HỘI TRÍ THỨC
MEIROKUSHA VÀ TƯ TƯỞNG KHAI SÁNG Ở
NHẬT BẢN
Vĩnh Sính
Thân tặng những tâm
hồn luôn thao thức và nao nức vươn
lên
Cao trào khai sáng (Anh : enlightenment,
Pháp : Les Lumières, Đức : Aufklärung)
ở Âu châu tuy đă bắt đầu từ
cuối thế kỷ XVII, nhưng phải
chừng một thế kỷ sau, khi tác
phẩm Trả lời câu hỏi :
Khai sáng là ǵ ? (1784) của Immanuel Kant ra
đời, danh từ này mới trở thành
một thuật ngữ có chỗ đứng
hẳn hoi trong ngôn ngữ triết học và
lịch sử tư tưởng.
“Khai sáng”,
theo định nghĩa của Kant, “là sự
thoát ra của con người khỏi t́nh
trạng chưa trưởng thành (nonage)
do chính con người tự gây nên. Chưa trưởng
thành v́ không có khả năng sử dụng lư
trí của ḿnh mà không cần đến
sự dẫn dắt của kẻ khác. Sự
chưa trưởng thành này, nếu chính nguyên
nhân không nằm ở sự thiếu lư trí mà
ở sự thiếu quyết định và
thiếu can đảm [trong việc] tự
sử dụng lư tính của chính ḿnh mà không
cần sự dẫn dắt của kẻ khác,
th́ chính là lỗi do chính ḿnh gây nên. Bởi
vậy, ‘Hăy dám biết và hăy can đảm
sử dụng lư trí của chính ḿnh’ là phương
châm của khai sáng”.[1]
Nói cách khác, khai sáng là sự thức tỉnh
của lư tính, từ đó con người có
thể sử dụng lư tính của ḿnh để
vượt ra khỏi những thiên kiến và
mê muội. Sự dẫn dắt (tutelage)
của kẻ khác trong bối cảnh lịch
sử của các nước Âu châu mà Kant nói
đến trong định nghĩa trên là do
ảnh hưởng quyền uy của tôn giáo.
Không phải ngẫu nhiên
mà khoảng thời gian mười năm sau
Minh Trị Duy tân (1868-1878) ở Nhật Bản
thường được gọi là thời
kỳ “văn minh khai hóa” (bunmei
kaika ; civilization
and enlightenment). “Khai hóa”
ở đây có nghĩa giống như khai sáng
mà chữ Hán gọi là “khai minh”. Tuy nhiên, v́
điều kiện lịch sử và văn hóa
ở Nhật Bản khác với các nước
Âu châu vào thế kỷ XVII và XVIII, đối
tượng khắc phục của tư tưởng
khai sáng ở Nhật vào đầu thời
Minh Trị do đó cũng khác với các nước
Âu châu. Ở Nhật
trước đó, dưới
thời Tokugawa, không có một quyền uy tôn giáo
nào có tính cách phổ biến và siêu việt.
Ông “Trời” (ten,
thiên) trong Nho giáo và muôn ngàn vị
“thần” (kami)
trong Shinto (Thần đạo) không trang bị
quyền uy nhằm khuất phục những người
cầm quyền ở trần thế, ngược
lại trên thực tế lắm khi lại
bị họ lợi dụng để củng
cố trật tự và uy quyền chính trị
của họ. Nói cách khác, với sự
vắng bóng của uy quyền tôn giáo có tính cách
phổ biến và siêu việt ở nước
Nhật, những thiên kiến và mê muội
trong xă hội Nhật vào đầu thời
Minh Trị là di sản của “uy quyền cùng
những tùy tiện và lạm dụng quyền
lực gần như quái đản” của
chính con người.[2]
Ngoài ra, cần để ư là phong trào khai sáng
ở Nhật Bản được thúc đẩy
bởi tinh thần và ư thức quốc gia
về nhu cầu tiếp thu những yếu
tố tiên tiến của văn minh Tây phương
nhằm canh tân đất nước với
mục đích tối hậu là bảo vệ
nền độc lập của Nhật
Bản.[3]
Bởi vậy, những người đi tiên
phong trong việc tiếp thu văn hóa Tây phương
chính là những nhà Tây học mà tiếng
Nhật gọi là Yôgakusha
(Dương học giả), trong đó thành viên
của hội trí thức Meirokusha là những
học giả có ảnh hưởng sâu
rộng nhất.
1.
Thuật ngữ :
Trước
khi bước vào chủ đề, xin có đôi
ḍng về vấn đề thuật ngữ.
Đồng nghĩa với khai sáng và khai hóa,
“khai thành” (kaisei)
cũng là một danh từ thông dụng vào
cuối thời Tokugawa và đầu thời
Minh Trị -- tương ứng với hai
thập niên 1860 và 1870. Một điều
lạ lùng mà cũng thú vị là xưa nay ít
thấy ai dùng từ “khai thành” ở
Việt Nam. “Khai thành” (hay “khai vụ”)
đi từ tứ tự thành ngữ “khai
vật thành vụ” trong Kinh
Dịch (“Hệ từ”, thiên
Thượng), có nghĩa là “mở mang tri
thức của con người nhằm hoàn thành
nhiệm vụ xă hội”. Trung tâm nghiên
cứu và giảng dạy về Tây học
đầu tiên do chính quyền Tokugawa xây
dựng năm 1864 và sau này được chính
quyền Minh Trị tiếp quản, cũng mang
tên là Kaiseijo (Khai thành sở), thường
được chuyển ngữ sang tiếng Anh
là Institute of Enlightenment, tức Trung tâm Khai sáng.[4]
Những danh từ “khai sơn” (xẻ núi,
từ thời cận đại có thêm nghĩa
mới là khai mỏ), “khai thác”, “khai
cảng” (xây dựng bến cảng) thịnh
hành vào đầu thời Minh Trị đều
dựa trên khái niệm “khai vật”.
Mặc
dù đă có các từ “khai minh”, “khai hóa”,
và “khai thành”, nhưng khi nói về phong trào
khai sáng ở Nhật đầu thời Minh
Trị, người Nhật lại thích dùng
từ “keimô”
(khải-mông). “Khải” có nghĩa là
thức tỉnh, mở mang ; “mông” là tối
tăm, mê muội ; “khải mông” theo định
nghĩa, là “thức tỉnh, mở mang
những người ngu muội hay có kiến
thức thức nông cạn”.[5]
Trong tiếng Nhật, khi nói về enlightenment
thought, người ta ít khi nói
là kaimei shisô
(tư tưởng khai minh, tức tư tưởng
khai sáng) mà thường nói là keimô
shisô, tức “tư tưởng
khải mông”. Trong bài này, người
viết sẽ dùng cả hai từ “khai sáng”
và “khải mông” tùy theo văn cảnh.
2. Thành
viên hội trí thức Meirokusha :
Độc lập
tự tôn nghênh tân thế kỷ
(Đón thế kỷ mới
[thế kỷ XX, trong tinh thần] độc
lập tự tôn). Thủ bút
của Fukuzawa, viết đầu năm 1901.
Tháng 7, 1873, sau khi hoàn thành
nhiệm vụ công sứ Nhật Bản đầu
tiên ở Hoa Kỳ và về lại Tokyo, Mori
Arinori (Sâm Hữu-lễ ; 1848-89) hội ư
với Nishimura Shigeki (Tây-thôn Mậu-thụ ;
1828-1902) về khả năng thành lập
một hội trí thức dựa theo mô h́nh
của Hoa Kỳ. Theo lời thuật lại
của Nishimura trong hồi kư Ôjiroku
(Văng-sự-lục), Mori nhận thấy
“ở Hoa Kỳ mọi ngành nghiên cứu
đều có học hội, nhờ vậy các
học giả có dịp trao đổi ư
kiến về học thuật, tổ chức
những buổi nói chuyện có lợi ích cho
người đời ; trong khi đó ở
Nhật, các học giả ai cũng cô lập,
không chịu liên lạc với nhau, v́ thế
nên những năm gần đây đạo
đức của dân chúng bị suy thoái
trầm trọng”. Nhằm cứu văn t́nh
thế đó, Mori đề nghị “thiết
lập một học hội vừa để
chấn hưng học thuật vừa để
làm gương
mẫu đạo đức”.[6]
V́ Mori vừa mới về lại Nhật sau
những năm công cán ở nước ngoài,
việc tuyển chọn hội viên chắc
hẳn đă dựa theo lời đề
nghị của Nishimura. Hội mang tên là
Meirokusha (Minh-lục-xă), bởi lẽ việc
thành lập hội được thảo
luận vào năm thứ 6 thời Minh Trị
(1873) -- “Minh” là Minh Trị, “lục” là 6,
và “xă” là hội. Tôn chỉ thiết
lập của hội công bố một năm
sau đó, được tóm tắt như sau :
“Nhằm xúc tiến giáo dục trong nước,
nhóm hữu chí chúng tôi thương nghị
về các biện pháp, hội họp các người
đồng chí để trao đổi ư
kiến, mở mang kiến thức”.[7]
Qua tháng 2 năm 1875, Meirokusha được chính
thức thành lập.
