|

SAIGYÔ HÔSHI
(1118-1190):
Thi sĩ tài
hoa yêu phiêu du của Nhật Bản
Ngoài song hoa nở - hoa lilac,
Tím ngát chân trời, tím ngát ai
Đầu tháng 6 , năm 2010
Vĩnh Sính
Vào hậu bán thế kỷ XII,
sau gần bốn mươi năm tranh hùng giữa hai họ Taira và họ
Minamoto, họ Minamoto nắm được phần toàn thắng. Với sự ra
đời của chính quyền võ sĩ/vũ sĩ (samurai) ở Kamakura
do Minamoto-no-Yoritomo lãnh đạo vào năm 1185, lần đầu tiên
trong lịch sử Nhật Bản có hai chính quyền tồn tại
song song. Chính quyền của giai cấp võ sĩ đóng ở Kamakura
gọi là bakufu (幕府mạc
phủ;
nói nôm na là “chính phủ/chính quyền quân sự”), còn
triều đình thiên hoàng vẫn ở Kyoto giống như trước. Đây là
một sự kiện vô cùng trọng đại vì trên nguyên tắc shôgun
(将軍tướng
quân)
đặt dưới quyền của thiên hoàng và do thiên hoàng bổ nhiệm
(Minamoto-no-Yoritomo nhận chức Shôgun năm 1192), nhưng trong
thực tế shôgun mới thật là người có nhiều quyền
bính nhất ở Nhật Bản. Cơ chế hai chính quyền tồn
tại song song này kéo dài gần 700 năm — mãi cho đến Minh Trị
Duy Tân (1868) thì mới chấm dứt.
* * *
Nửa phần sau cuộc đời
của Saigyô trùng hợp với giai đoạn nhiễu nhương của thế kỷ
XII. Saigyô chứng kiến những đổi thay trong cuộc tranh hùng
giữa hai họ Minamoto và Taira và sự ra đời của chính quyền
giai cấp võ sĩ. Nhưng không phải vậy thôi, chính Saigyô là
dòng dõi của Fujiwara Hidemoto (藤原秀郷,
Đằng-nguyên Tú-hương), samurai/võ sĩ có công trạng trong cuộc
đánh dẹp họ Taira.
Trước hết, vì sao lại
gọi là Saigyô Hôshi (西行法師Tây
Hành Pháp sư)? “Saigyô/Tây Hành” lấy từ chữ “Tây phương
tịnh độ”, tức là “Tây phương cực lạc” hay “Cực
lạc tịnh độ” của Phật A Di Đà — luôn nguyện cầu
để được đi về thế giới Tây phương.
“Hôshi/Pháp sư” có nghĩa là người xuất gia, vị thầy thông
thạo giáo pháp.
Cũng ở trong nghĩa Phật giáo đó, chúng ta thường gọi là
“Thầy” trong tiếng Việt. Như vậy, Saigyô Hôshi có nghĩa là
“Thầy Saigyô”.
Saigyô vốn tên thật là
Satô Norihide (佐藤義清Tá-đằng
Nghĩa-thanh), từ nhỏ theo học võ nghệ và trau dồi cung
kiếm. Saigyô làm võ sĩ cận vệ ở nội thành cho Thái thượng
hoàng Toba (鳥羽Điểu
Vũ). Năm 23 tuổi, Saigyô đột nhiên xuất gia và lấy pháp danh
là En’i (円位
Viên Vị).
Cuối đời Heian chiến
loạn triền miên khiến lòng người mất nơi nương tựa. Saigyô
nghĩ rằng nếu là võ sĩ không thôi thì khó lòng cứu vớt
được người khác, nhưng trở thành nhà sư có thể dùng chánh
niệm để dẫn dắt con người khỏi lầm đường lạc lối. Saigyô
xin cắt tóc ở chùa Shôji-ji (勝持寺
Thắng Trì Tự; còn có tên gọi là Hana-no-tera花の寺,
hay Chùa Bông) ở Kyoto.
* * *
Thơ waka
và tiếng gọi ngàn phương
Xuất gia được ít lâu, Saigyô đi lên miền
Ôshû. Ôshû tức là miền Tôhoku ở miền Bắc bây giờ, có khi
người ta cũng gọi là miền Oku. Sau đó, Saigyô ở lại
Hiraizumi (huyện Iwate hiện nay) chừng hai năm. Hiraizumi là nơi
Saigyô có nhiều người thân thích. Saigyô lại đi ngược về
Kôya-san (huyện Wakayama hiện nay) theo để theo học Phật giáo,
theo tông Shingon (真言Chân
Ngôn) do đại sư nổi tiếng Kûkai (空海
Không Hải) bắt đầu ở Nhật Bản vào thế kỷ IX.
Thiết tưởng cũng nên nhắc lại
rằng cuối đời Heian chỉ có tông Shingon và tông Tendai (天台Thiên
Thai) — tông Shingon nguyên chủ yếu để cho giới quý tộc
và tông Tendai cho dòng họ thiên hoàng. Những tông phái khác
như Thiền tông (禅宗)
hay Jôdo (浄土Tịnh
Độ/Tịnh Thổ), Jôdô Shinshû (浄土
真宗Tịnh
Độ/Tịnh Thổ Chân Tông) và Hokke (法華
Pháp Hoa) thì phải bước vào thời Kamakura mới
ra đời. So với Shingon và Tendai, việc giảng dạy kinh kệ và
cách thức tu hành của các tông phái này rất đơn giản, đồng
thời Phật giáo đã rời đi xa giới quý tộc để ăn sâu vào dân
chúng. Nhưng chúng ta cũng nên nhớ rằng Saigyô sinh vào cuối
đời Heian, tông phái Saigyô theo tu học là Shingon và đến
cuối đời của Saigyô mới bước vào đầu thời Kamakura. Sau
nhiều năm loạn lạc, đói kém và thiên tai cuối đời Heian, con
người cảm thấy cuộc thế quá nhiều vật đổi sao dời và sự
“vô thường” của cuộc sống nên có khuynh hướng tìm cách giải
thoát.
Khi xuống núi, Saigyô lại đi về
Kinh (Kyoto) hay các tỉnh miền Nam. Saigyô quyết chí học làm
thơ waka (和歌,
tức “hoà ca”, hay “thơ Nhật”) bắt đầu từ đó. Thơ waka
gồm tanka (短歌
đoản ca, tức thơ ngắn) có 31 âm tiết theo thứ
tự 5-7-5-7-7; và chôka (長歌trường
ca) với số âm tiết không có giới hạn. Cũng nên nói thêm là
thơ haiku (俳句
bài cú) với 17 âm tiết phải đợi đến lúc Bashô
ra đời, tức là khoảng 500 năm sau mới xuất hiện.
Người ta
kể lại rằng một hôm hoà thượng Mongaku (文覚Văn
Giác) quở mắng Saigyô vì thấy Saigyô thích học làm thơ
waka quá đỗi: “Saigyô đã xuất gia thì lo mà tu học, đàng
này lại còn làm thơ rồi đi đây đi đó là nghĩa lý gì?”
Nhưng rồi Hoà thượng thấy Saigyô khi tu học hay khi dấn bước
phiêu du rồi làm thơ waka mà sắc mặt vẫn nghiêm trang
giống nhau, lúc nào cũng có tư thế đúng đắn, không một
chút nào sao lãng. Từ đó, hoà thượng Mongaku đổi hẳn thái
độ đối với Saigyô, không còn quở la như trước nữa.
Ra đi lần cuối
Năm 1186,
cuộc giao tranh Gempei đã chấm dứt. Saigyô mặc dầu tuổi cao
nhưng vẫn lên Hiraizumi gặp Fujiwara Hidehira (藤原秀衝Đằng-nguyên
Tú-xung) là chỗ quen biết ngày xưa để quyên tiền giúp chùa
Todaiji (東大寺Đông
Đại Tự ) ở Nara bị tàn phá sau chiến tranh. Trên đường,
Saigyô ghé đền Tsuruoka Hachimangû ở Kamakura để tham bái, rồi
tình cờ gặp ngay Minamoto-no-Yoritomo, người đã đánh dẹp họ
Taira và sẽ là vị Shôgun đầu tiên năm 1192.
Biết
Saigyô vừa làm thơ hay lại vừa bắn cung giỏi trong “kiếp
trước” — tức là trước khi đi tu — Yoritomo mời
Saigyô đến thăm dinh thất của mình. Tương truyền hai người
trò chuyện về thơ waka mãi cho đến sáng. Khi chia tay,
Yoritomo tặng Saigyô một cái dĩa/đĩa bằng bạc chạm hình con
mèo. Sáng hôm sau, khi Saigyô đi ra khỏi dinh, thấy một con
trẻ đang chơi đùa vui vẻ, Saigyô bèn lấy cái dĩa đó đem cho.
Câu chuyện không biết có thật hay không, nhưng có lẽ muốn
nói lên rằng Saigyô là người muyoku (無欲vô
dục) — đi vượt vòng tục lụy, ham muốn mà người
đời thường có.
