|

ĐÃ TÌM RA TƯ LIỆU VỀ “NGƯỜI LÂM ẤP SANG NHẬT BẢN”
VÀO THẾ KỶ VIII
–
PHẬT TRIẾT
Vĩnh Sính
Mùa Hè năm 1988, chúng tôi được mời nói chuyện ở
Trường Vạn Hạnh. Trưa hôm ấy trời đang nắng ráo bỗng mây đen
kịt tự dưng kéo đến, bầu trời tối sầm lại; trong khoảnh
khắc một trận mưa như trút nước đổ xuống Sài thành. Người
đi nghe vội vã bước vào sảnh đường, có người còn mang áo
mưa trong người khiến căn phòng trở nên chật ních. Lúc nói
chuyện, chúng tôi cố gắng nói thật lớn để át tiếng mưa.
Thầy Thích Minh Châu sau buổi nói chuyện, đến chào hỏi chúng
tôi. Thầy hỏi về chuyện một người Lâm Ấp sang Nhật Bản đă đóng
góp về âm nhạc vào thời cổ đại. “Nhờ anh khi nào có dịp thì
kiếm
giùm nghe !”
Giọng Thầy chân thành, hồn nhiên và vui vẻ.

Câu chuyện ngỡ đă đi vào quên lăng. Lời dặn dò của
Thầy thì chúng tôi chẳng khi nào dám quên. Khổ nổi đi Nhật
Bản thì thường xuyên, mà tư liệu thì thành thật chúng tôi
không biết phải tìm manh mối từ đâu
–
nước Lâm Ấp ngày xưa ấy biết tìm ở đâu bây giờ ?
Ấy vậy mà vào tháng 3 năm 2005, tình cờ chúng tôi kiếm ra
được người Lâm Ấp đó ! Sau đó, tôi có viết một bài về
chuyện này năm 2006.
Mặc dầu cách trình bày các những tư liệu trong bài ấy
không có vấn đề gì, nhưng việc thêm vào những tài liệu mới
có và việc diễn dịch các tài liệu ấy cùng với việc cập
nhật hoá bài viết, đã thúc giục tôi viết lại bài đó lần
này.
Trong giờ phút này (tháng 4, 2010), chúng tôi vẫn còn nhớ
cảnh sảnh đường hơn 20 năm về trước với bao khuôn mặt thân
thương, và nụ cười vô cùng đôn hậu của Thầy. Chúng tôi mạo
muội viết mấy hàng này trước để kính trình Thầy.
*
Phật Triết
仏哲
sinh trưởng ở Lâm Ấp
林邑,
sang Nhật Bản từ năm 736 với cao tăng người Ấn Độ là Bồ Đề Tiên Na
(菩提仙那Bodhisena,
704-760); chữ “Tiên” này có thể viết là
菩提僊那
.
Phật Triết ít nhất ở Nhật Bản cho đến năm 752 v́ ông đă dự lễ Pháp
hội và nghe tấu vũ nhạc trong buổi đại lễ âm nhạc lịch sử tại chùa
Tôdaiji (Đông Đại Tự) với Bồ Đề Tiên Na là Kaiganshi (開眼師Khai
nhãn sư,
dùng chữ ngày nay tức là Người điều khiển chương
trình /
Master-of-ceremonies).
Chúng ta nói Phật Triết “ít nhất ở Nhật Bản cho đến năm 752”
vì biết chắc chắn là ông có dự Pháp hội và nghe tấu vũ
nhạc năm đó, nhưng có lẽ Phật Triết đă ở Nhật Bản lâu hơn thế
nữa.
Nước Lâm Ấp là vùng đất miền Trung Việt Nam bây giờ.
Đời Tần gọi là nước Lâm Ấp林邑,
qua đời Hán gọi là huyện Tượng Lâm象林,
đến đời Hậu Hán thì độc lập hẳn từ Trung Hoa. Từ đời
Đường trở về sau, người ta thường gọi là Chămpa. Lâm Ấp có
nhiều trầm và đóng vai trò mậu dịch trung chuyển/trung
kế/trung gian giữa Ấn Độ và Trung Hoa.
Từ khoảng năm 758,
cho đến những năm 850, nước Lâm Ấp đổi thành Hoàn Vương, một cái tên
mới rất đổi xa lạ (Phan Rang ngày nay), nằm về phía Nam; sau những
năm 850, Hoàn Vương lại đổi thành Chiêm Thành. V́ những bia mộ sau
thế kỷ IV thường được viết bằng chữ Phạn (Sankrit), chúng ta
có thể phỏng đoán tiếng Lâm Ấp bắt đầu Ấn hóa từ lúc đó.
