|

Nhân dịp Xuân về
THỬ BÀN VỀ
BÀI THƠ CHỮ HÁN
“ KINH THÀNH
NGUYÊN ĐÁN ”
CỦA PHAN CHÂU
TRINH
QUA HAI BẢN
DỊCH CỦA NGÔ ĐỨC KẾ
VÀ HOÀNG XUÂN
HĂN
Để nhớ lại những tia nắng Xuân đẹp vô ngần
cạnh sông Hàn ở Đà Nẵng hai mươi năm về trước.
Hôm ấy tôi gặp cố học giả Nguyễn Văn Xuân lần đầu tiên.
Vĩnh Sính
Tây Hồ Phan Châu Trinh (1872-1926) thuộc thế hệ ‘sính chữ Hán’
cuối cùng ở nước ta. Tuy cũng từng ‘hụp lặn’ trong cái học khoa cử
trọng hư văn, nhưng đúng như Huỳnh Thúc Kháng đă nhận xét, Phan Châu
Trinh “ tư chất vốn đă thông minh, ư chí lại sâu sắc, ...nên mặc dầu
lớn tuổi mới bắt đầu học mà học ít hiểu nhiều ; đọc sách có con mắt
riêng, làm văn tạo xuất cách mới, không vẽ bóng pha màu, t́m câu lặt
chữ ” (1) như
đa số sĩ phu cùng thời. Bởi vậy không phải ngẫu nhiên mà Phan Châu
Trinh đă để lại một số kiệt tác viết bằng Hán văn.
Về văn xuôi, Phan Châu Trinh là kiện tướng có một không hai về
loại văn chính luận – bằng Hán văn cũng như bằng quốc văn mà
Phan tự học lấy. Còn nói về thơ, ngoài thơ quốc âm, Phan c̣n có
một số thơ chữ Hán tuyệt hay, điển h́nh là bài Chí thành thông
thánh làm ở B́nh Định trong chuyến Nam du với Huỳnh Thúc
Kháng và Trần Quư Cáp năm 1905, và bài Xuất đô môn
khẩu chiếm khi bị áp giải ra khỏi thành Huế để đi đày ởCôn Đảo vào
năm 1908. Bài thơ Kinh thành Nguyên đán bàn trong bài
này là một bài thơ hay và độc đáo. Tuy không gây cú sốc “ sét đánh
ngang tai ” như hai bài nói trên, nhưng Phan Châu Trinh cũng đă gói
gắm không ít suy tư.
Trong bài này, chúng tôi sẽ đối chiếu và phân tích hai bản dịch
quốc văn của Ngô Đức Kế và Hoàng Xuân Hăn và hy vọng qua quá tŕnh
b́nh giải chúng ta sẽ nhận thức chính xác hơn về ư nghĩa của bài thơ.
*
I. Nguyên văn bài thơ và lời
dịch nghĩa, dịch thơ của Ngô Đức Kế
Ngay sau khi Phan Châu Trinh qua đời vào tháng 3-1926, Ngô Đức Kế
(1878–1929) biên tập và giới thiệu một số trước tác của Phan trong
cuốn Phan Tây Hồ di thảo – Văn tập của ông Phan Chu Trinh
(Hà Nội, Lương Văn Can xuất bản, 1926). Kinh thành Nguyên đán được
in lại trong sách này. Sách được nhà in Chân Phương ở Hà Nội tái bản
một năm sau (1927). Khi in lại sách, Ngô Đức Kế giữ nguyên lời thơ
của Kinh thành Nguyên đán cũng như phần phụ chú của Phan Châu Trinh
rồi cung cấp phần dịch nghĩa và dịch thơ. Bài thơ làm theo Đường
luật, thể̉ “ thất ngôn bát cu ́” (mỗi câu bảy chữ, tám câu).