Saigyô
Hôshi là một trong ba nhà thơ được yêu chuộng nhất ở Nhật
Bản từ trước đến nay — cùng với Kakinomoto Hitomaro
(柿本人麻呂Thị-bản
Nhân-ma-lữ;
662-710 sau CN)
và Matsuo Bashô (松尾芭蕉
Tùng-vĩ Ba-tiêu;
1644-1694). Chính thơ Saigyô đã tạo những cảm hứng cho
Bashô và không biết bao nhiêu thế hệ sau trong việc làm thơ
và quan niệm về mỹ học.
Chúng ta
thử đọc bài thơ bài tanka (đoản ca) sau đây của Saigyô,
và bài “Cây-liễu-du-hành” của Bashô.
Michi no be
ni/shimizu nagaruru/yanagi kage/shibashi tote koso/tachidomari
tsure.
Dịch nghĩa:
Dưới bóng cây liễu bên
đường, có dòng nước trong veo/Tôi dừng chân lại trong giây
lát.
Dịch thơ:
Lơ thơ cây
liễu bên đàng,
Trong veo dòng nước tần ngần bước chân.
Bài thơ của Saigyô và
cây liễu trở nên nổi tiếng một phần vì dao khúc (謡曲,
tức là bài ca trong tuồng Nô) của vở tuồng Yûgyô yanagi
(Cây-liễu-du-hành) dựa trên bài thơ này. “Cây-liễu-du-hành”
ấy vẫn còn ở trên bờ ruộng ở làng Ashino, huyện Tochigi,
khi Bashô ghé qua và vẫn còn cho đến bây giờ. Bashô đã viết
bài haiku sau đây khi đứng dưới gốc cây liễu đó:
Ta ichimai/uete tachisaru/yanagi
kana.
Dịch nghĩa:
Người ta gieo mạ dưới ruộng/Lúc đó
tôi rời/Cây liễu.
Dịch thơ:
Lơ thơ cây
liễu Tây Hành,
Nông phu cấy mạ tôi đành bỏ đi.

Saigyô (tranh
vẽ của Kikuchi Yosai)

Túp
lều tranh của Saigyô ở Yoshino (huyện Wakayama hiện nay)
Được xem là
người dịch thơ của Saigyô từ tiếng Nhật ra tiếng Anh hay
nhất, Burton Watson đã có nhận xét về Saigyô như sau: “Cái
tên Saigyô xui ta nhớ đến túp lều tranh trên một triền núi,
một người lữ hành cô độc trên quãng đường xa, hay một
nhà-thơ-và-nhà-sư (a Buddhist poet-priest) viết về
cái đẹp của thế giới vô thường, và cũng không bao giờ giấu
giếm rằng mình đang chiêm ngưỡng hoa anh đào hay ánh trăng
trên trời cao”.
Thật là cô đọng !
* * *
Trong
tập Shin Kokinwaka shû (新古今和歌集Tân
Cổ kim hòa ca tập) do Fujiwara Teika (藤原定家
Đằng-nguyên Định-gia), biên soạn do lệnh của thiên hoàng
Gotoba năm 1202, tức là đầu thời Kamakura, Saigyô có đến 94
bài, tức là nhiều nhất trong các thi nhân.
Ngoài ra, Saigyô còn có tập Sankashû (山
家集
Sơn-gia tập). Saigyô còn lại tất cả là 2090 bài thơ. Ba phần
tư của Sankashû là thơ về bốn mùa, một phần tư là thơ
đủ loại đề tài. Cuối cùng, chúng ta thử thưởng thức một
bài thơ về hoa anh đào.
Negawaku
wa/hana no moto/nite haru shinamu/sono kisaragi no/mochizuki no
koro.
Dịch nghĩa:
Nếu được, lúc
trăng tròn mùa Xuân tháng hai (âm lịch) tôi xin được nằm dưới
gốc hoa anh đào. Trăng sẽ tròn vì là khoảng trăng rằm.
Dịch
thơ:
Xuân sang nở
rộ anh đào,
Trăng rằm tỏ sáng bao la đất trời.
Năm 1188,
Saigyô về ở chùa Hirokawa (弘川寺
Hoằng Xuyên Tự) ở Kawachi (河内Hà
Nội; nay thuộc Osaka-fu). Hai năm sau, ngay giữa mùa hoa anh
đào, trong lặng lẽ, Saigyô ra đi vào cõi vĩnh hằng.
|