lên, hay nh́n cảnh mặt trời
lố dạng trên biển ở chân trời vào lúc tảng sáng phải nói là đẹp
tuyệt vời. Một vùng trời nước mênh mông, không hổ danh là quần đảo
tiền tiêu ở Đông Nam của đất nước, “nguy nga đứng trấn giữa biển
Đông” (Đại Nam nhất thống chí).
Thật khó tưởng tượng là ngay bên cạnh băi tắm thanh b́nh ấy là chiếc
“Cầu tàu lịch sử 914”, tương truyền nơi đây 914 tù nhân lao động khổ
sai đă bỏ ḿnh trong quá tŕnh đập đá xây cầu vào cuối thế kỷ XIX.
Đến giờ ăn chúng tôi mới hay là trong số 25 hành khách đến Côn Đảo
lần này, ngoài chúng tôi ra chỉ có hai người khác là du khách, c̣n
lại là công nhân viên đi công tác và những người tháp tùng bà Tổng
Lănh sự Cuba ở Sài Thành ra thăm đảo.
Nhằm tiện việc dọn ăn 3 bữa mỗi ngày, nhà bếp khách sạn “chủ động”
xếp 3 du khách chúng tôi thành một “đoàn” — ăn một lần và ngồi cùng
bàn. Hai người du khách khác là hai bố con. Ông cụ người Nghệ, hồi
c̣n trẻ “vô” Huế học trường nhà ḍng Pellerin, năm 17 tuổi theo
tiếng gọi của “Mùa Thu rồi ngày hăm ba” đi bộ đội, đánh Tây rồi sau
đó đánh Mỹ trên nhiều chiến trường, nay đă nghỉ hưu. Cô ái nữ, sinh
và lớn lên ở Hà Nội, theo cơ quan vào Nam công tác đă lâu nhưng vẫn
giữ giọng nói và cung cách của cô gái Hà Thành. Tuy đă có gia đ́nh
nhưng v́ chữ hiếu nên cô mới “tranh thủ dàn xếp thời giờ đưa bố đi
chơi để bố vui trong tuổi già”. Nghe lời giải thích của cô, bất chợt
chúng tôi thấy ấm ḷng. Cô con gái đúng là biết chiều bố tối đa:
trước bữa cơm trưa và cơm chiều, cô đặt trước với nhà bếp những món
đặc sản để bố thưởng thức cho biết — nào cá hàm hương, nào bào ngư,
nào ốc tai tượng, v.v. Cô có đặt cả món yến sào và vích nhưng những
thứ này h́nh như nay thuộc dạng không được phục vụ. Món nào đắt hơn
giá Saigon Tourist quy định cho bữa ăn của đoàn, dĩ nhiên chúng tôi
trả thêm phụ thâu. Thức ăn toàn là đồ hải sản và rau ráng trồng trên
đảo, ngoài món miến gà phục vụ buổi sáng th́ hầu như không có thịt
thà — đúng y chang tiêu chuẩn mốt dinh dưỡng trên thế giới bây giờ!
Điều khá kỳ thú th́ những đặc sản ngày nay cũng na ná những sản vật
của Côn Đảo mà người xưa miêu tả trong Đại Nam nhất thống chí:
“Đảo ấy sản xuất yến sào, đồi mồi, vích, quế, cá hàm hương, trai
[ốc] tai tượng, các thức đồ ăn, tuyệt không có ǵ khác”.
Đầu bếp nghe nói tốt nghiệp lớp nấu ăn phục vụ du lịch ở Sàig̣n nên
cách bày biện thức ăn cũng rất mực trang nhă.
Chương tŕnh tham quan trên đảo cũng do Saigon Tourist xếp đặt, và 3
du khách chúng tôi đi thành một đoàn riêng. Địa điểm tham quan trước
tiên của chúng tôi là “địa ngục trần gian” — những trại giam từ thời
Pháp thuộc cho đến năm 1975.