Ngô Đức Kế là bạn tâm giao của Phan Châu Trinh ; cả hai cùng đỗ
kỳ thi Hội năm Tân Sửu (1901) và cùng bị đày ra Côn Đảo sau vụ Dân
biến ở Trung Kỳ năm 1908. C̣n Lương Văn Can (1854–1927) với Phan
Châu Trinh là bạn cố tri, cả hai đều là sáng lập viên của trường
Đông Kinh Nghĩa Thục ở Hà Nội vào năm 1907 và Lương Văn Can là Thục
trưởng của trường .
Chúng tôi có đọc cuốn Phan Tây Hồ di thảo – Văn tập của
ông Phan Chu Trinh (ấn bản Chân Phương) ởthư viện Centre
Pompidou ởParis trong dịp sang Pháp năm 2000 và thấy bài Kinh
thành Nguyên đán không khác trong sách này không khác ǵ với bài
được biên tập trong cuốn Thơ văn Phan Châu Trinh (Hà Nội: Nxb
Văn học, 1983), do Huỳnh Lý biên soạn. Do đó, chúng tôi đă dùng
sách của Huỳnh Lý để bạn đọc tham khảo trong bài này. (2)

Kinh thành
nguyên đán
Hương thuỷ B́nh sơn thắng cảnh ty !
Xuân thành vạn hộ nhạ xuân hy.
Lam bào tuỳ tục hành tam khấu,
Bạch tửu phùng nhân bác nhất chi.
Cố quốc duy dư nguyên nhật hảo,
Thử thân thiên bị sổ kim khi.
Quy lai mính đính hồn vô vị,
Thuyết dữ bàng nhân tận giải di.
Phụ chú [của Phan Châu Trinh] : Kinh thành tục,
nguyên đán trước lam bào tạo môn bái niên, nhất ẩm nhi khứ.
Chúng ta thử dịch nghĩa bài thơ :
Tết Nguyên
đán ở kinh thành
Sông Hương, núi Ngự là nơi thắng cảnh độc đáo,
Trong thành Xuân, muôn nhà vui đón năm mới.
Theo tục lệ, mặc áo lam vào lễ ba lạy,
Gặp người quen cùng nhau uống chén rượu trắng.
Cố quốc chỉ c̣n vui trong ba ngày Tết,
Thân này phải quỵ luỵ bởi mấy đồng lương.
Ra về chuếnh choáng, chả nghĩa lư ǵ nữa,
Thuật chuyện cho người xung quanh nghe th́ ai cũng cười.
Bài thơ dịch của Ngô Đức Kế :
Sông Hương núi Ngự cảnh riêng vui,
Nhà cửa thành Xuân vẻ tốt tươi.
Xúng xính áo xanh theo thói lạy,
Kề cà rượu trắng gặp nhau mời.
C̣n ba ngày tết là vui nước,
V́ mấy đồng lương há luỵ người.
Say trở ra về vô tích sự,
Gặp nhau nói chuyện khéo mua cười.
Chú thêm [Huỳnh Lý dịch] : Theo lệ Tết ở kinh thành, sáng
mồng một Tết, các quan mặc áo thụng xanh đến trước cửa khuyết lạy
mừng tuổi, uống một chén rượu rồi về.
II. Nguyên văn bài thơ trong
bản sao của Hoàng Xuân Hăn và lời dịch nghĩa, dịch thơ của Hoàng
Xuân Hăn
Bài Kinh thành Nguyên đán được Hoàng Xuân Hăn (1908-1996) dịch ra
quốc văn và công bố trong “ Phần phụ bản ” của sách Những
hoạt động của Phan Châu Trinh tại Pháp 1911-1925, Thu Trang,
Giáo sư Hoàng Xuân Hăn đề tựa (Paris: Nxb Sudestasie, 1983). Theo
Hoàng Xuân Hăn, “ nguyên Hán văn theo một bức cuốn cuả tập san
Sử Địa [Sài Gòn] năm 1972 gởi cho ” (3).
Sách này không có phần nguyên văn chữ Hán của bài thơ.
Để độc giả tiện bề theo dơi, chúng tôi chụp lại nguyên văn chữ
Hán với thủ bút của Hoàng Xuân Hăn trong ấn bản phát hành trong
nước sau đó (Ts. Thu Trang, Giáo sư Hoàng Xuân Hăn đề tựa,
Những hoạt động của Phan Châu Trinh tại Pháp 1911-1925. Nxb
Văn Nghệ Tp. Hồ Chí Minh, 2000).

III. Bây giờ chúng ta thử
b́nh giải cả hai bài dịch của Ngô Đức Kế và Hoàng Xuân Hăn :
Nhan đề : Chúng ta thấy rằng trong bản chữ Hán mà Hoàng Xuân
Hăn viết lại ởtrên, nhan đề bài thơ đă không ghi là Kinh thành
Nguyên đán như Phan Châu Trinh đă đề̉, mà được Hoàng quân đổi thành
Phan Châu Trinh nguyên nhật thi (Thơ làm ngày mồng một Tết của Phan
Châu Trinh). Sau đó, khi dịch ra quốc văn Hoàng Xuân Hăn lại dịch là
Thơ Tết lúc làm quan, những chữ này không có trong nguyên tác. Ở
hàng dưới, Hoàng Xuân Hăn lại ghi thêm là bài này “ có lẽ làm năm
Nhâm Dần 1902, khi mới bổ làm quan ở Huế, nhưng đă chán chường, tuy
chưa tỏ chính kiến ǵ ”.
Trên thực tế, vào thời điểm năm 1902, Phan Châu Trinh đang về quê
ở Quảng Nam thọ tang người anh cả là Phan Văn Cừ đă có công nuôi
dưỡng Phan từ khi hơn mười tuổi sau khi song thân qua đời. Vào năm
1902, tức là trước khi Phan Châu Trinh tiếp xúc với Tân thư, như
Huỳnh Thúc Kháng đă ghi lại, “ Tiên sinh [Phan Châu Trinh] đởm
[đảm] thức hơn người, lại giàu đường huyết tánh, từ nhỏ đi học
đă để con mắt xem đời mà chứa sẵn một lòng yêu nước. Song khốn
v́ ởtrong nhà quê, chung quanh rành những xă hội hủ bại, b́nh sanh
được thấy toàn một lớp tuồng đảng Cần vương mà thôi. Nghe thấy
đă hẹp hòi, lịch duyệt cũng chưa rộng, nhiều khi cảm xúc mà
không bởi đâu mởmang ra, cho “ việc đời là không làm ǵ được (thời
sự vô khả vi) ” (4).
Sang năm 1903 Phan Châu Trinh mới ra Huế làm Thừa biện Bộ Lễ, từ đó
có dịp tiếp xúc với Tân học qua Tân thư và Tân văn, “ trong ḷng ham
thích quên ngủ, quên ăn ” nên “ tư tưởng đổi hẳn ra một cách mới mẻ
” (5). Các sách mới
(Tân thư), báo mới (Tân văn) ấ́y do Khang Hữu Vi (Kang Youwei,
1858–1927) và Lương Khải Siêu (Liang Qichao, 1867–1929) (6)
trước tác, đề nghị băi bỏ khoa cử, đả kích “ văn chương tám vế́
”, và nói về “ dân quyền tự do ”, “ phát minh được chân tướng
văn minh Âu Tây nhiề̀u ” (7).
“ Tiên sinh tấ́n tới một bước dài, mà tấm lòng nhiệt thành ái
quốc cũng cao thêm mấy độ nữa. Ngày trước cho là “ thời sự vô
khả vi ”, nay trong lòng và trước con mắt thấy rõ ràng có một
đàng, mà phương châm hạ thủ làm thế nào cũng từ đó mà nhất định ”
(8). Rốt cuộc, Phan
Châu Trinh quải ấn từ quan vào đầu năm 1905. Tóm lại, việc Hoàng
Xuân Hăn phỏng đoán bài thơ làm vào “ có lẽ làm năm Nhâm Dần 1902 ”
là không ăn khớp với thực tế.
Như vậy Phan Châu Trinh đă làm bài thơ trên vào lúc nào ? Câu
trả lời là Phan Châu Trinh phải làm trong khoảng từ năm 1903 (Kinh
thành Nguyên đán tương ứng với Nguyên đán Giáp Th́n, 1904) cho
đến đầu năm 1905 (Kinh thành Nguyên đán tương ứng với Nguyên đán
Ất Tỵ, 1905) – tức là kể từ khi mượn Tân thư và Tân văn từ Thân
Trọng Huề và Đào Nguyên Phổ và trước khi Nam du với Trần Quý
Cáp và Huỳnh Thúc Kháng rồi sau đó phải về lại v́ nhuốm
bệnh (1905), qua năm 1906 lại đi Nhật Bản và cho đến khi mất
không bao giờ trởlại Huế.
Cũng cần nói thêm Hoàng Xuân Hăn khi viết ra chữ Hán đă viết nhầm
chữ “Châu” trong tên Phan Châu Trinh thành chữ châu là “châu báu”
như chữ Châu trong tên của Phan Bội Châu. Chữ Châu trong tên Phan
Châu Trinh là chữ Chu (“một ṿng”, như trong từ “chu vi”), trong
trường hợp này theo phát âm ‘Đàng Trong’ đọc là Châu, bởi vậy tên
chính thức của Phan Châu Trinh là Phan Châu Trinh (chính Phan
cũng gọi tên ḿnh bằng tên ấy), chứ không phải là “Phan Chu
Trinh” như một số người thường lầm tưởng.
Câu 1: Hương thủy B́nh sơn: cách gọi chữ Hán của “Núi Ngự sông
Hương”. Gọi là B́nh bởi ḥn núi này giống cái b́nh phong nằm án ngữ
ở phía Nam kinh thành Huế, nên mới gọi là núi Ngự B́nh.
Chữ ty ở cuối câu thường đọc là tư, nghĩa là “riêng” như trong từ
“riêng tư” (trái với “chung”). Qua câu đầu, chắc hẳn Phan Châu Trinh
muốn nói là “Núi Ngự sông Hương có cảnh đẹp riêng”, phong cảnh không
giống những nơi khác. Thật vậy, cảnh ởHuế có cái ǵ khang khác
những nơi khác, một nét Huế ‘chay’. Chữ ty (private, personal) ở
đây hàm nghĩa gần như chữ “độc đáo” (unique, distinct, distinctive)
chúng ta thường dùng ngày nay.
Ngô Đức Kế dịch nghĩa câu này là “Sông Hương núi Ngự riêng là nơi
thắng cảnh” và dịch thơ là “Sông Hương núi Ngự cảnh riêng vui”. Dịch
chữ “riêng” như vậy có lẽ chưa thoát ư cho lắm, nhưng đúng là Ngô
Đức Kế muốn chuyển ngữ chữ “ty” ra quốc văn. Trong bản dịch của
Hoàng Xuân Hăn, thắng cảnh ty được dịch là “cảnh đẹp thay” hay “cảnh
đẹp ghê”. Chữ ty không dịch là “riêng” nhưng đă dịch nhầm là “thay/ghê”.
Chữ B́nh trong chữ núi Ngự B́nh là cái b́nh phong, viết theo chữ
Hán không có bộ sơn. Hoàng Xuân Hăn đă thêm bộ sơn trước chữ b́nh –
từ này không có trong chữ Hán và chỉ có thể dùng trong chữ Nôm, mà
“Kinh thành Nguyên đán” là bài thơ chữ Hán.
Câu 2: Xuân thành: nghĩa là thành phố vào Xuân. Hoàng Xuân Hăn
cho rằng Xuân thành là “thành Phú Xuân”.
Thoạt nghe cũng có lư, nhưng nếu để ư ta sẽ thấy trong chữ Hán
người ta không lắp chữ như thế. Ví dụ, thành phố Hà Nội người ta gọi
là Hà Thành chứ không gọi là Nội Thành, Sài Cống (Sài G̣n) gọi là
Sài Thành chứ không gọi là Cống Thành. Bởi vậy Xuân thành ở đây nên
hiểu là kinh thành Huế vào mùa Xuân.
Xuân hy: lấy từ cụm từ Cống hạ Xuân hy hoặc Xuân hy Tân niên có
nghĩa là “Chúc mừng Năm mới”. Do đó, nhạ Xuân hy là “đón mừng Năm
mới”, đúng như trong phần dịch nghĩa của Ngô Đức Kế.
Câu 3: Lam bào: áo bào màu lam của các quan ngày trước mặc. Áo
rộng xống xếnh, lụng thụng.
Tùy tục: tùy theo tục lệ. Hoàng Xuân Hăn đă sửa tùy tục thành
tuân tục tức là “tuân theo tục lệ”, nghe không sát hơi hướm của tác
giả bằng tùy tục bởi lẽ Phan Châu Trinh là người thích thảng, phóng
khoáng – tùy nhưng chưa hẳn “tuân”!
Hành tam khấu: “làm ba vái” cho xong lệ, chữ “hành” (làm) diễn tả
rất thoát cá tính không ưa g̣ bó của Phan Châu Trinh. Hành ở đây
không có nghĩa là “đi” hay “[đi] vào” như trong hai bản dịch của Ngô
Đức Kế và Hoàng Xuân Hăn.
Chữ khấu ở cuối câu ghi nhầm thành khẩu trong bản Hoàng Xuân Hăn.
Câu 4: Bạch tửu: rượu trắng, miền Nam gọi là rượu đế, hay
ba-xi-đế. Bạch tửu, cũng như lam bào trong câu 3, không phải là danh
từ riêng. Hai từ này có lẽ không nên viết hoa như trong bản Hoàng
Xuân Hăn. Những h́nh tượng trong văn thơ Phan Châu Trinh có thể t́m
thấy ngay trong thực tế chứ không phải lấy từ đâu xa xôi.
Chi: chén rượu, hay b́nh sành lùn đựng rượu, ở đây dùng theo
nghĩa chén rượu, hay cốc rượu.
Phùng nhân bác nhất chi: gặp người [quen] uống cạn một chén rượu.
Bác: ở đây có nghĩa giống như can bôi (Cạn chén!), tức “cụng chén
rồi uống cạn luôn”, tuy không nhất thiết chỉ uống một chén. Trên
thực tế, chắc hẳn tác giả gặp nhiều người quen và cùng nhau cụng
chén nên trong câu 7 mới viết là mính đính tức là say chuếnh choáng.
Tác giả có lẽ cũng sính rượu. Trong Phan Tây Hồ tiên sinh dật sự,
Huỳnh Thúc Kháng thuật lại như sau: “Tiên sinh là người thích thảng,
không có cẩn thử mực thước như bọn hủ đạo đức, b́nh sinh trong
trường quan, cơi sắc, đám bạc, cuộc say, chỗ nào cũng chui ḿnh vào,
không thèm trớ tránh chi cả, song đă biết là lụy, th́ tức th́ g̣
ngựa, không bước vào nữa, không có chút ǵ là quyến luyến” (9).
Câu 5: Cố quốc: Cả hai bản Ngô Đức Kế và Hoàng Xuân Hăn đều dịch
là “nước cũ”.
Theo từ điển Daijigen, “cố quốc” có những nghĩa sau đây. 1.
Nước có từ xưa/nước cũ; 2. Nước ḿnh phục vụ trước; 3. Cố hương;
4. Quốc đô của cố hương (10). Trong 4 nghĩa đó,
nghĩa thứ 1 là ăn ý với “Kinh thành Nguyên đán” nhất (11).
Theo thiển ý, chữ “cố quốc” đă được Việt hóa, không cần phải
dịch th́ hay hơn.
Duy dư: chỉ c̣n lại, c̣n lưa (như trong câu ca dao “...Con đ̣ đă
thác năm xưa/Cây đa bến cũ c̣n lưa chốn này”).
Hảo trong ngữ cảnh ở đây nên hiểu là “vui” chứ không phải là
“hay” như Hoàng Xuân Hăn đă dịch. Thơ Phan Châu Trinh trữ t́nh chứ
không khô khan. Chúng tôi nghĩ cách dịch nghĩa cụm từ duy dư nguyên
nhật hảo của Ngô Đức Kế là “chỉ c̣n vui ba ngày Tết” rất đạt,
nhưng chỉ tiếc hai chữ “vui nước” trong phần dịch thơ của Ngô Đức
Kế lại nghe không được tự nhiên cho lắm.
Câu 6: Thiên: cứ, vẫn. Bị sổ kim khi: bị lừa (lụy) bởi mấy đồng
tiền. Hoàng Xuân Hăn dịch nghĩa câu này là “Thân này bị lầm v́ mấy
đồng lương lừa dối” và dịch thơ là “Thân này lỗi bởi mấy đồng mê”.
Nghe đă không tự nhiên mà lại thừa chữ. Phan Châu Trinh là nhà hùng
biện, trong lời nói cũng như trong cách viết. Cách dịch của Ngô Đức
Kế sát sao hơn.
Câu 7: Quy lai : ra về, chưa hẳn đă về tới nhà như theo cách dịch
của Hoàng Xuân Hăn, bởi lẽ nếu về tới nhà th́ người ta nói là quy
đáo chứ không nói quy lai. V́ Hoàng Xuân Hăn dịch nhầm như thế nên
trong câu 8, Hoàng quân đă không dịch là “người xung quanh” mà dịch
nhầm bàng nhân là “láng giềng”.
Mính đính (Hoàng Xuân Hăn đă viết nhầm là dánh đính, âm dánh
không có trong tiếng Hán Việt): say chuếnh choáng (chếnh choáng),
say túy lúy, say nhừ, say mèm.
Câu 8: Thuyết ... giải di: Kể (nói) chuyện [cho ai đó nghe khiến
người ta] há mồm khen phục (phục lăn) (12).
Có từ điển giải thích giải di là “cười phá lên”, nhưng đây là tiếng
cười to và vui, biểu lộ sự thích thú và sảng khoái, chứ không phải
là “nhếch mép cười” như Hoàng Xuân Hăn đă dịch.
Chúng ta hăy xem gốc gác cụm từ này. Thời Tiền Hán có Khuông
Hoành, học giả kiêm chính trị gia. Khuông người Đông Hải, tự là Trĩ
Khê. Từ nhỏ Khuông rất hiếu học, nhưng cảnh nhà nghèo khó. Ban đêm,
v́ không có đèn đọc sách nên tương truyền Khuông phải đục thủng vách
tường nối liền với nhà bên cạnh để mượn nhờ ánh sáng mà học. Khuông
Hoành về sau làm đến thừa tướng, tương đương với chức thủ tướng ngày
nay. Nhân chuyện Khuông Hoành nên mới có thành ngữ Khuông Hoành tạc
bích (Khuông Hoành đục tường) trong sách Mông Cầu kể những gương
hiếu học của người xưa cho trẻ em noi theo, hoặc thành ngữ Xuyên
bích dẫn quang (Xoi tường lấy ánh sáng). Khuông học hành xuất sắc và
nổi tiếng về tài b́nh thơ, ai nghe cũng khen phục. Trong “Khuông
Hoành truyện”, sách Hán thư, có ghi là “Khuông thuyết thi giải nhân
di” (Khuông Hoành nói về thơ khiến người ta khen phục).
Bàng nhân: người khác, người ngoài cuộc. Hoàng Xuân Hăn dịch là
“láng giềng”, chắc hẳn một phần cũng v́ không hiểu đúng chữ quy lai
trong câu 7. Trong phần dịch thơ, Hoàng Xuân Hăn dịch câu này là
“Sang cạnh cùng vui chuyện dă dề” – đi xa nguyên tác và không nói
lên được nỗi trăn trở, ấm ức của Phan Châu Trinh trước t́nh h́nh đất
nước.
Chúng ta thử tóm tắt những ư chính trong bài thơ nhằm hiểu rơ hơn
hai câu kết (câu 7 & 8). Buổi sáng mặc áo thụng xanh vào cửa khuyết
“làm ba vái”, sau đó gặp đồng liêu cùng nhau kề cà cạn chén, cái
thân phải lụy bởi mấy đồng lương. Ra về say sưa quả thật là vô vị.
Thế nhưng khi kể cho người ngoài nghe chuyện ấy th́ ai cũng hể hả
khâm phục.
Điều Phan Châu Trinh không nói rơ nhưng độc giả phải hiểu ngầm là
v́ dân trí nước ta quá thấp, nên ai cũng xem con đường hoạn lộ là
giấc mơ cao đẹp nhất ngoài ra không còn có ǵ đáng kể nữa.
Phụ chú [của Phan Châu Trinh]: Tạo: ở đây có nghĩa là đến, dùng
giống như chữ chí hay chữ chỉ (c̣n đọc là nghệ). Môn: cửa, nhưng hàm
ư là cửa khuyết, biểu tượng của vương quyền. Không hiểu do lư do ǵ
mà bản Hoàng Xuân Hăn không ghi phần phụ chú.
Nhân dịp Xuân về, chúng ta đă cùng nhau b́nh giải bài “Kinh
thành Nguyên đán” qua hai bản dịch của Ngô Đức Kế và Hoàng Xuân
Hăn. Hy vọng chúng ta đă làm sáng tỏ một vài điểm thiết yếu.
Bài thơ đă/phải được làm lúc Phan Châu Trinh đă bắt đầu xem Tân
thư và Tân văn, tức là từ khoảng giữa năm 1903. Như vậy, “Kinh
thành Nguyên đán”, phải làm vào dịp Tết và tính theo âm lịch,
tức là Xuân Giáp Th́n (1904) hoặc Xuân Ất Tỵ (1905). Sau chuyến
Nam du với Trần Quý Cáp và Huỳnh Thúc Kháng vào năm 1905, Phan
Châu Trinh bị ốm nặng, và từ đó cho đến khi mất (tháng 3, năm
1926) Phan không về Huế lại nữa.
Phan Châu Trinh đă từng trăn trở ấm ức trước t́nh h́nh đất nước:
phần đông th́ vẫn xem con đường hoạn lộ là giấc mơ cao đẹp
nhất!
Từ đó đến nay đă hơn một thế kỷ, nhưng tiếc thay ngày nay
mặc dù cái học khoa cử không còn nữa, nhưng việc xem bằng
biếu quá mức quan trọng vẫn đeo đẳng măi, còn thực học th́
phần đông vẫn cứ thờ ơ. Đáng đáng tiếc thay!
VĨNH SÍNH
Viết xong vào những ngày áp Tết Canh Dần (2010)
1 Huỳnh Thúc Kháng, Phan Tây Hồ tiên sinh lịch sử (Huế: Nxb Anh
Minh, 1959), trang 12.
2 Tác giả bài này đă cung cấp Hán văn để độc
giả có thể tham khảo.
3 Thu Trang, Những hoạt động của Phan Châu
Trinh tại Pháp (Paris: Nxb Sudestasie, 1983), trang 290.
4 Huỳnh Thúc Kháng, Phan Tây Hồ tiên sinh lịch
sử, trang 15.
5 Như trên, trang 14.
6 Khang Hữu Vi và Lương Khải Siêu là hai nhà cải
lương quan trọng nhất ởTrung Quốc vào cuối thế kỷ 19 – đầu thế
kỷ 20. Khang chủ trương quân chủ lập hiến, muốn xây dựng Trung
Quốc theo mô h́nh của nước Nhật Bản dưới thời Minh Trị. Lương đỗ
tiến sĩ năm 1890, cũng chủ trương quân chủ lập hiến như Khang.
Lương đề nghị Trung Quốc phải ‘tự cường’, cải cách thi cử, bài
trừ nạn tham nhũng. Sau thất bại của chính biến Mậu Tuất
(1898), Lương lánh qua Nhật Bản và đặt trụ sởhoạt động
ởYokohama. Phan Châu Trinh qua Nhật năm 1906, ởcùng với Phan Bội
Châu. Phan Bội Châu quen với Lương Khải Siêu, có điều không rõ là
Phan Châu Trinh có gặp Lương Khải Siêu trong lúc Phan Châu Trinh
qua Nhật chăng?
7 Huỳnh Thúc Kháng, Phan Tây Hồ tiên sinh lịch sử,
trang 14.
8 Như trên, trang 16.
9 Huỳnh Thúc Kháng, “Phan Tây Hồ Tiên sinh dật sự”
in lại trong Phan Châu Trinh – Giai nhân kỳ ngộ. Lê Văn Siêu b́nh
giải và chú thích (Sàig̣n: Nxb Hướng Dương, 1959), trang LXVII.
10 Kadokawa Daijigen (Giác-xuyên Đại tự
nguyên) (Tokyo: Kadokawa Shoten, 1992), trang 708.
11 Theo nghĩa 2, chữ “cố quốc” có thể dùng để
chỉ một triều đại cũ. Ví dụ: Trong bài “Qua chùa Trấn Bắc”,
Bà Huyện Thanh Quan viết: Trấn Bắc hành cung cỏ dăi dầu/Chạnh
niềm cố quốc nghĩ mà đau.... “Cố quốc” ởđây ám chỉ tinh thần
“hoài Lê” của tác giả. Tâm trạng tiếc nuối nhà Lê sau khi khá
phổ biến khi nhà Nguyễn khởi đầu một triều đại mới năm 1802.
T́nh trạng này kéo dài từ đời Gia Long cho đến các thời sau như
Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức. Trong trường hợp của Phan Châu
Trinh, từ khi nhỏ tuổi cho đến khi mất, cuộc đời nằm gọn
trong triều đại nhà Nguyễn. Bởi vậy, không thể xảy ra trường
hợp Phan Châu Trinh tiếc nuối một triều đại đă qua rồi.
Theo nghĩa 3, chúng ta có thể t́m ví dụ qua nhà thơ Đỗ Phủ
đời Đường. V́ sinh kế, v́ loạn lạc, nhà thánh thơ phải phiêu bạc
nhiều nơi. Ḷng nhớ quê hương Hồ Nam luôn khắc khoải, đoài đoạn
nhưng họ Đỗ không bao giờ được về cố hương. Ngôi vườn cũ ở “cố quốc”
của Đỗ Phủ xa vời vợi. Bởi vậy, không phải ngẫu nhiên mà sau khi
phiêu lạc ở Giang Nam, trong bài “Giải muộn thi” (Thơ giải buồn) Đỗ
Phủ viết: “Nhất từ cố quốc thập kinh Thu” (Giă từ cố quốc đă mười
Thu!).
Về nghĩa thứ 4, chúng ta cũng có thể lấy từ thơ Đỗ Phủ
trong bài “Thu hứng”(8 bài), bài 4 có câu thứ 8 như sau: “Cố quốc
b́nh cư hữu sởtư ” (Chạnh nhớ cảnh đất nước thanh b́nh ngày trước).
12 Xem Kanno Michiaki, Jigen (Tự nguyên) (Tokyo:
Jigen Kankôkai, 1933), trang 1781.
|