Phật Triết là nhân vật sống vào một thời đại xa xưa
trên một đất nước không c̣n tồn tại nữa. Tuy vậy, chúng ta cũng
biết chắc chắn rằng từng mảnh đất luống rau của đất nước đó đă
biến thành một phần của non nước Việt Nam ngày nay. Con cháu của
Phật Triết đi đâu, nếu không ở ngay trên chỗ chôn nhau cắt rốn của
mình với những địa danh mới, và cái tên cuối cùng đó chính là Việt
Nam.
Ngược lại ở Nhật Bản, thời đại Nara (710-794)
cũng chính là cao điểm những nỗ lực của người Nhật hầu thu
thập các mô chế chính trị, văn hoá (chữ viết dưới dạng chữ
Man’yôgana, hoặc thi ca, lịch sử v.v.) và kinh tế, ngơ
hầu bắt kịp với Trung Hoa. Những trang viết về tiểu sử của Phật
Triết chính là những trang lịch sử cổ nhất về Lâm Ấp mà Nhật Bản c̣n
có hiện nay.
Trong bài này, chúng ta thử dựa vào tiểu sử của Phật
Triết do Mochizuki Bukkyô Daijiten (Mochizuki Phật giáo Đại
từ điển) và Bukkyô Daijiten (Phật giáo Đại từ điển) cung cấp,
rồi dùng những tư liệu góp nhặt đó đây để xây dựng lại một vài h́nh
ảnh về thời đại và nhân vật này.
*
1. Mochizuki Bukkyô Daijiten đă ghi lại
về Phật Triết như sau:
“Phật Triết
仏哲người
nước Lâm Ấp (An Nam). Tên ông có thể viết là Phật Triệt
仏徹.
Từ nhỏ theo học Phật giáo, đọc được chú. Thấy chúng
sinh nghèo khổ, ông muốn phát chẩn, bơi thuyền ra Nam Hải, đọc chú
để Long Vương đem ngọc Như Ư ra. Long Vương nói dối, giải chú, rồi
đem ngọc trốn xuống biển. Sóng lúc đó rất lớn, thuyền phải ch́m. Gặp
lúc Bồ Đề Tiên Na đi Trung Quốc, ông tháp tùng qua Ngũ Đài Sơn
[Wutaishan]. Đến tháng 12 năm Khai Nguyên thứ 18 [tức năm 730?],
ông cùng Tiên Na đến Nhật Bản.
Tháng 7 (có sách nói tháng 8), Tempei [Thiên B́nh] năm
thứ 8 [tức năm 736], Thiên hoàng Shômu [Thánh Vơ] ngự giá đến
Setsu, [ông tháp tùng,] các quan đón ông rất sùng kính. Ông thường
ngụ ở chùa Daian [Đại An]. Tháng 4 đời Tempyô Shôhô [Thiên B́nh
Thắng Bửu] thứ 4 [tức năm 752], lúc có lễ cúng dường Khai nhăn Đại
Phật ở chùa Tôdaiji [Đông Đại Tự], ông thừa lệnh cùng Tiên Na dự lễ
Pháp hội và nghe tấu vũ nhạc.
Ông được tôn làm sư của các điệu múa Bồ Đề và Bạt Đầu; nhạc Lâm Ấp
cũng là do công phu của ông mà có. Không biết ông mất và hưởng thọ
bao nhiêu. Ông có viết Tất đàm
悉曇,
Chương thứ nhất.
Tiểu truyện có đăng ở Shichidaiji nenpyô, Tôdaiji
yôroku dai 2, Fusô ryakki batsui, Wamei ruijushô dai 4, Nihon kôsô
den yobunshô dai 1, Genkyô yakusho dai 15, Nanto kôsô den, Honchô
kôsô den dai 2, Minami Tenjiku Baramon-sô seihi”.
2. Bukkyô Daijiten viết về Phật Triết:
“[Phật Triết là] Tăng ở chùa Daian [Đại An], Yamato. Có
người viết là Phật Triệt.
Người nước Lâm Ấp. Đi chơi ở Ấn Độ gặp Bồ Đề Tiên Na,
tôn làm thầy, học Phật pháp và thông mật chú. Thấy chúng sinh nghèo
khổ, ông ra biển đọc chú gọi Long Vương đem ngọc Như Ư ra. Long
Vương nhanh tay, chạy trốn khỏi chú và không nộp ngọc. Phật Triết
thất vọng quay về. Giữa năm Khai Nguyên, cùng đi với Bồ Đề Tiên Na
qua nước Đường [Trung Hoa], rồi cùng sang Nhật Bản. Đó là năm Tempei
[Thiên B́nh] thứ 8 [tức năm 736]. Ông ngụ ở chùa Daian [Đại An] và
được các quan rất sùng kính. Đời Tempyô Shôhô [Thiên B́nh Thắng Bửu]
thứ 4 [tức năm 752], lúc có lễ cúng dường Khai nhăn Đại Phật ở chùa
Tôdaiji [Đông Đại Tự], ông thừa lệnh cùng Bồ Đề Tiên Na dự lễ Pháp
hội và nghe tấu vũ nhạc.