Hệ thống trại giam thời Pháp gồm có Banh (bagne) I, Banh II,
Banh III, Banh III Phụ, “Chuồng cọp” (được gọi như vậy v́ trên trần
không có song sắt giống như chuồng cọp), và “Biệt lập (cellule
solitaire) chuồng ḅ” có pḥng giam thông với hầm phân ḅ. Nhà
giam thời chính quyền miền Nam có các trại mang số từ 5 đến 9, Trại
7 c̣n gọi là trại Phú B́nh hay “Chuồng cọp kiểu Mỹ”. Hệ thống nhà tù
Côn Đảo qua hai thời kỳ có tất cả 127 pḥng giam, 42 xà lim, và 504
pḥng “biệt lập chuồng cọp”.
Sau khi tham quan khu trại giam, chúng tôi viếng thăm “cầu Ma Thiên
Lănh” ở dốc đèo Ông Đụng trên núi Chúa — ngọn núi cao nhất trên đảo.
Cùng với “Cầu tàu lịch sử 941”, “cầu Ma Thiên Lănh” là nơi nghe nói
hàng trăm tù nhân đă ngă ḿnh. Ma Thiên Lănh lấy từ tên một ngọn núi
nổi tiếng ma thiêng nước độc, hiểm ác ở Triều Tiên trong truyện Tàu
Tiết Nhơn Quí chinh Đông.
Nghĩa trang Hàng Dương, với diện tích chừng 20 ha, là nơi yên
nghỉ của không biết bao nhiêu chí sĩ đă bỏ ḿnh trên Côn Đảo trong
suốt hơn 110 năm tính từ lúc Pháp bắt đầu xây nhà tù trên đảo vào
năm 1862. Nghĩa trang được chia làm 4 khu A, B, C, D; những phần mộ
có hai loại: mộ có tên và mộ khuyết danh. Lần theo lối đi trong
nghĩa trang, du khách bắt gặp bia mộ mang những tên quen thuộc như
Nguyễn An Ninh, Lê Hồng Phong (khu A), hay Vơ Thị Sáu (khu B).
Mộ “chị” (ra Côn Đảo ai cũng gọi như vậy) Vơ Thị Sáu khói hương
nghi ngút, người đến viếng đặt cúng dưới bia mộ chị rất nhiều gương
và lược. Hỏi ra mới biết là khi bị bắt ở Bà Rịa chị chỉ có 17 tuổi,
chính quyền thuộc địa đợi chị đến tuổi thành niên mới mang ra Côn
Đảo để hành quyết. Chị nổi tiếng linh thiêng.
Trong dân gian trên đảo và h́nh như khắp miền Bà Rịa — Vũng Tàu quê
chị, có nhiều chuyện kể về sự hiển linh của chị. Cô hướng dẫn viên
cho biết là trước phần mộ chị nguyên có trồng cây dương, khi lớn lên
thân cây đâm thành hai nhánh, một nhánh ngă về Nam một nhánh nghiêng
về Bắc; nhưng đến năm 1976 cây dương đột nhiên khô héo có lẽ v́ giấc
mơ thống nhất Nam Bắc của dân tộc đă trở thành hiện thực. Ở gốc cây
dương ngày trước, nay là cây lê-ki-ma đầy cành lá xanh tươi. Trong
nghĩa trang có một loài hoa dại rất đẹp, sắc vàng và hồng rực rỡ,
mọc khắp đó đây. Được biết hoa có tên là “nữ hoàng” v́ hoa giống hệt
như chiếc vương miện của các nữ hoàng. Điều lạ là hoa nữ hoàng chỉ
thấy trong nghĩa trang Hàng Dương chứ không thấy ở nơi nào khác.
