|
Về bài “CẨM SẮT” của Lư Thương Ẩn
và ảnh hưởng của bài thơ đối với
Nguyễn Du trong Truyện Kiều
Vĩnh Sính
Mùa Hè năm ấy (2002), tôi ghé Đông Kinh thăm
người bạn cũ từ bốn mươi năm nay đang bị ốm nặng. Một tối, trước giờ
đi ngủ, t́nh cờ thấy trong nhà có cuốn Ri Shôin (Lư Thương Ẩn;
812?-858), tôi lấy ra xem.
Lư sống vào thời văn Đường ở Trung Quốc, một thời
kỳ có lắm bế tắc về chính trị và xă hội, nhưng chín muồi về văn hoá
nghệ thuật. Tuy đỗ đạt cao, Lư không mấy may mắn trên bước hoạn lộ.
Thơ Lư được ưa chuộng nhưng nổi tiếng hóc buá. Trong thơ có nhiều
điển tích, giàu h́nh tượng, mà cũng chứa lắm ẩn dụ khó giải mă. ‘Cẩm
sắt’ thường được xem là bài thơ hay nhất và cũng là bài thơ khó hiểu
nhất của họ Lư. Chả vậy mà nhà b́nh thơ đời Thanh Vương Sĩ Trinh đă
nhận xét : ‘Nhất biên Cẩm sắt giải nhân nan’ (Bài thơ Cẩm sắt
hiểu sao đây !)
Tối đó tôi khẽ đọc bài “Cẩm sắt” qua âm Hán Việt.
Ngâm chầm chậm hai câu mở đầu ‘Cẩm sắt vô đoan ngũ thập huyền /
Nhất huyền nhất trụ tứ hoa niên’, tự dưng tôi thấy xúc động mạnh.
Chỉ có hai câu mà họ Lư đă đưa người đọc đến ngay ngưỡng cửa của
những dĩ văng xa xôi, sâu lắng. Ngâm xong cả bài, tuy chưa nắm hết ư
nhưng tôi vẫn cảm thấy những âm hưởng trong “Cẩm sắt” có sức quyến
rũ, có một ma lực lạ lùng. Người dịch, chú thích và b́nh luận tập
thơ của Ri Shôin là Takahashi Kazumi (1931-71), một nhà văn,
nhà thơ, và cũng là một nhà nghiên cứu văn học Trung Quốc xuất sắc
nhưng mệnh bạc. Những lời b́nh của Takahashi như những tia chớp sáng,
trong khoảnh-khắc-một-sát-na đưa người đọc đi thẳng vào thế giới
thẩm mỹ của thơ Lư Thương Ẩn mà các nhà b́nh luận thơ Đường xưa nay
vẫn thường nói tới. Đọc lui đọc lại, tôi như bị thu hút bởi bài thơ.
Duyên nọ dẫn đến duyên kia, sau đó cũng do t́nh
cờ, tôi được biết một điều kỳ thú là trong phần cuối Truyện Kiều,
Nguyễn Du cũng đă mượn bốn câu trong bài thất ngôn bát cú này để
diễn tả cảnh Kiều gẩy đàn cho Kim Trọng nghe sau mười lăm năm cách
biệt. Khi so sánh bốn câu trong nguyên tác với đoạn thơ phóng dịch
trong Kiều, chúng tôi phát hiện một chi tiết cũng hấp dẫn
không kém : Tiên Điền tiên sinh đă thay đổi không khí u uất trong
nguyên tác thành một bầu không khí đầm ấm, êm ái, tươi sáng cho phù
hợp với cảnh sum họp vui vầy giữa Kiều với Kim Trọng !
Mục đích của chúng tôi khi viết bài này là không những hy vọng được
chia sẻ với độc giả một bài thơ hay, nhưng đồng thời đưa ra một số
nhận xét về mối liên hệ kỳ thú của đoạn thơ phỏng dịch trong
Truyện Kiều với bài “Cẩm sắt” của Lư Thương Ẩn.
Trước hết, ta thử xem qua gốc gác những từ cần
giải thích cùng những điển tích trong bài “Cẩm sắt”.
Cẩm sắt
Cẩm sắt vô đoan ngũ thập huyền,
Nhất huyền nhất trụ tứ hoa niên.
Trang sinh hiểu mộng mê hồ điệp,
Vọng đế xuân tâm thác đỗ quyên.
Thương hải nguyệt minh châu hữu lệ,
Lam điền nhật noăn ngọc sinh yên.
Thử t́nh khả đăi thành truy ức,
Chỉ thị đương th́ dĩ vơng nhiên.
Câu 1 ) Cẩm sắt : Có người dịch là
đàn gấm,
nhưng trên thực tế là cây đàn sắt có chạm trổ. Đàn sắt là loại đàn
lớn làm bằng gỗ cây ngô đồng. Đàn sắt và đàn cầm là hai loại đàn cổ,
chữ cầm sắt
thường dùng nhằm chỉ vợ chồng hoà hợp, như đàn sắt đàn cầm hoà nhau.
Theo Daijigen (Đại từ nguyên), cẩm sắt là mỹ danh của cây đàn
sắt.
Vô đoan : do đâu, từ đâu, không có
lư do.
Ngũ thập huyền : Theo truyền thuyết,
khi Tố Nữ gẩy đàn sắt tế trời theo lệnh vua Phục Hy,
đàn này có 50 dây. Nhưng v́ tiếng đàn quá ai oán năo nùng, Phục Hy
cấm không cho sử dụng đàn này nữa. Sau đó, v́ dân chúng vẫn không
chịu tuân lệnh, Phục Hy mới cho phép dùng nửa số dây, từ đó đàn sắt
chỉ có 25 dây (theo ‘Phong thiền thư’, Sử kư của Tư Mă Thiên;
hoặc ‘Giao tự chí’, Hán thư của Ban Cố đời Hậu Hán).
Câu 2) Trụ : trụ; trục; hay ‘con
nhạn’ đỡ dây đàn (huyền).
Hoa niên : Thanh xuân; tuổi trẻ;
thời kỳ rạo rực yêu đương.
Tư, tứ : nghĩ, nhớ; ở đây dùng theo
nghĩa ‘gợi nhớ’. Mỗi dây đàn, mỗi trục, xui nhớ lại tuổi hoa niên.
Đọc hai câu mở đầu, ta không khỏi liên tưởng đến hai câu hát ru con
Việt Nam ‘Hai tay cầm bốn tao nôi / Tao thẳng tao dùi, tao nhớ
tao thương’ – tuy dân dă mộc mạc nhưng có sức gợi cảm cũng vô
cùng mănh liệt.
Câu 3) Trang sinh : tức Trang Chu,
nhà tư tưởng thời Chiến Quốc. Sách Trang Tử ghi lại những
ngôn thuyết của Trang Tử cùng những người cùng phái, chủ trương là
mọi việc trên đời như lớn nhỏ, khôn dại, sống chết, v.v. chẳng có ǵ
khác nhau cho lắm; xem vô vi, tự nhiên là đạo đức cao nhất. Thuyết
giải về sự khó phân biệt giữa tỉnh và mộng, sống và chết, thiên ‘Tề
vật luận’ trong Trang Tử viết : ‘Ngày xưa, Trang Chu chiêm
bao thấy ḿnh hóa bướm bay nhởn nhơ, tự lấy làm thích chí, quên ḿnh
là Chu. Bất giác tỉnh giấc, thấy h́nh thù ḿnh vẫn là Chu. Không
biết Chu chiêm bao là bướm, hay bướm chiêm bao là Chu !’
Câu 4) Vọng Đế : đế hiệu của
vua Đỗ Vũ nước Thục cuối đời Chu (nên c̣n gọi là Thục Đế).
Tương truyền Vọng Đế ra lệnh bộ hạ là Miết Linh đi cứu lũ ở xa nhằm
thừa dịp tư t́nh với vợ của Miết Linh. Sau đó Vọng Đế tự hổ thẹn về
hành vi bất chính của ḿnh, từ ngôi rồi mai danh ẩn tích. Mỗi năm cứ
vào tháng hai âm lịch (Vọng Đế rời đất Thục cũng vào tháng này), đêm
đêm chim đỗ quyên lại cất tiếng sầu thảm. Bởi vậy, người nước Thục
mỗi lần nghe tiếng chim đỗ quyên lại nhớ đến Vọng Đế.
Xuân tâm : ḷng xuân, c̣n có nghĩa
như ‘xuân t́nh’ : t́nh yêu trai gái, có thể bao hàm hơi hướng tính
dục. Nguyễn Du cũng đă dùng chữ ‘xuân t́nh’ khi phỏng dịch đoạn thơ
này trong Truyện Kiều.
Câu 5) Thương hải : Biển xanh, c̣n
có nghĩa là biển rộng, biển cả. Thương hải cũng có khi dùng để chỉ
tên một biển hư cấu ở cơi tiên.
Nguyệt minh châu hữu lệ : Theo
Văn tuyển (Lư Thiện chú thích), ‘khi trăng đầy, trai có ngọc (châu),
khi trăng khuyết trai không có ngọc’ (nguyệt măn tức châu toàn,
nguyệt khuy tức châu khuyết). Theo cuốn Biệt quốc động minh
kư thời Lục Triều, ngày xưa có người lặn xuống đáy biển t́m ngọc,
lạc vào cung điện của nhân ngư, t́m được bảo ngọc do nước mắt của
nhân ngư đọng lại.
Ngoài ra, câu này c̣n có thể hiểu theo điển tích ‘thương hải di
châu’ (hạt ngọc bỏ rơi trong biển cả), ngụ ư là người có tài mà
không có chỗ thi thố.
Câu 6) Lam điền : tên một ngọn núi ở Thiểm
Tây (Lam điền sơn), c̣n gọi là Ngọc sơn, nổi tiếng có nhiều ngọc quư.
Theo Sơn hải kinh, Ngọc sơn là nơi bà tiên Tây Vương Mẫu ở –
chi tiết này khiến người đọc liên tưởng đến một cơi tiên hư cấu,
giống như “Thương hải” trong câu 5.
Ngọc sinh yên
: Theo Lục dị truyện, con gái Ngô Phù Sai là Tử Ngọc yêu
người lính hầu là Hàn Trọng nhưng không được Ngô
vương chấp thuận, mang mối bi t́nh xuống tuyền đài. Một sáng, khi
Ngô vương đang dùng lược chải tóc, nh́n ra vườn thấy có viên ngọc
lớn màu tím chiếu sáng, phu nhân nghe nói chạy ra vườn, khi vừa ôm
chầm ḥn ngọc th́ ngọc tan thành khói biến mất. Lại có thuyết cho
rằng tứ thơ trong câu này lấy từ ư câu sau đây của nhà thơ Đái Thúc
Luân (732-789) thời Trung Đường : ‘Cảnh, đối với nhà thơ, tựa như
viên ngọc quư bốc tan thành khói khi Lam Điền ửng nắng, chỉ có thể
đứng nh́n từ xa chứ không được lại gần’ (thi gia chi cảnh như Lam
Điền nhật noăn lương ngọc sinh yên, khả vọng nhi bất khả trí ư mi
tiệp chi tiền giă).
Hai câu 5 & 6 đối nhau, bởi vậy khi chuyển ngữ
chúng tôi đă cố gắng giữ nguyên những chữ đối nhau trong câu. Nói
một cách khác, khi xem ‘Thương hải’ là một danh từ tiêng, chúng tôi
cũng xem ‘Lam điền’ là danh từ riêng; và khi dịch ‘thương hải’ như
một danh từ chung (biển cả), chúng tôi cũng dịch ‘lam điền’ như một
danh từ chung (đồng xanh).
Câu 7 & 8) Khả [đăi] : trợ từ có
nghĩa là: phải, nên, đáng, có thể, chắc có thể, có lẽ, h́nh như;
hoặc là trợ từ nghi vấn (làm sao có thể...).
Vơng nhiên : không biết ǵ cả, ngơ
ngác như mất hồn, phôi pha. Câu 7 có thể dịch là ‘T́nh này [giả sử]
có thể trở thành một cái ǵ để ghi nhớ’ hoặc ‘Làm sao có thể chờ đợi
để t́nh này trở thành cái ǵ để ghi nhớ ?’ Chúng tôi đă chọn cách
dịch thứ nhất. Câu 8 có nghