|
|

Thái độ của
Nhật Bản đối với Trung Quốc:
Kính nể hoặc
phủ nhận văn hoá Trung Hoa
Vĩnh Sính
Nh́n
về diện tích, Nhật Bản chỉ lớn hơn Việt Nam đôi chút. Điểm khác biệt
quan trọng giữa Nhật Bản và Việt Nam trong quan hệ đối với Trung Hoa
là vị trí địa lư: không như Việt Nam nằm sát ngay Trung Quốc, Nhật
Bản nằm cách đại lục Trung Hoa bởi một eo biển vừa đủ gần để Nhật có
thể tiếp thu văn hoá Trung Hoa trước thời cận đại nhưng cũng vừa đủ
xa để khỏi bị Trung Quốc xâm lấn. Bởi vậy, mối quan hệ giữa Nhật Bản
và Trung Quốc từ những tiếp xúc ban đầu cho đến thế kỷ XIX chỉ giới
hạn trên lănh vực văn hoá, và trong thái độ của Nhật Bản đối với văn
hoá Trung Hoa có hai khuynh hướng khá rơ rệt: kính phục và phủ nhận.
Từ
khi tiếp xúc với văn minh Trung Hoa, người Nhật thường biểu lộ ḷng
hâm mộ và kính phục đối với nền văn hoá đại lục. Khác với Việt Nam,
nơi những yếu tố của văn hoá Trung Hoa lúc đầu được đưa vào qua
chính sách đồng hoá của Trung Quốc bất chấp ư muốn của người Việt
Nam qua gần một ngàn năm Bắc thuộc; văn hoá Trung Hoa được truyền
sang Nhật Bản trong khoảng thế kỷ VI-VII chủ yếu theo ư nguyện của
người Nhật. Triều đ́nh Nhật Bản lúc bấy giờ chọn lựa những người tài
giỏi và gửi họ sang Trung Quốc thành nhiều phái bộ (mỗi phái bộ
thường có đến 500 người) để học hỏi và tiếp thu nền văn hoá tiên
tiến Trung Hoa dưới hai đời Tuỳ-Đường.
Họ
học đủ mọi ngành: Nho giáo, Phật giáo, cơ chế chính trị, h́nh luật,
kỹ thuật canh nông, mỹ thuật, v.v... Những người này sau khi trở về
Nhật đă đóng vai tṛ rất quan trọng trong việc truyền bá những yếu
tố tiên tiến của văn minh Trung Hoa. Chữ karamono 唐 物 ( Đường-vật:
những vật đem từ nhà Đường, hàm ư Trung Quốc) là danh từ tượng trưng
cho những cái ǵ tao nhă, quư giá lúc bấy giờ.
Đi
ngược lại với khuynh hướng hâm mộ văn hoá Trung Quốc là ư thức dân
tộc của người Nhật, xuất phát từ nhận thức Nhật Bản là một nước nhỏ
bé và chậm tiến nằm trên ngoại vi của văn minh Trung Hoa. Nếu Lư
Thường Kiệt của Việt Nam đă viết nên bài thơ “Nam quốc sơn hà” nhằm
khẳng định vị trí “nước Nam” của người Việt đối với Trung Quốc ở
phương Bắc, Thái tử Shôtoku (Thánh-đức) ngay từ đầu thế kỷ VII khi
viết thư gửi Tuỳ Dạng Đế thay cho thiên hoàng Nhật đă xác định chủ
quyền của Nhật Bản về phía Đông của Trung Quốc như sau: “Thư này do
thiên tử của xứ mặt trời mọc (phương Đông) gửi cho thiên tử của xứ
mặt trời lặn (phương Tây)”1. Tục truyền Tuỳ Dạng Đế khi đọc lá thư
đă nổi trận lôi đ́nh, cho rằng kẻ viết thư đă quá ngạo mạn, không
biết nghi lễ trên dưới. Có hai điểm khác biệt cần lưu ư giữa bài thơ
của Lư Thường Kiệt và bức thư của Thái tử Shôtoku. Trước hết Lư
Thường Kiệt đă làm bài thơ này để khích lệ quân sĩ, chứ không phải
để gửi cho vua Tống. C̣n Thái tử Shôtoku, trong bức thư gửi hoàng đế
nhà Tuỳ, không những gọi hoàng đế của Trung Quốc bằng “thiên tử”
(con trời) mà c̣n dùng danh xưng này để gọi thiên hoàng của Nhật.
Theo quan niệm của Trung Quốc, trong thiên hạ (dưới cơi trời) chỉ có
một thiên tử “độc nhất vô nhị”, đó chính là hoàng đế Trung Quốc. Tuỳ
Dạng Đế nổi giận chính v́ bức thư của Nhật Bản đă ư thức hay vô ư
thức bất chấp khái niệm căn bản này của trật tự thế giới Trung Hoa.
Điểm khác biệt này, như ta đă thấy xuất phát từ điều kiện địa lư:
khác với Việt Nam, Nhật Bản không chịu áp lực quân sự của Trung Quốc
nên không bị ràng buộc bởi thể chế triều cống với Trung Quốc là
trung tâm. Ashikaga Yoshimitsu (1358-1408), tướng quân thứ ba của
ḍng họ Ashikaga, là nhân vật duy nhất trong lịch sử Nhật thừa nhận
tước phong “quốc vương Nhật Bản” của hoàng đế Trung Quốc ban cho và
do đó đă đặt Nhật Bản vào thế triều cống của Trung Quốc trong thời
kỳ ông nắm quyền. Do sự kiện này, Yoshimitsu đă bị các sử gia đời
sau phê phán là đă làm nhục quốc thể của Nhật Bản.
Từ
cuối thế kỷ IX, ở Trung Quốc loạn lạc nổi lên khắp nơi, Nhật Bản
đ́nh chỉ việc gửi người sang Trường An du học và thay vào đó t́m
cách biến cải những yếu tố văn hoá Trung Hoa mà Nhật đă tiếp thu từ
mấy trăm năm trước cho thích ứng với môi trường văn hoá và xă hội
của Nhật Bản. Như đă đề cập ở trên, mô h́nh tiếp thu văn hoá Trung
Hoa của Nhật Bản là wakon kansai (Hoà-hồn Hán-tài), tương truyền do
Sugawara-no-Michizane đề xướng. Vào thời kỳ này “văn học nữ lưu”
viết bằng tiếng kana rất mực thịnh hành, có nhiều tác phẩm văn học
vẫn c̣n nổi tiếng cho đến ngày nay, tiêu biểu là cuốn trường thiên
tiểu thuyết Genji monogatari (Truyện Genji) do nữ sĩ Murasaki
Shikibu sáng tác vào đầu thế kỷ XI. Sự vùng dậy của ư thức dân tộc
Nhật Bản c̣n thể hiện qua các tranh vẽ theo lối Nhật yamato-e (Đại-hoà
hội), và sự xuất hiện của danh từ yamato-damashii (hồn Đại-hoà), tức
là tinh thần Nhật Bản – dùng ngụ ư để phân biệt với tinh thần Trung
Hoa.
Như
trên đă nói, Nhật Bản đă tiếp thu và hấp thụ nhiều yếu tố của văn
hoá Trung Hoa nhưng nói một cách tổng quát, Nhật Bản không có liên
hệ triều cống với Trung Quốc và không chấp nhận – hay nói đúng hơn,
ở ngoài – trật tự thế giới của Trung Quốc. Ngoài ra, Nhật Bản cũng
không thực thi chế độ khoa cử (và không áp dụng chế độ hoạn quan)
như Trung Quốc. Kết quả là mặc dầu người Nhật vay mượn nhiều yếu tố
của văn hoá Trung Hoa, nhưng có tư duy độc lập, không nhất thiết suy
nghĩ theo những khuôn mẫu của văn hoá Trung Hoa. Ta hăy lấy một vài
thí dụ để minh hoạ.
Trước hết chúng ta thử xem người Nhật đă áp dụng chữ Hán và chữ kana
như thế nào trong quyển Kojiki (Cổ-sự-kỷ; 712 sau CN), một trong
những cuốn sử đầu tiên ở Nhật Bản. Tiếng Nhật trong sách Kojoki tổng
hợp cách đọc kundoku và chữ viết kana. Phần chữ Hán trong sách viết
theo một biến thể của kambun (Hán-văn), và đọc theo lối kundoku 訓 讀
(huấn-độc, tức là cách đọc chữ Hán theo âm Nhật, bất chấp âm chữ Hán
và thứ tự của câu văn bằng chữ Hán, chẳng khác ǵ trong tiếng Anh
hiện đại những từ đi từ tiếng La-tinh như i.e. th́ đọc là “that is”
(tức là...), hoặc e.g. đọc là “ for example” (ví dụ...). Nếu kundoku
là cách đọc bất chấp âm chữ Hán, ngược lại những chữ kana 假 名 (giả-danh)
trong sách lại là cách viết chỉ mượn âm của chữ Hán nhưng bất chấp
nghĩa của chữ Hán. Ví dụ: mượn chữ “ an” trong chữ Hán để viết thành
vần “a” trong tiếng Nhật, chữ “ dĩ” trong chữ Hán để viết vần “i”,
chữ “gia” của chữ Hán để viết vần “ka”, v.v... và tuyệt nhiên không
để ư đến nghĩa của những chữ “ an”, “dĩ” hay “gia”. V́ hai yếu tố âm
(phonetic) và nghĩa (semantic) của một chữ Hán là linh hồn của chữ
Hán đó, nếu tách rời hai yếu tố âm và nghĩa – như trong trường hợp
kundoku và kana trong Kojiki, có thể nói là chữ Hán không c̣n là chữ
Hán như ở trong tiếng Tàu nữa. Bởi vậy, có thể nói người Nhật, ư
thức hay vô ư thức, ngay từ buổi ban đầu đă “hoá giải” tiếng Tàu
thành hai yếu tố riêng rẽ. Trên cơ sở của kundoku và kana, tiếng
Nhật đă được cải tiến và phát triển cho đến ngày nay. Tóm lại người
Nhật vay mượn chữ Tàu trong quá tŕnh h́nh thành chữ viết của họ,
nhưng khi dùng chữ Tàu họ không suy nghĩ như người Tàu, không nhất
thiết phải rập khuôn theo những lối ṃn của văn hoá Trung Hoa.
Mặt
khác, thái độ “kính phục” và “phủ nhận” của người Nhật đối với văn
hoá Trung Hoa thể hiện rơ nhất qua lối nh́n của họ đối với nhà thơ
Trung Quốc Bạch Lạc Thiên và học thuyết Nho giáo. Trước hết, ta hăy
xem vị trí của Bạch Lạc Thiên trong văn học Nhật Bản. Như chúng ta
đều biết, Bạch Lạc Thiên, tên thật là Bạch Cư Dị (772-846 sau CN),
là một thi hào đời Đường. Không hiểu do một sự t́nh cờ nào đó tên
tuổi của Bạch Lạc Thiên ở Nhật lại c̣n nổi tiếng hơn cả Lư Bạch và
Đỗ Phủ, hai nhà thơ được mến chuộng nhất ở Trung Quốc. Trải qua bao
thế kỷ, người Nhật Bản nào muốn làm thơ chữ Hán trước hết cũng phải
nghiền ngẫm thơ Bạch Lạc Thiên, v́ đối với họ, họ Bạch là vị “thánh
thơ chữ Hán”.
Nhưng nhà thơ tiêu biểu cho thi đàn Trung Quốc ở Nhật này có lúc
cũng bị phủ nhận. Đó là trường hợp tuồng Haku Rakuten (Bạch Lạc
Thiên), một trong những vở tuồng Nô nổi tiếng của Zeami vào thế kỷ
XIV. Trên thực tế, Bạch Lạc Thiên thuở sinh tiền không hề đặt chân
lên đất Nhật Bản. Tuy nhiên theo cốt truyện của vở tuồng này, một
hôm nọ hoàng đế Trung Quốc phái Bạch Lạc Thiên sang Nhật để cho
người Nhật thấy tận mắt tài làm thơ thần sầu quỷ khốc của người Tàu.
Khi thuyền cập bến ở Nhật, họ Bạch gặp hai ngư ông. Bạch Lạc Thiên
trổ tài làm thơ, nào ngờ trong hai ngư ông Nhật Bản lại có người làm
thơ c̣n giỏi hơn cả họ Bạch nữa. Kết cuộc, trong cuộc đấu thơ này,
Bạch Lạc Thiên bị hạ sát ván. Ngư ông đó hoá ra là Sumiyoshi-no-kami
, “vị thần làm thơ” (uta no kami) của người Nhật. Thuyền của Bạch
Lạc Thiên bị băo đánh giạt về Trung Quốc, và vở tuồng chấm dứt ở đó.
Nội dung của vở tuồng trên, đối với người Việt Nam, nghe có vẻ “trái
tai”. Bởi lẽ cho dầu Việt Nam có triệt để chống đối xâm lăng quân sự
của Trung Quốc đến đâu chăng nữa, Bạch Lạc Thiên (cũng như các thi
hào hay các nhân vật văn hoá khác của Trung Quốc) vẫn được người
Việt kính trọng; không có mâu thuẫn về văn hoá giữa nhà thơ Bạch Lạc
thiên và người Việt.
Nay
ta thử xem thái độ “kính nể / phủ nhận” của người Nhật đối với Nho
giáo. Tokugawa Ieyasu (Đức-xuyên Gia-khang), người sáng lập chính
quyền Tokugawa (1600-1868), đă áp dụng học thuyết Tống Nho của Chu
Hy để củng cố chính quyền bakufu (mạc phủ). Tống học nhờ vậy trên lư
thuyết trở thành học phái chính thống. Nhưng trên thực tế, dưới thời
Tokugawa có nhiều Nho gia như Yamaga Sokô (Sơn-lộc Tố-hành;
1622-1685) và Yamazaki Ansai (Sơn-kỳ Ám-tế; 1618-1682) phủ nhận cơ
chế Nho giáo của Trung Quốc và cho rằng về cả ba mặt nhân, trí, dũng,
Nho giáo Nhật Bản hơn hẳn Trung Quốc. Ngay đối với Khổng Tử, cách
đặt vấn đề của Ansai cũng khác hẳn các nhà Nho ở Trung Quốc và Việt
Nam.
Sách
Sentetsu sôdan (Tiên-triết Tùng-đàm) biên soạn cuối thời Tokugawa có
ghi lại đoạn vấn đáp sau đây giữa Ansai và các môn đệ. Ansai một hôm
vấn nạn các môn đệ:
“Nếu
bây giờ Trung Quốc cử Khổng Tử làm đại tướng và Mạnh Tử làm phó
tướng dẫn vài vạn kỵ binh sang tấn công nước ta, với tư cách là
người theo học đạo của Khổng Mạnh, các tṛ thử nghĩ chúng ta phải
ứng xử như thế nào?”
Thấy
các môn đệ lúng túng, Ansai tự đáp: “Nếu điều bất hạnh này xảy ra,
th́ chúng ta chỉ có cách là mặc giáp mang kiếm, ra trận bắt sống
Khổng Mạnh đặng báo ơn nước. Đây chính là điều Khổng Mạnh dạy chúng
ta” 2
Chắc
hẳn đối với các Nho gia Việt Nam, phản ứng đầu tiên khi nghe đoạn
vấn đáp này là: “Đối với các bậc thánh hiền ai lại đặt câu hỏi kỳ
cục như thế?”. Cách vấn nạn của Ansai chắc hẳn đă lạ lùng, khó nghe,
mà câu trả lời của Ansai cũng không kém bất ngờ, đường đột. Phải là
một “Nho gia” không bị chi phối bởi thế giới quan Nho giáo của Trung
Hoa mới có đủ tính khách quan để đặt vấn đề trực tiếp và tận gốc như
vậy.
Vị
trí lănh đạo về văn hoá của Trung Quốc cũng bị các học phái Kokugaku
(Quốc-học) và Rangaku (Lan-học) phủ nhận tận gốc. Motoori Norinaga (Bản-cư
Tuyên-trường; 1730-1801) và các học giả của học phái Kokugaku khởi
đầu nghiên cứu Hán học, nhưng sau đó chủ trương chối bỏ triệt để
“đầu óc Trung Hoa” (karagokoro) thể hiện qua những lư lẽ g̣ bó và
nhân tạo của Nho giáo, sự sai lạc và tính chất quá khích của thuyết
“thiên mệnh” 3. Theo Norinaga, trước khi văn minh Trung Hoa du nhập
vào Nhật Bản, tâm hồn người Nhật thuần phác và bộc trực, được thể
hiện qua những thơ ca trong tuyển tập thơ đầu tiên của người Nhật là
Man’yôshu (Vạn-diệp-tập; biên soạn xong năm 760 sau CN). Học phái
Kokugaku đă đóng vai tṛ quan trọng trong việc làm sống dậy tinh
thần dân tộc của người Nhật vào thế kỷ XIX.
Rangaku, học phái nghiên cứu khoa học và kỹ thuật Tây phương qua
những sách bằng tiếng Hà Lan vào cuối thế kỷ XVIII cũng có đóng góp
không ít vào việc phủ nhận vị trí độc tôn của văn hoá Trung Hoa. Y
học là ngành nghiên cứu nổi tiếng nhất của các học giả Rangaku. Vào
năm 1711, khi hai học giả Rangaku là Sugita Gempaku (Sâm-điền
Huyền-bạch; 1733-1817) và Maeno Ryôtaku (Tiên-dă Lương-trạch;
1723-1803) quan sát cuộc giải phẫu tử thi ở nhà tù, họ cho rằng
những ǵ họ quan sát hoàn toàn phù hợp với quyển sách Tabulae
Anatomicae bằng tiếng Hà Lan 4 và từ đó họ thấy rằng những lư thuyết
y học Trung Quốc du nhập vào Nhật trước đó là hoàn toàn sai lạc. Bản
dịch của sách này nhan đề là Kaitai shinsho (Giải-thể tân-thư) được
hoàn thành vào năm 1774. Công tŕnh nghiên cứu và dịch thuật của
Sugita có ảnh hưởng vượt khỏi ngành y học, báo hiệu giờ phút cáo
chung của vai tṛ lănh đạo văn hoá của Trung Quốc trong đời sống tư
tưởng và học thuật ở Nhật đă bắt đầu.
Nhờ
những thách thức đối với sự độc tôn văn hoá của Trung Quốc qua các
học phái Nho giáo, Kokugaku và Rangaku, Nhật Bản đă có những chuẩn
bị tư tưởng cần thiết để nhận chân ư nghĩa v́ sao sau đó Trung Quốc
lại bị nước Anh đánh bại trong chiến tranh Nha phiến; chính nhờ đó
người Nhật đă phản ứng kịp thời sau khi hạm đội Mỹ đến đ̣i Nhật mở
cửa vào giữa thế kỷ XIX.
Vĩnh
Sính
1
“Oa nhân truyện”, Tuỳ thư, trích lại từ Shibata Minoru và các người
cộng tác, Nihonshi (Lịch sử Nhật Bản), Tokyo: Bun’eido, 1982, tr.
51.
2
Trích lại từ “Jiji shôgen” (Thời-sự tiểu-ngôn), Fukuzawa Yukichi
zenshu (Fukuzawa Yukichi toàn tập), 'I'okyo: Iwanami Shoten, 1958,
quyển 5, tr. 211.
3
Theo thuyết thiên mệnh (mệnh Trời, Mandate of Heaven), thiên tử (con
Trời) nhận lănh mệnh trời để cai trị thiên hạ. Nếu người cầm quyền
mất ḷng Trời th́ người dân có quyền lật đổ. Người ta tin rằng Trời
báo hiệu cho dân chúng biết người cầm quyền đă mất mệnh Trời qua các
thiên tai như băo lụt, động đất, mất mùa, v.v...
4
Nguyên tác của sách này do Johan A. Kulmus người Đức viết, người Hà
Lan dịch lại và xuất bản năm 1734.
.............................
* Bị chú của ERCT : Bài này đă đăng trên
www.diendan.org . Đăng lại với
sự đồng ư của anh Vĩnh Sính
|
|