Ngày thứ hai trên đảo, chúng tôi đi xem cảng Bến Đầm
nằm về phía Tây Nam của đảo. Trong cảng có trạm thu mua những hải
sản mới đánh về để ngư dân khỏi mất công vào Vũng Tàu. Tṛ chuyện
với một hai ngư dân đang ngồi nghỉ trên cầu tàu, được biết phần đông
ngư dân là người B́nh Thuận — một chi tiết khá lư thú v́ 225 năm
trước đây, khi viết về đường lối kinh doanh của chúa Nguyễn đối với
các đảo ở biên thùy phương Nam, nhà bác học Lê Quư Đôn cũng đă đưa
ra nhận xét tương tự trong Phủ biên tạp lục : “Họ Nguyễn lại
đặt đội Bắc Hải, không định số người, hoặc là người thôn Tứ Chính ở
B́nh Thuận, hoặc người xă Cảnh Dương [Ṛn], có ai t́nh nguyện th́
cấp giấy sai đi, ... cho đi thuyền câu nhỏ ra các xứ Bắc Hải, cù lao
Côn Lôn và các cù lao ở Hà Tiên, t́m lượm vật của tàu [đắm] và các
thứ đồi mồi, hải ba, bào ngư, hải sâm ...”.
Miếu An Sơn thờ bà hoàng phi Yến, thứ phi của vua Gia Long, cũng là
nơi nổi tiếng linh thiêng đối với dân chúng địa phương. Theo lời
thuyết minh của cô hướng dẫn, “ngày xưa vua Gia Long phải bôn
ba trong những ngày ‘tẩu quốc’, để bà hoàng phi cùng ông hoàng
Cải ở trên đảo. Ông hoàng Cải chẳng may bị bệnh đậu mùa
mất sớm, bà hoàng phi bị người đời trách móc. Bởi vậy
mới có câu ca dao là:
Gió đưa cây cải về trời,
Rau răm
ở lại chịu lời đắng cay.”
“Cây cải” là vì ông hoàng tên Cải, còn “rau răm” là gì? Quên
hỏi cô hướng dẫn, chúng tôi tự hỏi “Hay bà hoàng phi có tên
cúng cơm là Răm?” Bà hoàng phi Yến và chị Võ Thị Sáu là
hai nhân vật được dân gian sùng bái nhất trên đảo.
Xa xa là sở rẫy An Hải, nơi ngày xưa nhà chí sĩ Phan
Châu Trinh ở non 3 năm. Cụ Phan “khi mới ra giam tạm ở khám
trong banh... tham biện cho ra ở ngoài làng An Hải”. Phan
“chính là một người đầu tiên trong bộ sử Côn Lôn quốc sự
tù!”
sau vụ Dân biến ở miền Trung (1908). Ở làng An Hải, cụ được
“tự do..., mỗi tuần lễ, ngày chủ nhật, tới nhà giấy
gardien-chef trình diện một lần mà thôi.”
Sau Phan Tây Hồ tiên sinh, các cụ Ngô Đức Kế, Huỳnh Thúc Kháng, Đặng
Nguyên Cẩn cùng hàng chục thân sĩ khắp ba miền Bắc Trung Nam bị kết
án chính trị đày ra đảo và giam ở Banh I. H́nh của các nhà chí sĩ
duy tân bị đày trong đợt này nay được trưng bày chung trong Nhà Bảo
tàng lịch sử Côn Đảo. V́ nghe tên tuổi của các vị tiền bối này từ
ngày mới cắp sách đến trường và đọc thơ văn họ đă có mấy mươi năm
nay, khi nh́n h́nh phóng đại của họ trên tường, chúng tôi không
khỏi xúc động và có ảo giác như gặp người quen biết từ lâu.
*
Trong Thi tù tùng thoại, Mính Viên Huỳnh Thúc Kháng cho biết
là ngay buổi chiều ngày cụ cùng bảy thân sĩ khác mới bị đày ra tới
Côn Đảo, cụ Tây Hồ Phan Châu Trinh đă t́m cách động viên bằng cách
cho người ném lá thư buộc vào viên gạch qua khung cửa sổ nhỏ lưới
sắt. Lá thư có nội dung như sau : “Thoạt nghe tin anh em ra đây, dậm
chân vang trời một tiếng! Đoạn, tự nghĩ rằng anh em v́ quốc dân mà
hy sinh đến phải ra đây, chắc là có trăm điều vui mà không chút ǵ
buồn. Đây là một trường học thiên nhiên, mùi cay đắng trong ấy, làm
trai giữa thế kỷ XX này không thể nào không nếm cho biết...”.