Ông được tôn làm sư của các điệu múa Bồ Đề, Bạt Đầu và
nhạc Lâm Ấp, [tất cả] là do công phu của ông. Không biết ông mất
và hưởng thọ bao nhiêu. Ông viết Tất đàm
悉曇,
Chương thứ nhất.
Tiểu truyện có đăng ở Tôdaiji yôroku dai 2, Wamei
ruijushô dai 4, Genkyô yakusho dai 15”.
3. Bóng hình Phật Triết
Ở Đông Á, nhă nhạc雅楽
là âm nhạc có lịch sử từ thời cổ đại. Nhă nhạc ra đời ở Trung Quốc,
Triều Tiên, Nhật Bản và Việt Nam. V́ Lâm Ấp đă biến dạng sau khoảng
năm 758, lịch sử nhă nhạc của Lâm Ấp thường được nghiên cứu chung
với nhă nhạc Việt Nam.
Khác với “tục nhạc
俗楽”
(nhạc thông thường), “nhă chính
雅政”
là âm nhạc mang tư tưởng lễ nhạc của Nho giáo. Nói một cách khác,
nhă nhạc là âm nhạc truyền bá ư thức quốc gia, nghi thức cung đ́nh
và yến tiệc. Nhă nhạc Nhật Bản thường dùng các nhạc khí không giống
các nước Đông Á khác. Chúng ta có thể khẳng định là Phật Triết
đă góp phần vào việc khai thông những bước đầu của nhă nhạc Nhật Bản
và Phật Triết đúng là nhân vật đáng kể trong lúc âm nhạc giữ vai
tṛ quan trọng trong việc giao thiệp giữa Nhật Bản với các nước
khác.
Chúng ta thử lần lượt đi qua từng từ.
-
Phật Triết
仏哲:
Phật là tên dịch tiếng Hán của chữ Buddha. V́ sao người ta lại viết
câu “Có người viết là Phật Triệt仏徹”
?
Chữ “triệt
徹”
cùng âm nhưng khác “thanh” với âm chữ “triết
哲”
trong tiếng Hán-Việt, nhưng đối với những ngôn ngữ không phân biệt
“thanh”, âm của “triết” với “triệt” đều giống nhau. Nói một cách
khác, khác với tiếng Việt hiện nay, có lẽ trong tiếng Lâm Ấp “triết”
và “triệt” đọc giống nhau, vậy chắc hẳn v́ tiếng Lâm Ấp không phân
biệt “thanh” (tone) ?
Cả 2 từ điển Mochizuki Bukkyô Daijiten và
Bukkyô Daijiten đều viết bằng chữ Nhật, nghĩa là có cả
chữ Hán đi cùng với tiếng hiragana và katagana. Tên
của Phật Triết (và Phật Triệt) viết bằng chữ Hán. Chúng ta suy luận
rằng vào thời Phật Triết, giới có học ở Lâm Ấp biết chữ Hán
–
vì Phật Triết không phải qua Trung Hoa mà dùng chữ Hán được
liền.
Ngôn ngữ “Việt Nam” của người Việt đi theo làn sóng “Nam
tiến” với tiếng Việt ở miền châu thổ sông Hồng là chính, c̣n những
ngôn ngữ của các dân tộc trên bước đường “Nam tiến” đã bị đồng hóa
và dần dần biến dạng (như tiếng Lâm Ấp, Chiêm Thành, Chân Lạp,
v.v.).
-
Sách của Mochizuki trong ngoặc đơn ghi Lâm Ấp là thuộc “An Nam”.
V́ sao vậy ? Trong tiếng Nhật, An Nam là tên gọi Việt Nam dưới thời
Pháp thuộc, chúng ta có thể đoán sách này biên soạn dưới thời ấy và
trong khi in lại nhà xuất bản vẫn để y như cũ.
- Long Vương 龍王,
Nam Hải 南海
và
ngọc Như Ư
如意珠.
Long Vương còn gọi là Long Thần hay Hải Thần. Long Vương là
vị thần coi về nước, mưa và mây. Nam Hải là biển ở phương
Nam. Ngọc Như Ý là ngọc quý vô cùng, có thể cầu bất cứ
chuyện gì.