Thoạt kỳ thủy hội viên
Meirokusha có 10 người gồm các “danh sĩ”
đương thời. Ngoài Mori và Nishimura, c̣n
có các nhân vật sau đây : Fukuzawa Yukichi (Phúc-trạch
Dụ-cát ; 1834-1901), Katô Hiroyuki (Gia-đằng
Hoằng-chi ; 1836-1916), Mitsukuri Rinshô (Ky-tác Lân-tường
; 1846-97), Mitsukuri Shûhei (Ky-tác Thu-b́nh ; 1825-86),
Nakamura Masanao (Keiu) (Trung-thôn Chính-trực,
hiệu là Kính-vũ ; 1832-91), Nishi Amane (Tây Chu ;
1829-97), Sugi Kôji (Sam Hanh-nhị ; 1828-1919), và Tsuda
Mamichi (Shindô) (Tân-điền Chân-đạo ;
1828-1903). Số hội viên sau đó tăng lên
30 người : thêm 5 hội viên chính thức,
5 hội viên thông tin và 10 hội viên đặc
biệt gồm những người đang cư
trú ở nước ngoài và các hội viên
danh dự.
Giữa các hội viên
Meirokusha có một số điểm tương
đồng rất đáng chú ư. Trước
hết, tất cả hội viên (Sugi là
ngoại lệ) đều xuất thân từ
gia đ́nh samurai
cấp dưới (kakyû bushi,
hạ-cấp vũ-sĩ). V́ xuất thân là samurai,
nên họ mang niềm hănh diện, tự hào cùng
ư thức trách nhiệm của giai cấp đă
nắm quyền gần 700 năm đối
với tiền đồ đất nước.
Tuy nhiên, bởi lẽ họ chỉ là samurai
cấp dưới nên tổ tiên họ đời
đời bị bạc đăi và chịu không
biết bao nhiêu nỗi cay đắng của
chế độ phong kiến. Bởi vậy, hơn
ai cả, họ ư thức
về những mặt phi lư trong xă hội.
Fukuzawa là trường hợp điển h́nh.
Xuất thân từ Nakatsu-han,
một lănh địa nhỏ ở miền
Bắc đảo Kyushu, Fukuzawa đă ghi lại
trong hồi kư niềm phẫn uất của ông
khi nghĩ về thân phận của phụ thân
như sau : “Cha tôi vốn có căn tính
của một học giả ..., nhưng công
việc mà cha tôi đảm đang ở Osaka là
phải giao dịch với những nhà giàu có
... nhằm mượn tiền cho Nakatsu-han.
Cha tôi bất măn cùng cực về công
việc này .... Tuy vậy, h́nh như cha tôi không
bao giờ nghĩ tới chuyện rời Nakatsu
để đi t́m một công việc khác. Cha
tôi thường cam chịu mọi nỗi
bất b́nh, an phận với số bổng
lộc chẳng đáng bao nhiêu. Chắc
hẳn cha tôi biết vào thời đó
chẳng mấy ai có khả năng thay đổi
số phận của ḿnh. Cho đến nay tôi
thường nghĩ lại điều đó mà
nuối tiếc, thương hại cho cha tôi.
Dưới chế độ phong kiến,
thứ bậc xă hội ở Nakatsu-han
cứng nhắc, không thể nào thay đổi
tựa như thân phận những con cá
nằm chặt cứng trong hộp, qua mấy
trăm năm cũng chẳng có ǵ thay đổi.
Con karô (gia-lăo,
trọng thần trông nom tất cả công
việc trong lănh địa) th́ làm karô,
con ashigaru (túc-khinh,
cấp thấp nhất trong các hàng samurai)
th́ làm ashigaru,
đời này sang đời khác karô
vẫn là karô,
ashigaru
vẫn là ashigaru.
Những cấp bậc ở giữa cũng
thế, không hề xê dịch. Đối
với cha tôi, cho dầu có cố gắng
mấy đi chăng nữa cũng chẳng
tới đâu”.[8]
Hội viên Meirokusha c̣n
giống nhau về quá tŕnh hấp thụ giáo
dục. Lúc nhỏ họ đều theo học
chữ Hán (Kangaku,
Hán-học), sau đó chuyển sang Rangaku
(Lan-học), tức học tiếng Hà Lan và
nghiên cứu khoa học Tây phương
bằng tiếng Hà Lan, rồi cuối cùng
chuyển từ Rangaku
sang Yôgaku (Dương-học)
-- tức là ngành nghiên cứu Tây phương
qua những ngôn ngữ Tây phương khác như
tiếng Anh, tiếng Pháp hoặc tiếng Đức.
Tŕnh độ Hán học của mỗi thành
viên dĩ nhiên khác nhau. Nishimura có lẽ là người
có bản lĩnh Hán học thâm hậu
nhất. Nishimura được gọi là Gojusha
(Ngự-nho-giả), cấp bậc cao nhất
trong các chuyên gia Hán học, lúc mới 31
tuổi (!). Nishi là giảng viên Hán học
trong hankô
(phiên-hiệu), tức là trường dành riêng
cho giai cấp vũ sĩ trong lănh địa
của ḿnh. Fukuzawa tuy hấp thụ Hán học
từ nhỏ, nhưng đến mười
bốn, mười lăm tuổi mới
bắt đầu chú tâm đến việc
học hành. Tuy vậy, với trí thông minh và
óc phân tích bén nhạy có một không hai,
Fukuzawa học rất chóng, đặc biệt
thích nhất là Tả
truyện. Trong tự
truyện, Fukuzawa kể lại như sau : “Tả
truyện có mười lăm
tập, học tṛ phần đông đọc
ba bốn tập là xếp sách lại ngay. Tôi
đọc toàn bộ trước
sau cả thảy mười một lần,
thậm chí thuộc ḷng những đoạn lư
thú nhất trong Tả
truyện ” [9]
Ảnh
hưởng của Hán học đối
với các thành viên Meirokusha dĩ nhiên có
mức độ khác nhau tùy theo cá nhân và ít
nhiều đă thể hiện qua quá tŕnh
tiếp thu tư tưởng Tây phương
của mỗi người. Có điều là khác
với sĩ phu Trung Quốc và Việt Nam, trí
thức Nhật Bản đọc sách chữ Hán
để trau dồi trí thức chứ không có
mục đích giùi mài kinh sử để
đi thi. Chính nhờ vậy, họ có tư
duy độc lập, khách quan và không suy nghĩ
một cách rập khuôn. Trong trường
hợp các thành viên Meirokusha, họ đă dùng
vốn liếng Hán học của ḿnh để
chuyển ngữ hay giới thiệu những khái
niệm mới mẻ của Tây phương mà
trước đó chưa từng có trong
chữ Hán. Các tự vựng chữ Hán do người
Nhật sáng chế thường có tính
thuyết phục cao nên dễ được
chấp nhận hơn các từ chữ Hán do sĩ
phu Trung Quốc chuyển ngữ, có lẽ v́ các
trí thức Nhật Bản đă cân nhắc khách
quan hơn những điểm tương đồng
và dị biệt giữa hai môi trường văn
hóa Tây phương và Đông phương. Như
sẽ đề cập trong phần sau, có khá
nhiều hội viên Meirokusha đă đóng vai
tṛ quan trọng trong quá tŕnh tạo từ và
chuyển ngữ này. Những trí thức Trung
Quốc có đầu óc cải lương như
Khang Hữu Vi và Lương Khải Siêu sau
đó đă tiếp thu và sử dụng
những tự vựng do người Nhật sáng
chế, và cuối cùng sĩ phu nước ta
khi đọc say mê những tư tưởng
cận đại qua các sách Tân thư và Tân văn
của Khang Lương vào đầu thế
kỷ XX, vô h́nh trung đă đưa các
tự vựng này vào tiếng Việt. Vào
một trăm năm trước đây,
những tự vựng đó là nhịp
cầu bắt nối giữa sĩ phu nước
ta với các hội viên Meirokusha -- một
nhịp cầu mà chúng ta ngày nay vẫn sử
dụng thường xuyên nhưng không c̣n
mấy ai ư thức. [10]
Thứ đến,
một điểm giống nhau khác giữa các
hội viên Meirokusha là ít nhiều họ đă
khắc phục sự được bức tường
phân chia giữa khoa học và luân lư mà Sakuma Shôzan
(Zôzan) đă đề ra qua khẩu hiệu “Đông
phương đạo đức, Tây phương
kỹ thuật” (Tôyô dôtoku,
Seiyô geijutsu). Họ ư
thức về nhu cầu tiếp thu không
những khoa học và kỹ thuật mà c̣n
cả các giá trị tinh thần của văn
minh Tây phương. Là người đi tiên
phong trong phong trào khai sáng ở Nhật, Fukuzawa
cho rằng trong quá tŕnh tiếp thu văn minh Tây
phương, động tác cơ bản
nhất là đổi mới phong khí (kifû,
“khí-phong”, spirit/temperament)
trong học giới ở Nhật bằng cách
tiếp thu cốt lơi của văn minh Tây phương.
Tương tự, Nishi cũng đă viết như
sau trong bức thư gửi J. J. Hoffmann, vị
giáo sư mà Nishi đă thụ giáo trong
thời gian du học ở Leiden, Hà Lan, vào
thập niên 1860 :
Nhằm cải
thiện quan hệ với các nước Âu châu,
nội chính và các cơ chế ở Nhật
cần phải được đổi
mới. Nhưng muốn đổi mới th́
phải có kiến thức về các ngành
thống kê, luật pháp, kinh tế, chính
trị học, quan hệ ngoại giao, nhưng
các ngành này chưa có ai dạy ở Nhật.
Bởi vậy, mục đích của chúng tôi
là học đủ mọi thứ và nghiên
cứu cơ sở triết học của các
ngành đó. V́ cơ sở tôn giáo trong
luật pháp của nước chúng tôi khác
với triết học của Descartes, Locke,
Hegel, và Kant, chúng tôi sẽ nghiên cứu
tất cả .... Chúng tôi cảm thấy
việc nghiên cứu các đề tài này
sẽ có ích cho việc nâng cao tŕnh độ
văn hóa của chúng tôi.[11]
Một điểm
tương đồng khác nữa giữa các
hội viên Meirokusha là họ đều là bakushin
(mạc-thần), nói nôm na là họ là “di
thần” (ishin)
của cựu chính quyền Tokugawa bakufu.
Nishi, Katô, Sugi, Tsuda, Mitsukuri Rinshô là giảng viên
của trung tâm nghiên cứu thư tịch Tây
phương, ban đầu hăy c̣n gọi là
Bansho Shirabesho (Phiên-thư Điều-sở),
tiền thân của Kaiseisho đă nói ở trên.
Mặt khác, Fukuzawa và Mitsukuri Shûhei là chuyên gia
ở Nha dịch thuật (Hon’yakukata) do chính
quyền Tokugawa thiết lập năm 1864.
Sau khi chính
quyền Tokugawa bị lật đổ và chính
phủ Minh Trị ra đời, ngoại
trừ Fukuzawa, các hội viên Meirokusha trở thành
những viên chức cao cấp trong chính
phủ mới. Cụ thể, vào thời điểm
Meirokusha được thành lập, Katô
vừa làm thị giảng (thầy giảng sách
cho thiên hoàng) vừa làm thư kư Kunaichô
(Cung-nội-sảnh) -- cơ quan lo tất
cả mọi việc có liên hệ tới hoàng
tộc, tương đương với Tôn
nhân phủ ở Việt Nam ngày trước;
Nishi là thứ trưởng Quốc pḥng; Mori là
phụ tá thứ trưởng bộ Ngoại
giao; Nishimura làm trưởng pḥng biên tập
của bộ Giáo dục, v.v. Đương
nhiên có người sẽ hỏi tại sao các
hội viên Meirokusha nguyên là công nhân viên
của chính quyền cũ (Tokugawa) mà sau khi chính
quyền đó bị lật đổ lại
tham gia, hay có thể tham gia, chính quyền
mới (Minh Trị) ? Vào cuối đời
Tokugawa, quả đúng là nhóm vận động
lật đổ chính quyền Tokugawa do Satsuma-han
và Chôshû-han
dẫn đầu có khuynh hướng bài
ngoại, và những trí thức Tây học sau
này quy tụ trong hội Meirokusha không mấy thích
họ cũng chính v́ lư do đó. Tuy nhiên, sau
khi lật đổ chính quyền Tokugawa, chính
phủ Minh Trị lại hết sức tích
cực áp dụng chính sách “Văn minh khai hóa”,
thâu dụng nhân tài trong nỗ lực tiếp
thu văn minh Tây phương nhằm bắt
kịp với liệt cường, do đó các
trí thức trong chính quyền cũ, trong đó
có các thành viên Meirokusha, có được
đất dụng vơ nên đă đem hết ḷng
ra cộng tác.
3. Tư tưởng
khai sáng của thành viên Meirokusha :
V́ Meirokusha quy tụ
những nhà Tây học có tư tưởng
khai sáng tiêu biểu ở Nhật lúc bấy
giờ, có thể xem tư tưởng khai sáng
của họ cũng chính là tư tưởng
khai sáng của nước Nhật nói chung.
Ernst Cassirer đă từng viết : “Chính người
khởi đầu bộ Bách
khoa toàn thư là Diderot đă
nói rằng mục đích của bộ Bách
khoa toàn thư quyết không
phải để cung cấp những tri
thức đặc biệt mà để
biến đổi phương pháp tư duy,
hay nói cách khác là được biên soạn
nhằm [khuyến khích người đọc]
biến đổi cách suy nghĩ nói chung. Khi
đă tự giác về nhiệm vụ này, các
tư tưởng gia đương thời
cảm thấy phấn chấn và náo nức
trong ḷng”.[12]
Đối với những thành viên Meirokusha,
họ tự giác về nhiệm vụ phải
cung cấp cho dân chúng những kiến thức
mới, nhưng đồng thời họ cũng
ư thức việc đổi mới tư duy
dựa theo lối ṃn của Nho giáo nói chung
mới chính là nhiệm vụ cơ bản.
3.1 Chúng ta thử lướt qua
một vài tác phẩm tiêu biểu của các
thành viên trước khi Meirokusha được
thành lập.
Những tác phẩm khải mông tiêu
biểu vào thập niên 1860 là Tonarigusa
(Lân-thảo, tức Cỏ nhà láng giềng ;
1861) của Katô, Seiyô jijô (Tây-dương
sự-t́nh ; 1866-70) của Fukuzawa, và Hyakuichi
shinron (Bách-nhất-tân-luận) của
Nishi.
Tonarigusa là
trước tác đầu tay của Katô và cũng
là tác phẩm đầu tiên ở Nhật
Bản bàn về chế độ lập
hiến. Tác phẩm này đồng thời
thể hiện nhận thức của tác
giả về tầm quan trọng của vai tṛ
“chế độ” trong chính trị. Vào
thời điểm này Katô hăy c̣n dùng toàn
những kích thước Nho giáo để
đánh giá văn minh Tây phương. Theo Katô,
để có được “nhân ḥa”,
cần thực hiện một nền “chính
trị công minh chính đại với cốt lơi
là nhân nghĩa”, nhưng yếu tố quan
trọng của “nhân chính” không tùy thuộc
vào tư chất hay tấm ḷng của người
cầm quyền (iseisha,
vi chính giả) mà là vấn đề “chính
thể”. Katô kết luận : “Xem như
thế, chính thể do các vua đời trước
(tiên vương) đặt ra cũng có
chỗ bất đạt”. Katô cho rằng lư
do khiến Trung Quốc thất bại trong
chiến tranh Nha phiến không phải v́
yếu kém về quân sự mà tại v́ Trung
Quốc không có một chính thể thích
hợp. Theo Katô, thể chế thích hợp
nhất cho Trung Quốc là chế độ
lập hiến, đặc biệt chế độ
nghị hội. Trong sách này, kỳ thật Katô
đă mượn chuyện Trung Quốc dưới
triều Thanh để bàn về Nhật
Bản. Ông lấy tên sách là Lân
thảo v́ sợ đụng
chạm tới chính quyền Tokugawa. Tuy vậy,
tác phẩm này cũng chỉ lưu hành dưới
dạng chép tay chứ không được
xuất bản trước thời Minh Trị.
Seiyô jijô của
Fukuzawa là tác phẩm có ảnh hưởng
lớn nhất vào thập niên 1860 và đầu
thời Minh Trị. Tác phẩm này một
phần dựa theo những điều mắt
thấy tai nghe của tác giả qua 3 lần
viếng thăm các nước Âu Mỹ vào
thập niên 1860, một phần dựa trên
những kiến thức mà tác giả đă
thu thập từ không biết bao nhiêu sách
vở và từ điển mà tác giả đă
chọn lựa mua về để tham khảo.
Sách có nhiều h́nh minh họa, bàn về
những điều cụ thể mà độc
giả đương thời náo nức
muốn t́m hiểu về các nước Tây phương
trên các lănh vực văn hóa, kinh tế, chính
trị, quân sự, phong tục tập quán, v.v.
Ngoài các nước Tây phương, Fukuzawa cũng
đề cập đến t́nh trạng đen
tối ở các nước thuộc địa
ở Á châu và Phi châu. Ư thức sâu sắc
về vai tṛ giáo dục của người
cầm viết, văn phong của Fukuzawa sáng
sủa, gẫy gọn mà hàm súc. Bởi
vậy, không phải ngẫu nhiên mà Seiyô
jijô và nhiều tác phẩm
khác sau đó của Fukuzawa là những cuốn
sách được độc giả đủ
mọi tầng lớp yêu thích và bán chạy
nhất. Từ thập niên 1860 cho đến lúc
Fukuzawa từ trần vào năm 1901, các tác
phẩm của Fukuzawa được phát hành
đến hơn 1 triệu cuốn.
Nhằm dịch từ philosophie,
Nishi là người đă sáng tạo từ
“triết học” (tetsugaku)
mà ngày nay chúng ta dùng trong tiếng Việt.
Nishi đặc biệt quan tâm đến lư
luận triết học và đă để
lại nhiều trước tác về luân lư
học, luận lư học và các h́nh thái
học thuật nói chung. Trong Hyakuichi
shinron, một tác phẩm
viết dang dở, Nishi phê phán Nho giáo (chắc
hẳn Nishi muốn nói Tống Nho) trên hai điểm.
Điểm thứ nhất là không phân biệt
giữa “chính” và “giáo”. Theo Nishi, trong Nho
giáo, cách hiểu chữ “nhân đạo” bao
gồm cả cách “trị nhân” (trị người)
là sai lầm. Chẳng hạn như câu “Tu thân
tề gia trị quốc b́nh thiên hạ” trong
Đại học
bị hiểu lầm theo nghĩa là “tu thân
trị nhân”, tức là một khi đă tu thân
th́ có thể trị người, hoặc
một khi có “thành ư chính tâm” th́ có thể
“b́nh thiên hạ”. Nishi cho rằng Đại
học chỉ là một
loại sách chỉ nam. Nishi viết : “Đối
với Khổng Tử, chữ lễ hàm ư là
‘làm chính sự th́ không thể không
học’, giống như Ogyû Sorai [13]
đă nói là ‘Đạo của tiên vương
chính là lễ nhạc” hoặc “Đạo là
đạo tiên vương’.... Khổng Tử
là học giả về chính sự, nên
những học thuyết về ‘đạo
đức nhân nghĩa’ bất quá chỉ là
nội tạng”. Điểm thứ hai mà Nishi
phê phán Nho giáo là không phân biệt giữa “tâm
lư” và “vật lư” : “Ở Trung Quốc,
khi có nhật thực, người ta cho
rằng v́ nhà vua bỏ bê triều chính nên
Trời mới ra dấu hiệu đó để
răn bảo ; thả hoặc, [ở Nhật]
người ta nói nhờ [nhà sư] Nichiren [14]
cầu nguyện nên sóng thần mới
trỗi lên đánh bạt chiến thuyền
của quân Mông Cổ.... Nói như vậy
tức là đă gom “vật lư” và “tâm lư”
lại làm một, và thật sai lầm khi cho
rằng có thể biến sức mạnh
của ḷng người (tâm lực) thành
sức mạnh vật lư trong thiên nhiên”.[15]
Có thể nói tư tưởng của Sorai mà
Nishi đă kế thừa và phát triển là viên
gạch nối giữa tư tưởng
truyền thống ở Nhật Bản và văn
hóa Tây phương.
3.2 Một tháng sau khi hội Meirokusha
được chính thức thành lập,
số báo đầu tiên của hội mang tên
là Meiroku zasshi (Minh-lục
tạp-chí ; MRZ) ra đời vào tháng 3, 1874. Là
“tạp chí tổng hợp” (composite
magazine) đầu tiên ở Nhật
Bản, mặc dầu không “trường
thọ”, MRZ có ư nghĩa vô cùng quan trọng
trong lịch sử khai sáng ở Nhật
Bản. Trong 8 tháng đầu, MRZ là một bán
nguyệt san và được dự trù phát hành
mỗi tháng 3 lần từ tháng 11, 1874. Tuy nhiên,
trên thực tế, mức độ phát hành cũng
thay đổi tùy theo tháng. Theo báo cáo của
Mori vào tháng 2 năm 1875, 25 số báo được
phát hành trong năm 1874 với số lượng
tổng cộng là 105.984 số, tính trung b́nh
số lượng phát hành là 3.200 mỗi
kỳ. Cũng vào lúc đó, nhật báo bán
chạy nhất ở Nhật là tờ Tokyo
Nichinichi phát hành mỗi ngày 8.000 số.
Xem thế, ta cũng có thể ước
chừng ảnh hưởng to lớn của
MRZ.
Cho đến khi đ́nh bản, MRZ
phát hành được tất cả 43 số
báo. Đề tài của hơn 100 bài tiểu
luận bao quát hầu hết mọi ngành
: chính trị, kinh tế, lịch sử, giáo
dục, triết học, tôn giáo, luật pháp,
khoa học thiên nhiên, v.v. Với mục tiêu
khai sáng, những ư tưởng tŕnh bày trong
MRZ là luồng gió mới thổi vào luận
đàn trí thức ở Nhật lúc bấy
giờ. Chúng ta thử xem đề tài và
nội dung của một số bài tiêu
biểu.
Trong số báo đầu
tiên, Nishi đề nghị nên dùng mẫu
tự La Tinh để biểu thị tiếng
Nhật. Theo Nishi, giống như nước
Nhật ngày xưa đă dùng chữ Hán để
tiếp thu văn minh Trung Hoa, ngày nay, nhằm phát
triển Tây học hơn nữa, người
Nhật nên dùng mẫu tự La Tinh. Một khi
đă sử dụng mẫu tự La Tinh,
việc học các ngôn ngữ Tây phương
sẽ dễ dàng hơn, việc dịch
thuật sách vở, các ngành kế toán, v.v. cũng
sẽ tiện lợi
hơn.[16]
Trong “Kyômonron” (Giáo-môn-luận, tức “Bàn
về tôn giáo”), Nishi triển khai những ư tưởng
từ Hyakuichi shinron
đă đề cập ở trên, cực
lực đả kích chính sách kết hợp
Shinto và chính trị của chính phủ Minh
Trị trong những năm đầu, gọi
chính sách đó là shinkyô seiji
(thần-giáo chính-trị, theocracy).
Theo Nishi, chính phủ Minh Trị “phải tách
rời chính trị ra khỏi tôn giáo và không
để cái hại (gai)
của tôn giáo trở thành cái hại của
chính trị”. Nhằm thay đổi quan
niệm luân lư của người Nhật,
Nishi chủ trương cần xem 3 tiêu
chuẩn quư báu nhất của con người
là “sức khỏe” (mame),
“trí thức” (chie)
và “tài sản” (tomi),
thay cho các tiêu chuẩn trước đó là
“ôn nhu” (onju),
“đôn hậu” (tonkô),
“cung khiêm” (kyôken,
tức khiêm tốn) và “quả dục” (kayoku,
tức bỏ bớt ḷng ham muốn). Trong bài
“Kaika o susumeru hôhô o ronzu”
(Bàn về phương pháp phát triển khai sáng),
Tsuda nhấn mạnh nhu cầu xây dựng
một nền “thực học” (jitsugaku)
nhằm thay thế “hư học” (kyogaku)
là cái học rỗng tuếch. Trong những bài
khác, Tsuda chủ trương
phải có tự do xuất bản,[17]
băi bỏ chế độ tra tấn [18]
và án tử h́nh.[19]
Tsuda cũng là người chủ trương
nên dùng Âu phục thay thế cho trang phục
Đông phương, bởi lẽ khác với
trang phục Đông phương, Âu phục không
phân biệt sang hèn.[20]
Mặt khác, trong loạt bài “Bàn về thê
thiếp”, Mori chỉ trích việc có vợ
lẽ.[21]
So với các thành viên khác trong
Meirokusha, Fukuzawa giữa thái độ bàng quan
đối với tạp chí MRZ. Thái độ
này thể hiện qua số bài Fukuzawa viết
cho tạp chí. Cụ thể, trong khi Katô đóng
góp 6 bài, Mori 11 bài, Nishi 25 bài, Tsuda 29 bài,
Fukuzawa chỉ viết 3 bài. Bài đóng góp
đầu tiên của Fukuzawa mang tên là “Seitai
wagi no enzetsu” (Bài diễn thuyết về
đàm phán ḥa b́nh về Đài Loan) rất
đáng chú ư, bởi lẽ đây cũng là bài
“diễn thuyết” đầu tiên ở
Nhật Bản. Fukuzawa đọc bài diễn
thuyết này vào ngày 16 tháng 11, 1874 trong buổi
họp định kỳ của thành viên
Meirokusha tổ chức vào ngày 1 và ngày 16
mỗi tháng ở nhà ăn Seiyôken, nơi
tụ họp của tao nhân mặc khách ở
khu Ueno, Tokyo. Bài diễn thuyết của Fukuzawa
có mục đích đả kích quan điểm
của Mori và các hội viên khác v́ họ cho
rằng tiếng Nhật bất quá chỉ là
một thứ tiếng dùng hàng ngày chứ không
phải là ngôn ngữ có thể dùng nói trước
đám đông. Lúc này, nhân chính phủ Minh
Trị đang đàm phán ḥa b́nh với Trung
Quốc về việc xung đột quân
sự ở Đài Loan giữa hai nước,
Fukuzawa dùng đề tài này để tự ḿnh
diễn thuyết bằng tiếng Nhật trước
các hội viên khác. Cũng cần nói thêm là
để dịch chữ public
speech, chính Fukuzawa là người đă sáng
tạo từ “diễn thuyết” (enzetsu)
mà chúng ta vẫn dùng trong tiếng Việt ngày
nay.
Thái độ bàng quan của Fukuzawa
đối với MRZ c̣n thể hiện qua
việc Fukuzawa quyết định, ngay trước
khi số báo MRZ đầu tiên ra đời,
xuất bản tờ Minkan zasshi
(Dân-gian tạp-chí ; People’s Magazine) với
sự cộng tác của các môn đệ
ở trường Khánh Ứng Nghĩa thục
(Keiô Gijuku) do Fukuzawa sáng lập. Tôn chỉ
của tạp chí này là cung cấp cho độc
giả sống ở đô thị những thông
tin về đời sống của người
dân ở vùng thôn quê, tường tŕnh
những nguyện vọng của nông dân và t́m
kiếm phương sách giải quyết
những nguyện vọng đó bằng cách
tra cứu sách vở Tây phương. Nếu
chỉ xem tôn chỉ, ta có cảm tưởng Minkan
zasshi chú trọng đến đời
sống nông dân, nhưng kỳ thực nội
dung của tạp chí này so với MRZ cũng không
mấy khác nhau. Khi viết tôn chỉ đó,
chắc hẳn Fukuzawa đă ư thức về
sự khác biệt giữa ông, một học
giả không làm việc cho chính quyền
(tiếng Nhật gọi là zaiya
gakusha, tại-dă học-giả), và
những thành viên khác đều là nhân viên chính
phủ.
Trong cuốn Gakumon
no susume (Khuyến học)
xuất bản vào tháng giêng năm 1874, thiên 4,
nhan đề là “Gakusha no
shokubun o ronzu” (Bàn về
chức phận của học giả), Fukuzawa
lần đầu tiên dùng những lời
lẽ khá nặng nề để công kích các
thành viên khác trong Meirokusha. Trước
hết, Fukuzawa nhận định rằng trong
một nước, “những
việc có nội dung liên quan đến chính sự
nói chung th́ do chính phủ
đảm nhiệm”, c̣n “trong những công
việc của người dân có nhiều
chuyện chính phủ không nên can dự”.
Fukuzawa khẳng định rằng “công
việc của một nước
nói chung chỉ có thể thuận buồm xuôi
gió một khi nhân dân và chính phủ độc
lập với nhau (ryôritsu,
lưỡng
lập)”. Theo ông, sự nghiệp duy tân ở
Nhật cho đến lúc bấy giờ
chưa có “hiệu quả”
bởi v́ “chính phủ th́ vẫn là chính
phủ chuyên chế như trước mà dân
th́ trước
sau vẫn là một đám dân ngu (gûmin,
sic) không có
khí lực ; thả hoặc, nếu có tiến
bộ chăng nữa, th́ rất ít khi thấy
có trường
hợp nào có thể nói là xứng công
xứng của”.[22]
Nhằm phát triển văn minh ở Nhật
Bản, Fukuzawa cho rằng “không thể chỉ
trông đợi vào sức của chính
phủ”. Muốn thay đổi phong khí
của nước Nhật, theo Fukuzawa, ngoài
những nhà Tây học (yôgakusha)
th́ chẳng c̣n có ai khác nữa. Có điều
là “khó phó thác trách nhiệm này cho họ
được”. Lư do ? Fukuzawa giải thích như
sau : “Các học giả quân tử samurai
này chỉ biết có quan
chứ không biết tư
(ngoài chính phủ, private sector),
chỉ biết nh́n từ chính phủ ở trên
chứ không biết nh́n những ǵ phía dưới
chính phủ. Rốt cuộc, họ không tránh
được những tệ tục của
những nhà Hán học (Kangakusha)
– tựa hồ như thân thể của
họ là Tàu mà áo măo của họ là Tây”.[23]
Fukuzawa kết luận : “Trước hết, tôi
sẽ là người bắt tay vào công
việc ấy, không những chỉ dẫn
dắt ngu dân [sic],
mà c̣n làm người đi tiên phong cho các nhà
học giả Tây học”.[24]
Trước sự đả
kích của Fukuzawa, Katô, Mori, Tsuda và Nishi tức
th́ phản bác đồng loạt trong số 2
của MRZ. Katô viết : “Lập luận
của tiên sinh [Fukuzawa] là lập luận khai phóng
(liberal). Khai
phóng cũng không sao cả. Các nước Âu
châu gần đây sở dĩ có thể phát
triển được như thế cũng là
nhờ chủ nghĩa khai phóng. Nhưng nếu
chủ nghĩa khai phóng đi quá mức th́
quốc quyền (kokken)
chắc chắn sẽ bị suy yếu....
Nếu nghĩ rằng việc nước
(kokumu,
quốc-vụ) và việc dân (minji,
dân-sự) hai đàng thảy đều quan
trọng, th́ những học giả Tây học
sẽ cứ tùy theo tài năng và tùy theo ngành
học, người làm cho chính phủ, người
đi làm tư -- thiết nghĩ như thế
mới là không có thành kiến”.[25]
Nhằm biện hộ
cho những học giả làm trong chính phủ,
Mori cho rằng Fukuzawa đă đi quá mức khi
chủ trương rằng “nhân dân và chính
phủ” phải “độc lập với
nhau mới có hiệu quả”. Theo cách nh́n
của Mori, “nhân viên chính phủ (kan’in,
quan-viên) cũng là dân, quư tộc cũng là dân,
và người b́nh dân cũng đều là dân
cả. Mỗi một người mang quốc
tịch Nhật Bản không thể không
gọi là người dân nước Nhật và
do đó phải san sẻ trách nhiệm. Chính
phủ là chính phủ của muôn họ,
thiết lập v́ dân, và dựa vào dân....
Nếu nói như tiên sinh [Fukuzawa] là tất
cả học giả phải rời chính
phủ, th́ hóa ra lợi ích chung kết cục
sẽ được phó thác vào tay của toàn
những người thất học trong chính
phủ hay sao ? Bởi vậy, thiết nghĩ
cao kiến của tiên sinh cũng chưa
hẳn là đúng”.[26]
Tsuda có thái độ
gần Fukuzawa hơn, nhưng ít nhiều ông
vẫn giữ lập trường của
một nhà cựu học. Tsuda so sánh quốc
gia với thân thể con người : chính
phủ tựa như “sinh lực” hay “tinh
thần”, nhân dân tựa như “phần ngoài”
hay “thân xác”. “Tinh thần và thân xác có ḥa
hợp với nhau mới gọi là thân thể
con người, chính phủ và nhân dân ḥa
hợp với nhau mới có quốc gia”,
quốc gia sẽ không c̣n tồn tại
nếu thiếu chính phủ hay thiếu nhân dân.
Tsuda nhận xét : “Ở Nhật Bản xưa
nay ít có tinh thần tư
lập, hay nói đúng hơn
là hầu như không có. Đây là điều
rất đáng ưu lự. Chế độ
quân chủ với quyền lực vô hạn
định là thông lệ ở nước
Nhật xưa nay. Mệnh lệnh của chính
phủ cho dù vô lư đến đâu chăng
nữa, người dân cũng phải phục
tùng”. Tuy nhận xét của Tsuda rất
giống Fukuzawa, nhưng ông chọn giải pháp
ôn ḥa hơn : “Tôi mong mỏi rằng khi ra
sức chủ trương tự do dân chủ
cho nhân dân, chúng ta sẽ nuôi dưỡng phong
khí tự chủ tự do trong dân chúng để
người dân biết rằng họ có
thể cự tuyệt những yêu cầu,
những đ̣i hỏi không hợp lư của
chính phủ. Cho dù học giả làm việc
trong chính phủ hay ở ngoài chính phủ,
mỗi người sẽ tùy theo cương
vị của ḿnh mà tận tâm tận
lực”.[27]
Nishi cho rằng “lập
luận của Fukuzawa tuy nghe sướng tai (meikai,
minh-khoái) nhưng không khỏi không có vấn
đề”. Nishi xác nhận là ông hoàn toàn
đồng ư với nhận xét của Fukuzawa
rằng “chính phủ th́ vẫn là chính
phủ chuyên chế như trước mà dân
th́ trước sau vẫn là một đám dân
ngu không có khí lực”. Tuy nhiên, theo Nishi,
tệ trạng đó đă không xảy ra
một sớm một chiều nên cũng không
dễ ǵ có thể cải thiện trong
chốc lát. Ông cho rằng cần có những
học giả có tinh thần khai sáng ở trong
chính phủ mới có thể “kích thích sinh
lực của chính phủ”. Đồng
thời, cũng phải có những học
giả ở ngoài chính phủ mới có
thể gây tác dụng kích thích dân chúng, có
điều là những tác dụng này phải
có mức độ thích nghi”.[28]
Ngoài cuộc tranh luận về vai tṛ
của học giả đối với chính
phủ, vấn đề điều trần
nhằm kêu gọi chính phủ thành lập “dân
tuyển nghị viện” (minsen
giin, tức quốc hội ngày
nay) cũng là một đề tài được
bàn căi nảy lửa trên MRZ. Bản điều
trần được Itagaki Taisuke (Bản-viên
Thoái-trợ ; 1837-1919), một chính trị gia có
tư tưởng dân quyền không tham gia
Meirokusha, đề xuất cho chính phủ vào
tháng 1 năm 1873 -- tức trước khi
hội Meirokusha được thành lập. Khá
nhiều thành viên Meirokusha không đồng ư
với bản điều trần với lư do
là “dân trí ở Nhật chưa được
khai sáng”.
Katô nổ phát súng đầu
tiên. Ông cho rằng v́ dân chúng Nhật Bản
chưa được mở mang bao nhiêu, nên
nếu phó thác quốc sự cho những dân
biểu chưa mở mang để rồi
họ sẽ đảm nhiệm việc
soạn thảo luật lệ hay hiến pháp
th́ chẳng khác ǵ “trèo cây bắt cá”.
Dựa trên lư luận của Bluntschli,[29]
Katô viết bài “Bàn về tính bất khả
thi của dân tuyển nghị viện” [30],
sau đó đăng trên MRZ số 3, nhằm
chống lại bản điều trần.
Cuộc tranh luận về đề tài này kéo
dài trong 25 số báo tiếp. Giống như Katô,
Nishi cho rằng một khi dân trí hăy c̣n chưa
được mở mang th́ chưa nên nghĩ
tới việc thiết lập dân tuyển
nghị viện. Theo ông, mọi cơ chế chính
trị phải được áp dụng “tùy
thời tùy lúc”. Mặt khác, Nishimura cho
rằng mặc dù ông tin rằng chính thể
cộng ḥa (republicanism)
là chính thể tối ưu, tuy nhiên, do lư do
thực tế, ông thấy chính thể “quân
chủ lập hiến” (constitutional
monarchy) sẽ thích hợp hơn
cho nước Nhật v́ theo ông, dân chúng
ở Nhật chưa được khai sáng
đến mức độ có thể áp
dụng chính thể cộng ḥa.[31]
Thái độ của
Fukuzawa đối với bản điều
trần khác với các thành viên khác và cũng
khác với quan điểm của chính ông trước
đó. Fukuzawa không phát biểu trên MRZ, nhưng
bày tỏ ư kiến của ḿnh trên tạp chí
Minkan zasshi.
Trước hết, về chủ trương
của Katô là dân tuyển nghị viện
chỉ nên thành lập một khi dân trí đă
được mở mang, Fukuzawa cho rằng Katô
đă có nhận định sai lầm, bởi
lẽ ngay tại các nước tiên tiến Tây
phương, giới thức giả cũng
chỉ ở trong các giai cấp thượng lưu
hay trung lưu mà thôi. Theo Fukuzawa, ở
Nhật Bản
thật ra cũng có thức giả và chính do
“sinh lực” của họ
mà chính quyền Tokugawa đă bị lật
đổ và sinh lực này đang được
thể hiện qua các nhà lănh đạo trong chính
phủ Minh Trị. Fukuzawa cho rằng trên
thực tế, chính phủ
Minh Trị không phải là một chính phủ
chuyên chế như Tokugawa bakufu,
nhưng sở dĩ người ta thấy chính
phủ Minh Trị có vẻ chuyên chế
bởi v́ các chính trị gia hăy c̣n bị câu
thúc bởi những tệ tục và những
lối suy nghĩ đă bám rễ từ lâu
đời. Họ lầm tưởng rằng
ngoài những biện pháp chuyên chế th́ không
c̣n cách nào khác để lèo lái chính
quyền. Bởi thế, theo Fukuzawa, việc
cần kíp nhất là phá vỡ các tệ
tục và tư duy lỗi thời bằng cách
thiết định những cơ chế để
chính phủ phải san sẻ “quốc
quyền” với dân chúng, cụ thể là dân
tuyển nghị viện và nghị hội
ở các cấp huyện và thành phố.[32]
Bản điều trần của
Itagaki về dân tuyển nghị viện
trở thành một đề tài nóng bỏng
từ đầu năm 1875. Hầu hết báo
chí ở vùng Tokyo-Yokohama tập trung thảo
luận về vấn đề này. Mặt khác,
nhóm chủ trương cử quân sang Hàn
Quốc cũng muốn khích động báo chí
nhằm chống lại chính quyền trung
ương. Trước t́nh thế đó, chính
phủ Minh Trị ban hành đạo luật
mới về báo chí, bắt buộc tác
giả phải kư tên thật khi đăng bài
hay gửi thư đăng báo, đồng
thời cấm chỉ việc chỉ trích nhân
viên chính phủ hay kêu gọi lật đổ
chính quyền. Sự ra đời của đạo
luật mới này khiến việc phát hành
tạp chí MRZ, một tờ báo có mục tiêu
khai sáng, đi vào ngơ cụt. Trong buổi
họp vào tháng 9, 1875, Mitsukuri Shûhei đề
nghị đ́nh bản MRZ. Mori th́ muốn
tiếp tục xuất bản v́ theo ông
hội Meirokusha hăy c̣n nhiều công việc
phải làm về văn hóa và giáo dục.
Fukuzawa cho rằng đạo luật báo chí
mới đi ngược lại đường
lối khai sáng của hội Meirokusha, do đó,
giải pháp thích hợp nhất là ngưng
chỉ phát hành MRZ, sau đó các hội viên khi
chấp bút mỗi người sẽ chịu
trách nhiệm cho chính ḿnh. Ư kiến của
Fukuzawa được đưa ra biểu
quyết và được thông qua. Tuy nhiên, trên
thực tế, phải đến tháng 11, 1875
MRZ mới đ́nh bản thực sự.
4. Thử
đánh giá vai tṛ khai sáng của
Meirokusha :
Hội trí thức Meirokusha rốt
cuộc chỉ tồn tại chừng 21 tháng.
Như chúng ta đă thấy, trong khoảng
thời gian ngắn ngủi này, các thành viên có
nhiều ư kiến khác nhau về các vấn
đề quan trọng như chức năng
của học giả đối với chính
quyền hay bản điều trần về dân
tuyển nghị viện. Trong bối cảnh
của Nhật Bản cận đại, chúng
ta nên đánh giá vai tṛ và ư nghĩa của
hội trí thức Meirokusha trong phong trào khai sáng
ở Nhật như thế nào ?
Trước khi tham gia Meirokusha, như
chúng ta đă thấy, các thành viên đă
nổi tiếng là những trí thức khai sáng.
Tư duy và cá tính của họ không đồng
nhất. Thoạt nh́n, có người chắc
hẳn không khỏi thắc mắc về t́nh
trạng thiếu đoàn kết giữa các
hội viên. Tuy nhiên, những tranh luận trên
MRZ – tiêu biểu là những ư kiến xung
đột giữa Fukuzawa và Katô – nên xem như
những cuộc căi cọ trong nhà, bởi
lẽ mỗi thành viên đều thao thức
bởi sứ mạng khai sáng quần chúng.
Thứ nữa, v́
Meirokusha là một nhóm trí thức khai sáng,
lập trường và quan điểm khác nhau
giữa các thành viên cần được
đánh giá tích cực v́ chính sự khác
biệt cùng những cuộc thảo luận
thẳng thắn trên MRZ đă đóng góp cho
nguyên tắc tương đối trong
việc h́nh thành tính đa dạng của tư
duy. Ta thử lấy ví dụ : Cuộc bàn căi
về vai tṛ của người trí thức
đối với chính quyền giữa Fukuzawa,
một học giả ở ngoài chính phủ, và
Katô, đại diện cho những trí thức
phục vụ trong chính quyền, đă
đưa đến hai trào lưu học
thuật ở nước Nhật cận và
hiện đại. Với tư cách là người
sáng lập trường Khánh Ứng Nghĩa
thục (Keiô Gijuku), Fukuzawa được xem là
người mở đầu cho truyền
thống học thuật và trường ốc
độc lập với chính phủ (shigaku,
tư-học), tức private
academy. Ngược lại, Katô,
sau đó trở thành hiệu trưởng
đầu tiên của trường Đại
học Đông kinh (1877), là cha đẻ
của truyền thống học thuật và trường
ốc do nhà nước thiết lập và nâng
đỡ (kangaku,
quan-học), tức official
academy. Những thành quả này
có thể xem là một đóng góp quan trọng
của hội Meirokusha, bởi lẽ trước
đó v́ không có truyền thống tự do
thảo luận nên người ta thường
chụp mũ, đơn giản dán nhăn
hiệu tà thuyết (kyotan bôsetsu,
hư-đản vọng-thuyết) cho những
ư kiến đối lập.[33]
Nếu nh́n như trên th́
việc đ́nh bản của tạp chí MRZ không
có nghĩa là những hoạt động khai sáng
của các thành viên Meirokusha cũng đă cáo
chung. Trên thực tế, từ tháng 11, 1875, các
thành viên hoạt động độc lập
và đă đóng góp hết sức hết ḷng
cho sự nghiệp canh tân đất nước
Nhật Bản cho đến giờ phút
cuối cùng. Cần nói thêm là khi Tokyo Gakushi
Kaiin (Đông Kinh Học-sĩ-hội Viện) [34]
được thành lập vào năm 1879
dựa theo mô h́nh của các hàn lâm viện Âu
châu, Fukuzawa được cử làm Viện trưởng,
7 hội viên trong tất cả 11 hội viên
được bầu ra là cựu thành viên
của Meirokusha.
Cần lưu ư là sở dĩ
hội trí thức Meirokusha đă có những
đóng góp quan trọng cho xă hội Nhật
Bản vào đầu thời Minh Trị là v́
các thành viên không bao giờ xa rời thực
tế của đất nước họ. Chính
v́ gắn bó với thực tế nên mỗi
thành viên đă trang bị với những
kiến thức “bách khoa toàn thư” nhằm
đáp ứng nhu cầu của nước
Nhật lúc bấy giờ. Ngoại trừ Kanda
Kôhei và Tsuda Sen không bao giờ ra khỏi lănh
vực chuyên môn của họ là Nông học và
Kinh tế tài chánh, những thành viên khác đều
có kiến thức uyên bác và hoạt động
trên nhiều lănh vực. Họ là cha đẻ
của nhiều ngành nghiên cứu ở
Nhật. Nishi là người đi tiên phong
về nghiên cứu triết học, Mitsukuri
Rinshô là người sáng lập ngành nghiên
cứu luật pháp, Sugi là cha đẻ của
ngành thống kê, v.v. Tên tuổi của mỗi
thành viên đều dính liền với
lịch sử giáo dục ở Nhật Bản
trong thời cận đại. Tinh thần samurai
của bushidô (vũ-sĩ-đạo)
và ư thức dấn thân của kẻ sĩ
trong Nho giáo chắc hẳn là động cơ
thúc đẩy sứ mạng khai sáng của
mỗi thành viên.
Cuối cùng, như đă
nói ở trên, động cơ chính yếu
trong việc tiếp thu văn hóa tiên tiến
của Tây phương vào đầu thời
Minh Trị là nhu cầu canh tân đất nước
nhằm bảo vệ độc lập
quốc gia. Bởi vậy, trong tư duy của
các nhà tư tưởng vào thời Minh
Trị nói chung, minken
(dân-quyền) luôn luôn đóng vai tṛ thứ
yếu so với quyền lợi quốc gia (kokken,
quốc-quyền). Ngay chính khi các nhà tư tưởng
khai sáng kêu gọi mở rộng dân quyền,
mục tiêu tối hậu của họ cũng
là nhằm củng cố kokken
của nước Nhật. Bởi vậy, không
phải ngẫu nhiên mà Nishi đă viết
về nhiệm vụ của người trí thức
khai sáng trong Meirokusha như sau
: “Các bậc hiền trí hiếm hoi trong nước
phải dần dần dẫn dắt mở mang
những kẻ ngu muội, tựa như khi
nhổ sạch cỏ dại mà tránh không động
đến những hạt mầm đă gieo”.[35]
Nói cách khác, mục tiêu khai sáng theo cách nh́n
của Nishi và các thành viên khác trong Meirokusha là
nâng cao kiến thức của quần chúng nói
chung chứ không hẳn là làm thức
tỉnh lư tính của mỗi cá nhân để
họ có thể tự ḿnh suy nghĩ và hành
động. Phải chăng v́ thế nên người
Nhật, ư thức hay vô ư thức, chuộng dùng
chữ keimô
(khải mông) thay v́ kaimei
(khai sáng) ? Đàng nào đi nữa, đây có
lẽ là điểm khác biệt quan trọng
giữa phong trào khai sáng ở nước
Nhật đầu thời Minh Trị và phong trào
khai sáng ở Âu châu vào thế kỷ XVII và
thế kỷ XVIII. Cho dầu đó là hạn
chế nhất định của phong trào khai
sáng ở Nhật Bản, chắn hẳn cũng
không ai có thể phủ nhận vai tṛ
trọng yếu cùng những thành quả
lớn lao mà các trí thức Meirokusha đă
đóng góp nhằm đưa đất nước
họ lên địa vị phú cường.
Đầu tháng giêng, 2005
Vĩnh Sính
[1]
Beantwortung der Frage: Was ist
“Aufklärung”, 1784. Người
viết bài này thành thật cảm ơn úy
hữu Trần Văn Cung đă sốt sắng
giải thích những ư tưởng của Kant
trong nguyên văn tiếng Đức của
đoạn văn này. Trước đó, chúng
tôi đă tham khảo bản dịch tiếng
Anh trong cuốn The Enlightenment:
A Comprehensive Anthology ([Tư tưởng]
Khai sáng – Tổng tập) do Peter Gay biên
tập và dịch thuật (New York : Simai and
Schuster, 1973), trang 384, và bản dịch tiếng
Nhật của Shinoda Hideo, Keimô
to wa nani ka ? (Khải mông là ǵ
?) (Tokyo : Iwanami Bunko, 1950), trang 7, nhưng
vẫn không
nắm hết ư của
Kant.
[2]
Matsumoto Sannosuke, “Keimô shisô
no tenkai” (Quá tŕnh triển khai tư tưởng
khải mông) trong Hashikawa Bunzô và Matsumoto Sannosuke
chủ biên, Kindai Nihon seiji
shisôshi (Lịch sử tưởng
cân đại Nhật Bản) (Tokyo : Yûhikaku,
1968), trang 152.
[3]
Về quan niệm độc
lập quốc gia của Fukuzawa Yukichi, nhà tư
tưởng khải mông quan trọng vào
thời Minh Trị (so sánh với Phan Bội Châu),
xin xem thêm Việt Nam và
Nhật Bản : Giao lưu văn hóa
(Nxb Văn Nghệ Tp HCM và Trung tâm Nghiên cứu
Quốc học, 2000) của cùng tác giả bài
viết này, trang 112-152.
[4]
Trung tâm Khai sáng sau đó
được sáp nhập vào trường
Đại học Đông Kinh.
[5]
Daijigen (Đại-từ-nguyên)
(Tokyo : Kadokawa Shoten, 1992), trang 325.
[6]
Ôkubo Toshikane biên tập, Meiji
keimô shisô shû (Tư tưởng
khải mông thời Minh Trị : Tuyển
tập) (Tokyo : Chikuma Shobô, 1967), trang 412.
[7]
Như trên, trang 403.
[8]
Fukuzawa Yukichi, Fukuô
jiden (Phúc-Ông
Tự-truyện, tức Tự truyện của
Fukuzawa) (Tokyo : Iwanami Bunko, 1985), trang 10-13. Toàn văn
tác phẩm này hiện đang được
người viết dịch thuật và chú
giải ; hy vọng sẽ có dịp ra mắt
độc giả trong một tương lai không
xa.
[9]
Như trên, trang 15-16.
[10]
Về trục giao lưu văn
hóa giữa Nhật Bản, Trung Quốc và
Việt Nam vào đầu thế kỷ XX, xin
xem thêm Vĩnh Sính, sách đă
dẫn, trang 153-186.
[11]
Trích lại từ Roger, F.
Hackett, “Nishi Amane: A Tokugawa-Meiji Bureaucrat” (Nishi
Amane : Một quan viên của hai chính quyền
Tokugawa và Meiji), trong Journal of
Asian Studies, XVII, 2 (Tháng 2,
1959), trang 214.
[12]
Ernst Cassirer, The
Philosophy of the Enlightenment
(Triết học khai sáng) (Boston: Beacon Press, 1955),
trang 14.
[13]
Ogyû Sorai (Đích-sinh Tô-lai ;
1666-1728). Học giả Nho học thời
Tokugawa. Lúc đầu học Tống Nho, sau
đó Sorai sáng lập học phái Kobunjigaku
(Cổ-văn-tự-học). Sorai cho rằng
muốn t́m hiểu tư tưởng Khổng
Mạnh chưa bị khúc xạ bởi
Tống Nho, cần phải biết thơ văn
chữ Hán và lịch sử thời cổ
đại.
[14]
Nichiren (Nhật-Liên ;
1222-1282). Tăng sư thời Kamukura, sáng
lập Nichirenshû (Nhật-Liên-Tông). Nichiren tin
rằng tinh túy của Phật pháp có thể t́m
thấy ở bộ Pháp hoa
kinh.
[15]
Xem Watanabe Kazuyasu, Meiji
shisô shi : Jukyô-teki dentô to kindai ninshikiron
(Lịch sử tư tưởng thời Minh
Trị : Truyền thống Nho giáo và nhận
thức luận cận đại) (Tokyo :
Perikansha, 1970), trang 70-74.
[16]
“Yôji o motte kokugo o sho suru
ron” (Bàn về việc dùng mẫu tự Tây
phương để viết tiếng
Nhật”, MRZ, số 1. Tất cả 43 số báo
MRZ được in lại trong Meiji
bunka zenshû (Văn hóa thời
Minh Trị : Toàn tập) (Tokyo : Nihon Hyôron
Shinsha, 1955), tập 5, trang 43-268.
[17]
“Shuppan jiyû naran koto o nozomu
ron” (Tại sao tôi mong mỏi sẽ có tự
do xuất bản ?), MRZ, số 6.
[18]
“Gômon-ron” (Bàn về tra
tấn), MRZ, số 7 và 8.
[19]
“Shikei-ron” (Bàn về án
tử h́nh), MRZ, số 41.
[20]
“Fukushô-ron” (Bàn về trang
phục), MRZ, số 8.
[21]
“Saishô-ron” (Bàn về thê
thiếp), số 8, 11, 15, 20, 27.
[22]
Fukuzawa Yukichi, Gakumon
no susume, in lại trong Fukuzawa
Yukichi do Nagai Michio chủ biên
(Tokyo : Chûô Kôronsha, 1984), trang 66-67.
[23]
Như trên, trang 69.
[24]
Như trên, trang 70.
[25]
MRZ, số 2.
[26]
Như trên.
[27]
Như trên.
[28]
Như trên.
[29]
Johann Kaspar Bluntschli, 1808–81,
học giả Thụy Sĩ về các ngành
luật pháp, quốc tế công pháp, tư pháp
và chính trị học. Giảng dạy ở các
đại học Zürich, Munich, and Heidelberg. Tác
phẩm Allgemeines Staatsrecht
của Bluntschli được
Katô dịch sang tiếng Nhật và xuất
bản năm 1874 với nhan đề là Quốc
pháp phàm luận.
[30]
“Minsen giin fukaritsu no ron”,
MRZ, số 3.
[31]
“Seitai sanshu setsu” (Bàn
về ba loại chính thể), MRZ, số 28.
[32]
Trích dẫn lại từ Itô
Masao, Fukuzawa Yukichi ronkô
(Luận khảo về Fukuzawa Yukichi) (Tokyo :
Yoshikawa Kôbunkan, 1969), trang 274.
[33]
Xem Tôyama Shigeki, “Meiroku
zasshi” (Minh-lục tạp-chí) trong Shisô
(Tư tưởng), số 447 (Tháng 9, 1961), trang
124.
[34]
Năm 1947 đổi tên thành
Nihon Gakushiin (Nhật-Bản Học-sĩ
Viện).
[35]
Nishi Amane, “Yôji o motte kokugo o
sho suru ron” (Bàn về việc dùng mẫu
tự Tây phương để viết
tiếng Nhật”, MRZ, số 1.