Điều đáng chú ư là vào khoảng thời gian cụ Huỳnh viết lại tác phẩm
Thi tù tùng thoại nhằm đăng tải thành từng tiết trên báo
Tiếng Dân, Sào Nam Phan Bội Châu đang bị giam lỏng ở Huế cũng đă
dựa trên kư ức để viết Phan Bội Châu niên biểu (tức Tự
phán) — có lẽ cũng do gợi ư của Mính Viên chứ không ai khác.
Trong bài tựa viết cho cuốn tự truyện của Sào Nam, cụ Huỳnh cũng đă
nhận xét : “Tập này cụ [Sào Nam] viết nguyên văn chữ Hán và tự dịch
[miệng] ra quốc văn, tinh thần Hán văn mười phần th́ bản quốc văn
được độ năm phần (v́ cụ không sở trường quốc văn và không th́ giờ mà
chữa, nên không được trơn), song chính ư th́ không sai”.
Giỏi chữ quốc ngữ như cụ Huỳnh mà c̣n than là bản dịch quốc ngữ do
chính tay cụ dịch về “tinh thần ư tứ không bằng nguyên văn”, huống
hồ là cụ Sào Nam sống ở hải ngoại gần hai mươi năm trong thời kỳ chữ
quốc ngữ vừa mới bắt đầu truyền bá trong nước, th́ việc chênh lệch
về văn chương giữa hai bản Phan Bội Châu niên biểu chữ Hán và
chữ Việt cũng là chuyện dễ hiểu.
Điều cần thấy rơ là đối với thế hệ của các cụ Huỳnh Thúc Kháng
(1876-1947), Phan Châu Trinh (1872-1926), hay Phan Bội Châu
(1867-1942), v.v. khi viết thơ văn — viết bằng văn xuôi hoặc văn
vần —, Hán văn vẫn là ngôn ngữ các cụ quen dùng lâu ngày khi viết
lách nên dễ diễn đạt hơn quốc văn. Bởi vậy không phải ngẫu nhiên mà
phần lớn thơ văn trong Thi tù tùng thoại đă được sáng tác
bằng Hán văn.
Hiện tượng tương tự cũng đă xảy ra vào đời Minh Trị ở Nhật Bản. Tuy
ở nước Nhật ngày nay tương đối ít người viết sách bằng tiếng Anh
các sách khoa học nhân văn và xã hội, nhưng vào thời Minh Trị
có một lớp trí thức người Nhật viết tiếng Anh giỏi hơn tiếng Nhật
về loại này. Nhân vật điển h́nh là Okakura Kakuzô (岡倉角三Cương-Thương
Giác-Tam; 1862-1913), bút hiệu là Tenshin (天心Thiên-Tâm)
và tác giả của những tác phẩm nổi tiếng như The Ideals of the
East (Lư tưởng Đông phương; 1903), The Book of Tea (Cuốn
sách về trà; 1906), v.v... Tenshin cũng đă viết những trước tác nổi
tiếng của ḿnh bằng tiếng Anh, có điều là những trước tác này do
người khác dịch sang tiếng Nhật chứ không phải do chính tay Tenshin.
V́ Thi tù tùng thoại do chính tay Huỳnh Thúc Kháng — vừa là
một túc nho và cũng là một kiện tướng trên luận đàn chữ quốc ngữ —
dịch từ Hán văn ra quốc văn, ngoài khía cạnh văn học và lịch sử,
đối chiếu và phân tích nguyên bản với bản dịch cũng là một đề tài
nghiên cứu ngữ văn lư thú nhằm t́m hiểu thêm về mối liên hệ giữa Hán
văn và chữ quốc ngữ trong buổi giao thời.