- Từ
điển Mochizuki Bukkyô Daijiten
viết là : “Long Vương nói dối, giải chú, rồi đem ngọc trốn xuống
biển. Sóng lúc đó rất lớn, thuyền phải ch́m. Gặp lúc Bồ Đề
Tiên Na đi Trung Quốc, ông tháp
tùng qua Ngũ Đài Sơn”.
Trong khi đó, từ điển
Bukkyô Daijiten
lại nói Phật Triết “đi chơi Ấn Độ gặp Bồ Đề Tiên Na”.
Vậy sóng lớn nên thuyền của Phật Triết bị chìm,
rồi tình cờ gặp Tiên Na đang ở trên đường đi Trung Hoa cứu
giúp, rồi cả hai cùng đi Ngũ Đài Sơn (Wutaishan, Trung Hoa)?
Hay Phật Triết tự mình đi chơi Ấn Độ, rồi gặp Tiên Na? Như
vậy cuốn từ điển nào nói đúng?
Chúng ta không khẳng định được điều đó, mặc dầu điều không
còn hoài nghi là Phật Triết đă gặp Tiên Na ở vùng biển miền
Trung Việt Nam, hoặc đã đi sang Ấn Độ cũng bằng đường biển. Nói
một cách khác, trong cả hai trường hợp, Phật Triết đã gặp Tiên
Na ở vùng biển, rồi từ đó cũng bằng đường biển mà sang
Trung Hoa.
Con đường từ Đông Nam Á/Nam Á đi lên Trung Hoa bằng biển này
được gọi là “Con đường tơ lụa bằng biển” (Sea Silk Road)
–
thay v́ “Con đường tơ lụa” (Silk Road) mà thầy Huyền Trang
(Xuanzung) đi thỉnh kinh ở Ấn Độ vào đời Đường.
-
Mặt khác, cả hai sách Mochizuki và Daijiten ghi rơ là
Phật Triết sau khi sang Trung Hoa với Bồ Đề Tiên Na, đă cùng với
Tiên Na sang Nhật Bản. Vậy Bồ Đề Tiên Na là người như thế nào ?
Bồ Đề Tiên Na, người Nam Ấn, là một vị cao tăng gốc Bà La Môn theo
Phật giáo (“Brahman Buddhist High Priest”).
Tư liệu Nhật Bản về Tiên Na rất chi là nhiều, so với Phật
Triết. Tên của Tiên Na có thể viết chữ Hán là Bà La Môn Tăng Chính,
Bồ ĐềTăng Chính, Bồ Đề
Noăn Na, hoặc nhiều cách viết khác nữa.
Tiên Na sang Trung Hoa vào Ngũ Đài Sơn (Wutaishan) để
“thu thập kinh nghiệm mầu nhiệm của Văn Thù Bồ Tát”
文殊菩薩
(tiếng Nhật: Monju
Bosatsu), biểu hiện của trí huệ/trí tuệ (wisdom).
Đáp lời mời của Tajihi no Mabito Hironari
(丹墀真人広成
Đan-trì Chân-nhân
Quảng-thành),
người tháp tùng
chuyến thứ 9 của những phái đoàn Nhật gửi sang nhà Đường, Tiên Na
cùng Phật Triết, Lư Cảnh
理鏡,
và Đạo Nhược
道弱
(người Trung
Hoa) sang Nhật Bản năm 736. Thật ra, lời mời này là thay cho
Thiên hoàng Shômu (聖武Thánh
Vơ) (701-756).
Trong lần sang Nhật Bản, thuyền của Tiên Na và Phật
Triết đến Dazaifu (Kyushu) tháng 5 (có sách nói tháng 7) năm
736, sau đó đến Tsu, Nanba (Osaka) vào tháng 8. Gyôki
行基
(tương truyền Gyôki là hiện thân của Văn Thù Bồ Tát) cùng các
tăng lữ khác đón đến ở chùa Daian (Đại An) ở Heijô-kyô (sau này
là Nara) và dạy tăng lữ ở đó. Bồ Đề Tiên Na thường đọc kinh Hoa
Nghiêm (Huayan jing華厳経;
tiếng Nhật:
Kegon kyô)
và rất giỏi về mật chú. Tháng 4 năm 751 Tiên Na được phong làm Tăng
Chính, và năm sau (752) được làm Kaigan dôshi (Khai nhăn
Hướng sư, hay gọi tắt là Khai nhăn sư), phụ trách cúng dường khi
“khai nhăn” cho Đại Phật ở chùa Tôdaiji (Đông Đại Tự).
Bồ Đề Tiên Na thay Gyôki làm giám đốc Phật học vào năm 751 (hay
752?) ở chùa Tôdaiji. Ở Shôsôin (正倉院 Chính Sáng Viện), người ta c̣n
giữ cây bút và sợi dây cầm tay Tiên Na dùng lúc đó. Sau đó Tiên Na
được phong làm Tăng Cương (chức lớn hơn Tăng Chính một bực). Như
vậy, Tiên Na là vị tăng lữ mang hàm (chức quan) lớn nhất. Tiên Na
mất ngày 25 tháng 2 năm 760, lễ hỏa táng được tổ chức long trọng.
Ngôi mộ của Tiên Na ở trên núi Ryôjusen 霊鷲山 (Linh Thứu Sơn; có
sách nói là núi Tomi 登美 Đăng Mỹ, có lẽ chỉ là cách gọi
khác nhau), Nara, và Tiên Na được xem là một trong bốn vị “thánh”
của chùa Tôdaiji. Trong các sách Phật giáo ở Nhật Bản, Tiên
Na được ghi nhớ đóng góp vào việc đưa kinh Hoa Nghiêm và
nhạc Lâm Ấp vào Nhật Bản, ngoài những đóng góp khác.
Có khá nhiều sách tiếng Nhật nói rằng Tiên
Na thiên về phái Fujiwara Nakamaro (藤原仲麻呂 Đằng-Nguyên
Trọng-Ma-Lữ, 706-764), một trọng thần, cùng với Thiên hoàng
Junnin (淳仁Thuần Nhân), chống lại Hoàng Thái hậu Kōken( 孝謙
Hiếu Khiêm) và nhà sư Dōkyō( 道鏡 Đạo Chung), khi Nakamaro thấy
phái của Kōken lạm quyền. Cuộc “nổi loạn”, hay nói cho đúng
là cuộc “đảo chánh”, bị thất bại năm 764. Nakamaro và vợ
con bị sát hại ở hồ Biwa 琵琶湖.[10] Chúng ta nhắc lại chuyện
này vì không chừng đó là lý do cho sự ‘biệt vô âm tín kỳ
bí’ (“Không biết ông mất và hưởng thọ bao nhiêu”) của Phật Triết
như chúng ta đã thấy trong hai cuốn từ điển.
Cần nói thêm về đại lễ tại chùa Tôdaiji vào năm
752 vì ư nghĩa của lễ này vô cùng quan trọng. Vào thế kỷ VII, VIII,
IX, dưới đời Đường, Trung Hoa có đủ loại hàng hóa cần thiết : từ âm
nhạc, đồ sứ đến thuốc men hay hương liệu. Chữ Hán thuộc về “thế
giới Đông Á”, còn tiếng Phạn thì đang còn nghiễm nhiên chiếm địa
vị độc tôn ở các vùng thuộc văn minh Ấn Độ.
Ấn Độ gồm có nhiều vương quốc và sắc tộc khác nhau.
Mặc dầu Ấn Độ giáo (Hinduism) lúc này đang ở trên đà đi
lên, chùa chiền Phật giáo hăy c̣n chiếm phần lớn. Đối với người Đông
Á, âm nhạc và các vũ điệu là những ǵ hấp dẫn nhất. Những pḥng trà
nổi danh ở Trường An (Tây An hiện nay) thường có những dàn nhạc
“người ngoại quốc” hay các vũ nữ “Tây dương”. “Nam Ấn Độ”, “Vó ngựa
Thổ Nhĩ Kỳ”, “Trăng vùng Bà La Môn”, v.v. là những bài hát ở các
pḥng trà. Người ta tính có đến 171 mặt nạ để nhảy múa. Trong đại lễ
tại chùa Tôdaiji, người ta mời đến 25000 tăng lữ người ngoại quốc
(chủ yếu là Ấn Độ hay Java) đến tham dự !
Bởi vậy, việc Tajihino Mabito Hironari mời Tiên Na và
Phật Triết sang Nhật Bản từ năm 736 chính là để chuẩn bị ngày lễ
lịch sử, dựa theo mô h́nh Trung Hoa, vào năm 752 này. Cần nói thêm
rằng Nhật Bản vào thời Nara, trước sự lớn mạnh của Trung Hoa thuộc
nhà Đường, những tác phẩm về lịch sử (Kojiki hay Cổ sự kư,
712, Nihon shoki hay Nhật Bản thư kỷ, 720) hoặc
thơ (Man’yôshû
hay Vạn diệp
tập,
760) đă lần lượt ra đời để Nhật Bản bắt kịp với Trung Hoa.
Sau khi xong “đại lễ âm nhạc Á châu vĩ đại” (A
great Asian music festival) năm 752, sách Shoku-Nihongi
đă ghi lại như sau : “Ngày 9 tháng 4, tượng Đại Phật đă hoàn thành
và sẵn sàng để chiêm bái. Thiên hoàng đến chùa Tôdaiji, ban huấn
lệnh cho một số quan chức rồi bắt đầu đại lễ. Thứ tự chương tŕnh và
vị trí của người tham dự buổi lễ giống như trong lễ Tết. Quan chức
trên ngũ phẩm bận triều phục, quan lục phẩm hay thấp hơn mặc đồng
phục và màu sắc định thứ bậc. Mười ngàn tăng lữ Utaryô (ban nhạc
chính thức, có nhiều người ngoại quốc) và nhạc công của mỗi chùa
đứng sắp hàng. Quư tộc và quan chức của mỗi vùng sắp hàng chỉnh tề.
Vũ công và nhạc công tŕnh diễn, gồm có Gosechi (5 nữ nhạc công múa
theo nhạc của cung đ́nh Nhật), Kumemai (múa kiếm trần theo âm nhạc),
Tatefushi (múa đội mũ sắt, mang kiếm và mộc), Arare-hashiri (c̣n gọi
là Toka, vừa chạy vừa la “Muôn năm”), và Hoko (vũ điệu múa bởi thiếu
nữ Trung Quốc, mặc hakama).
Ngôi vườn [chùa Tôdaiji] chia làm hai, Đông và Tây, và
tiếng hát vọng qua vọng lại khu vườn. Thật khó mà tả lại cho chính
xác. Từ ngày Phật giáo được truyền vào nước ta, không có cảnh nào to
lớn cho bằng”.

Heian-jingû shrine / Kyôto City
bugaku / gagaku - performing arts
Trong Nihon Sandai Jitsuroku có ghi là “107
người tập nhạc Lâm Ấp ở vườn chùa Daian”. Sách cũng nói rơ là “Nhă
Nhạc Liêu (Gagagu-Ryô) và chùa Kôfukuji (Hưng Phúc Tự) dạy nhạc Cao
Lệ (Komagaku, nhạc gốc Triều Tiên) và chùa Daianji (Đại An Tự) dạy
nhạc Lâm Ấp”. Âm nhạc được công nhận là nghề nghiệp chính thức và
các nhạc sư được tuyển dụng tại các chùa. Những buổi lễ ở các chùa
lớn được xem như một chức năng của nhà nước đương thời.
-
Hai từ điển Mochizuki Bukkyô Daijiten và
Bukkyô Daijiten cho biết năm qua Nhật Bản của Phật Triết khác
nhau. Trong khi Mochizuki Bukkyô Daijiten cho biết
“tháng 12 năm Khai Nguyên thứ 18 [tức năm 730?], ông cùng Tiên Na
đến Nhật Bản”; Bukkyô Daijiten lại cho biết đó là “năm
Thiên B́nh thứ 8 [tức năm 736]”.
Chúng ta có thể khẳng định rằng trong trường hợp này từ
điển Bukkyô Daijiten đúng, còn từ điển Mochizuki
Bukkyô Daijiten sai, vì Phật Triết đã đi cùng với Tiên Na,
mà Tiên Na đến Nhật Bản vào năm 736. Tư liệu về Tiên Na có
rất nhiều và tất cả đều cho biết Tiên Na đến Nhật Bản vào
năm 736.
-
“Múa Bồ Đề (Bosatsu), Bạt Đầu (Batô) và nhạc
Lâm Ấp (Rin’ yû
)”
:
Những điệu múa Lâm Ấp thuộc nhă nhạc Nhật Bản bắt nguồn
từ nhạc Trung Hoa, Ấn Độ và một phần của nhạc Tây vực.
Múa Bồ Đề là một điệu múa trong nhă nhạc của Đông Nam Á.
Bồ Đề là dịch âm chữ Hán của chữ Bodhi, tức là “đạo, giác, tri” để
bỏ hết phiền năo và có được trí tuệ đúng đắn. Múa Bồ Đề và nhạc Lâm
Ấp có thể hiểu là những điệu múa Phật giáo mang tính cách Lâm Ấp.
Nhạc Lâm Ấp do Phật Triết mang sang Nhật cùng với Tiên
Na, chúng ta biết đó là những điệu múa mang mặt nạ có dáng vẻ dị
thường. Có người đưa ra thuyết có lẽ Phật Triết đã đặt tên
Lâm Ấp để người đời còn nhớ mãi tên đó. V́ Phật Triết và Tiên
Na được xem cha đẻ của nhạc Lâm Ấp, năm 736 được xem là năm bắt đầu
nhă nhạc Lâm Ấp ở Nhật Bản. Ngày nay, múa Lâm Ấp và múa Bồ Đề không
c̣n tất cả những chi tiết, chỉ có múa Bạt Đầu tạm gọi là đầy đủ.

Múa Bạt Đầu
抜頭
là một điệu múa Taishiki (Thái thực) trong Đường nhạc. Sáo là
nhạc cụ chính yếu. Múa một người (hitori-mai一人舞)
có 2 loại : múa bên trái và múa bên phải, như vừa múa vừa chạy (hashiri-mai走舞),
hoặc đôi khi như múa trẻ con (đồng vũ 童舞).
Mặt nạ có mũi màu đỏ và màu đen, đầu tóc h́nh dạng ghê rợn, tay mặt
đánh trống, tay trái vừa múa vừa nắm tay. Tương truyền điệu múa này
được Phật Triết và Tiên Na đưa vào Nhật Bản từ Trung Hoa dưới đời
nhà Đường. Điệu múa “Lâm Ấp loạn thanh” (Rin’yû
ranjô林邑乱声)
là “đánh loạn lên” những thanh âm nên c̣n gọi là “cổ nhạc loạn
thanh” (Kogaku ranjô古楽乱声).
Ngoài ra c̣n có các điệu múa như Thọ Lăng Tần (Karyôbin
迦陵頻)
và Bồi Lư (Bairo) cũng được xem là nhạc Lâm Ấp.
Từ điển Sekai daihyakka jiten (Thế giới Bách
khoa Từ điển) ghi lại những chi tiết đáng để ý và có khác
nhau ít nhiều với đoạn tả bên trên: “Năm 736 Bồ Đề Tiên Na
và Phật Triết đến Nhật Bản để truyền bá nhạc Lâm Ấp, theo
lệnh của Thiên hoàng tất cả phải truyền thụ ở chùa Daian
[Đại An Tự] (Theo Tôdaiji yôroku). Những nhạc này qua
đời Heian, tức tháng 3 năm 809, được biên tập thành Gagaku-ryô
[雅楽
寮Nhã
nhạc Liêu]. Những vũ nhạc mà Phật Triết truyền lại là Bồ
Đề
菩醍,Thọ
Lăng Tần
迦陵頻,
Bạt Đầu
抜頭
,
Bồi Lư, Thiên Thu Nhạc万秋楽,
Lan Lăng Vương
蘭陵王,
A Ma
安摩,
Nhị Vũ
二の舞,
Hồ Ẩm Tửu 胡飲酒.
Tất cả có 8 khúc”.
-
“Không biết ông mất và hưởng thọ bao nhiêu”:
V́ Nhật Bản là quần đảo, vào thời cổ đại di chuyển từ Nhật Bản
đến các nước khác rất mực khó khăn. Bởi vậy, sau đại lễ ở chùa
Tôdaiji (Đông Đại Tự) năm 752, chúng ta khó h́nh dung Phật Triết
t́m đường về Lâm Ấp, huống nữa quê hương Phật Triết đang có binh
lửa. Như đã bàn, chúng ta có thể đặt nghi vấn là phải
chăng Phật Triết bị vạ lây trong cuộc “đảo chánh” của
Fujiwara Nakamaro năm 764? Xin nhắc lại rằng có nhiều sách
nói Tiên Na theo phái của Nakamaro, mà Tiên Na với Phật Triết
thì rất gần gũi với nhau và Tiên Na đã mất từ bốn năm
trước (năm 760). Nếu không phải là chuyện bí ẩn, v́ sao người
ta lại không biết Phật Triết mất khi nào, đặc biệt Phật Triết là
người đóng vai trò quan trọng ở Nhật Bản lúc bấy giờ ? Cái chết
của Phật Triết là cả một nghi vấn và cần phải đánh dấu hỏi
lớn.
- “Ông viết Tất đàm, Chương thứ nhất” : Phật
Triết chắc hẳn viết sách này bằng chữ Hán. “Tất đàm” dịch âm từ
tiếng Phạn là Siddham, “tất”
悉
là “biết
hết”; “tất đàm
悉曇”
là “thành tựu
成就”
hoặc “hoàn thành
完成”
(Huyền
ứng âm nghĩa
, II). Có thể dịch là “Tất đàn”悉檀(“đàn”檀
như trong cây bạch đàn), hay “Tất đàm
悉談”
(“đàm
談”
như chữ “đàm thoại”). “Tất đàm còn có nghĩa là một loại chữ
viết của tiếng Phạn, hoặc cách viết loại chữ ấy, hoặc
phương pháp đọc nối các mẫu âm. Từ đó, tất đàm có nghĩa là
ngành nghiên cứu về cách viết chữ Phạn, thư pháp chữ Phạn,
cách đọc âm (âm độc
音読),
và văn pháp/văn phạm” (Trích Cựu Đường thư
旧唐書,
“Thiên Trúc quốc truyện”
天竺国伝,
hoặc Tự loại sao
字 類抄
).
Đối với người Nhật Bản vào thế kỷ VII và VIII, tiếng Phạn
và “Tất đàm” có thể xem như đồng nghĩa. Trên thực tế, Phật
Triết đã thuyết giảng về “Tất đàm” tại đại lễ ở chùa
Tôdaiji (Đông Đại Tự) năm 752.
Việc vì sao Phật Triết bỏ công việc nghiên cứu dở
dang sau viết xong Chương I của cuốn Tất đàm và sau đó
không biết gì về Phật Triết nữa, chúng ta cần đánh một dấu
hỏi lớn.
*
Phật Triết là nhân vật có thật, sống giữa lúc mà lịch sử
Lâm Ấp cũng như Nhật Bản đang có nhiều đổi thay. Lâm Ấp thì chiến
loạn, c̣n Nhật Bản đang “thức tỉnh” và vùng lên vào thời Nara. Trên
dưới 20 năm cuối đời, Phật Triết sống ở Nhật, một điều khiến đời
Phật Triết mang ít nhiều “kịch tính”.
Người ta dễ quên Lâm Ấp là nước sắp mất tên, đặc biệt
chuyện ở vào một thời xa xưa
–
đi ngược về những năm 750, nghĩa là xa hơn 12 thế kỷ. Chúng ta
biết rằng Phật Triết đă đóng vai tṛ cốt cán trong việc truyền bá
nhă nhạc Lâm Ấp ở Nhật Bản. Những điệu múa Bồ Đề, Bạt Đầu, hay nhạc
Lâm Ấp nói chung, đều do Phật Triết và Bồ Đề Tiên Na truyền vào
Nhật Bản. Nhưng những tài liệu về Phật Triết lại quá ư khiêm
tốn, mặc dầu ngay tại Nhật Bản
–
một nước nổi tiếng là nơi lưu trữ các văn hoá.
Ngôn ngữ mẹ đẻ của Phật Triết, tiếng Lâm Ấp, có thể
không có “thanh”. Tác giả có gợi ư như vậy ở phần đầu. Có người
hỏi : “Vậy Phật Triết không có dính líu ǵ với người Việt Nam cả hay
sao ?” Chúng tôi xin mạn phép không đồng ư. Bởi v́ nếu quan niệm
rằng chúng ta vốn có nhiều chủng tộc th́ lúc ban đầu chúng ta khác
nhau cũng là chuyện dễ hiểu. Bước đường “Nam tiến” cần mấy trăm năm
trên thực tế đă giúp người Việt Nam có đủ thời gian để giải quyết
các khác biệt lớn, trong đó có những khác biệt về ngôn ngữ và chủng
tộc. Giáo sư Hà Văn Tấn cách đây gần hai mươi năm (1991) có kể cho
chúng tôi nghe tại hội thảo ở Cornell rằng có vùng nào đó nào
ở Hà Tĩnh người ta không phân biệt “thanh”. Nghe chuyện Phật Triết
xong, chúng ta có thể thắc mắc tại sao lại giống chuyện con cháu
Phật Triết c̣n sót lại đến thế !
Cuối cùng, khi nhắc lại chuyện Phật Triết gặp Tiên Na
chúng ta đă xác định rằng hai người đã gặp nhau ở vùng biển.
Nói một cách khác, Phật Triết và Tiên Na đă dùng “Đường tơ lụa
bằng biển” để đến Trung Hoa. Mối liên hệ giữa miền Trung của
Việt Nam, với Ấn Độ bằng đường biển, và vai tṛ của các người Ấn Độ
c̣n được xác nhận ở thời kỳ Phật Triết.
Chúng ta tưởng nên nhắc lại rằng từ đầu thế kỷ III
(trước CN) cho đến cuối thế kỷ VII (sau CN), khu vực từ vịnh Bengal
đến vùng biển Đông Nam Á đă được người Ấn Độ chuyển đổi vùng
biển này thành “Hồ Phật giáo” (Lake of Buddhism).
Câu chuyện này làm chúng ta nhớ lại Phật Triết
gặp Tiên Na lúc ban đầu cũng ở trong vùng này.
Tháng 4, 2010
|