Thứ đến, Thi tù tùng thoại là tác phẩm đầu tiên ở Việt Nam
về văn học sáng tác trong tù ngục. Cụ Huỳnh giải thích: “Ở Âu Mỹ
không nói, nói riêng về phương Đông như sử duy tân khẳng khái của
Nhật Bản, cách mạng sử của Trung Hoa sau cuộc Mậu Tuất chánh biến, ở
trong có chép nhiều thi của bọn tù, không sao kể hết. Nước ta sau
cuộc dân biến năm 1908 về sau có nhiều thi của tù, chính là theo lệ
chung đời mới nói trên”.
Trong Thi tù tùng thoại, Mính Viên đă ghi chép rất mực khách
quan và có lớp lang, thơ văn cùng những mẩu chuyện “tai nghe mắt
thấy toàn là chuyện thiệt, khởi đầu năm 1908 đến năm 1921”,
của một số bạn chính trị phạm (ngày trước gọi là “quốc sự phạm”).
Cách đây hơn 30 năm, bàn về ư nghĩa của Thi tù tùng thoại,
nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Xuân đă đưa ra nhận xét là độc giả “chỉ
cần đọc qua tập này, cũng có thể biết các diễn tiến cách mạng Việt
Nam cũng như suy tư và t́nh cảm của các nhà cách mạng thời ấy, đặc
biệt là của nhóm Duy Tân”.
Quả đúng như vậy, ư chí bất khuất, tinh thần lạc quan cũng như những
thao thức t́nh cảm của các nhà nho yêu nước vào đầu thế kỷ XX được
biểu lộ đậm nét qua thơ văn sưu tập trong sách.
Phan Châu Trinh có lẽ là chí sĩ có tiếng nói dơng dạc nhất — trong
đời thường cũng như qua thơ văn. Sau phong trào Dân biến miền Trung,
cụ Tây Hồ bị bắt ở Hà Nội và đưa về giam ở Hộ Thành, Huế, v́ bị t́nh
nghi chủ xướng phong trào và tư thông với “người bội quốc là Phan
Bội Châu”. Một hôm, người ta dẫn cụ ra khỏi nhà giam, đến cửa Thượng
Tứ cụ mới biết là ḿnh bị kêu án đày ra Côn Đảo! Ngay trong giây
phút đó, Tây Hồ tiên sinh đă khẩu chiếm bài thơ với lời lẽ khẳng
khái hiên ngang như sau:
|
|
Luy luy già tỏa xuất Đô môn
Khẳng khái bi ca thiệt thượng tồn
Quốc thổ trầm luân dân tộc tụy
Nam nhi hà phạ sự Côn Lôn!
Gông xiềng lẻng kẻng biệt Đô môn,
Khẳng khái ngâm nga lưỡi vẫn c̣n,
Đất nước chơi vơi ṇi giống khổ
Thân trai nào sá chuyện Côn Lôn!
V.S. dịch |
|
Cụ Mính Viên
căn tính ôn ḥa điềm đạm, nhưng cũng khẳng khái, bất khuất (theo
phong cách riêng của cụ) không kém một ai. Mặc dầu sống trong cảnh
cá chậu chim lồng, cụ lấy thơ văn làm bạn lữ, lập một “thi đàn” nhằm
biến lao tù thành một “trường học thiên nhiên” cho chính ḿnh và cho
bạn tù. Cụ viết : “Đến như cảnh tù, trăm đều tự do không c̣n một
chút ǵ, đến cái xu xác cũng không phải của ḿnh, chỉ lưa
có một chút tự chủ về tinh thần mà muốn an ủy cho tinh thần th́ ‘thi
văn’ lại là món tu dưỡng rất thích hợp. Vậy tôi dám nói : ‘Ở tù mà
dùng thi văn làm món di dưỡng tinh thần, không pḥng hại ǵ mà sự bổ
ích rất rơ ràng’. Trong trường học thiên nhiên 13 năm... cả bọn đồng
thời với tôi, cả thân sĩ cho đến người dân, kẻ chết không nói, người
c̣n mà được tha về, vẫn giữ được tấm ḷng không thay đổi. Biết đâu
không nhờ món nuôi tinh thần đầm thấm đó mà không tự biết”.
Cũng cần nói thêm là trước khi bị đày, cụ Huỳnh v́ theo lối học cử
nghiệp ngày trước nên không biết tiếng Pháp. Khi ra đảo, cụ “mang
theo một quyển Pháp Việt từ điển của Trương Vĩnh Kư, một
quyển Lecture– langage, và một quyển mẹo (Grammaire)...
Sau lại mua thêm một ít sách Lecture và sách mẹo, cùng một
bản “L’histoire nationale Française” cùng nhau nghiên
cứu”. Các cụ “học bằng con mắt với cái năo, nên nghe và nói tiếng
Tây hay sai vận và không được lanh lẹ; song đọc sách hiểu nghĩa, đặt
câu và phiên dịch, biết được đại khái”.
Khả kính thay chí tiến thủ, tinh thần hiếu học, và thái độ lạc quan
yêu đời của Huỳnh Thúc Kháng cùng các nhà nho duy tân vào đầu thế kỷ
XX!
Về mặt t́nh cảm, Thi tù tùng thoại cũng có nhiều bài thơ khóc
bạn, hoặc những bài nói lên ḷng thương cha nhớ mẹ, quyến luyến vợ
con rất cảm động. Cụ Huỳnh viết : “Sanh ly đă khổ, lại dồn cái buồn
tử biệt, người không phải cây đá, huống bạn chúng tôi là hạng người
đa t́nh”.
“Đa t́nh” ở đây dĩ nhiên có nghĩa là “nhiều t́nh cảm”, chứ không
phải là có nhiều quan hệ yêu đương.
Lấy ví dụ, cụ Tập Xuyên Ngô Đức Kế quê Hà Tĩnh, ở nhà c̣n ông bà cụ
già, nhân có cai tù nhờ làm thơ gửi biếu cha già, cụ đă kư thác tâm
sự của ḿnh qua bài thơ có những gịng xúc động như sau:
|
Vân hàm trân trọng kư diêu thiên,
Vân thị
giai âm đạt phụ tiền,
Ngă diệc
thần hôn tâm thái cấp,
Vi quân
đề băi bội san nhiên.
Tờ mây trân trọng gởi thăm nhà,
Rằng chữ b́nh yên kính chúc cha,
Chiều sớm ta cùng ḷng mến ấy,
Viết xong giọt lệ chứa chan sa ! |
|
|
Bài thơ trên đây khiến chúng
tôi
liên tưởng đến những vần thơ tuyệt mệnh viết trong ngục Noyama (野山Dă-Sơn)
của Yoshida Shôin (吉田松陰Cát-Điền
Tùng-Âm; 1830-59)
—
người đi đầu trong vận động lật đổ Tokugawa bakufu mà kết quả
là nước Nhật đă hồi sinh qua sự nghiệp Minh Trị Duy tân. Tựa như thi
đàn của Huỳnh Thúc Kháng cùng các bạn tù trên Côn Đảo, trong ngục
Noyama tù nhân cũng tổ chức một thi đàn do nhà thơ Yoshimura Zensaku
(吉村善作Kiết-Thôn
Thiện-Tác)
hướng dẫn. Shôin có bài thơ waka (和歌Ḥa-ca,
tức thơ Nhật) gửi phụ thân nổi tiếng như sau :
Oya omou
Ḷng thương nhớ cha mẹ
Kokoro ni masaru
C̣n hơn thế nữa
Oya-gokoro
Là ḷng cha mẹ thương con
Kyô no oto-zure
Tin dữ hôm nay
Nan to kikuran
[Cha mẹ tôi] sẽ đón nhận ra sao?
Dịch thơ:
Tấm ḷng con nhớ
song thân,
Làm sao sánh được t́nh thâm nghĩa dày,
Khi
nghe tin dữ hôm nay,
Song
thân sẽ nghĩ sao đây bây giờ?
V.S.
dịch
So với những gịng thơ của cụ Tập Xuyên Ngô Đức Kế, ngôn ngữ diễn tả
t́nh cảm trong bài thơ trên đây có vẻ tỉnh táo và hơi bị kiềm chế.
Lư do là Shôin xuất thân trong một gia đ́nh samurai (vơ sĩ)
nền nếp, đă quen kiềm chế những xúc động t́nh cảm. Người ta kể rằng
hồi bé có lúc Shôin đang ngồi học, vói tay găi chỗ ngứa sau lưng, bị
bố cho ăn đ̣n một trận và quở trách v́ “đă là samurai th́ mấy
việc nho nhỏ như vậy phải tập chịu đựng cho quen!” Sở dĩ Shôin chỉ
viết “Song thân sẽ nghĩ sao đây bây giờ ?” khi nghe tin ḿnh bị hành
quyết trong bài thơ tuyệt mệnh, chứ không nói “Song thân chắc sẽ đau
buồn lắm”, v.v. chính là v́ vậy. Tuy nhiên, ḷng thương nhớ và lo
lắng cho cha mẹ, gia đ́nh, hay cho vận nước của những người tù quốc
sự ở ngục Noyama hay ở Côn Đảo th́ chắc chắn là trên căn bản không
có ǵ khác nhau.
Ngoài ra, dẫu cách làm thơ tuy có khác, nhưng chắc hẳn thi đàn ở
ngục Noyama cũng giống như thi đàn trong nhà ngục trên Côn Đảo, nhắm
mục đích là tu dưỡng tinh thần và ư chí của tù nhân.
*
*
*
Chuyến ra thăm Côn Đảo tuy chỉ có ba ngày, nhưng đã để lại
trong chúng tôi không biết bao nhiêu kỷ niệm khó quên. Ra đảo,
chúng tôi mới thấm thía ư nghĩa của Thi tù tùng thoại. Quả
là một cuốn sách hiếm có ở nước ta!
Viết lại xong vào thượng tuần tháng 11 năm 2010
Xem Mính
Viên Huỳnh Thúc Kháng,Thi tù tùng thoại (Saigon: Nxb
Nam Cường, 1951), trang
8 [phần
đầu trong sách không đánh số trang].
Quốc
sử
quán triều
Nguyễn
biên soạn,
Đại
Nam nhất
thống
chí, nguời
dịch
Phạm
Trọng
Điềm,
người
hiệu
đính
Đào Duy Anh (Huế:
Nxb Thuận
Hóa, 1992), tập
5,
trang
154-155.
Phủ biên tạp lục,
quyển
2, in lại trong Lê Quư Đôn toàn tập,
tập I (Hà Nội: Nxb Khoa học Xă hội, 1977), trang 120.
Huỳnh Thúc Kháng, Phan Tây-HồTiên-sinh lịch sử
(Huế: Nxb Anh Minh, 1959), trang 24.
Xem Mính Viên Huỳnh Thúc Kháng,Thi tù tùng thoại,
trang 42.
“Bài tựa của cụ Huỳnh Thúc Kháng”, trong Tự phán –
Lịch sử cách mạng của Phan Sào Nam do tay cụ tự viết
(Huế: Nxb Anh Minh, 1956), trang x.
Xem Mính Viên Huỳnh Thúc Kháng, Thi tù tùng thoại,
trang 10 [phần đầu trong sách không đánh số trang].
Nguyễn Văn Xuân, “Văn học miền Trung”, tạp chí Tân Văn
(Sàig̣n), tháng 5-6 (1968).
Phương ngữ miền Trung, có nghĩa là “còn”.
Huỳnh Thúc Kháng, “Bài tựa sau”, Thi tù tùng thoại,
trang 272.
|
|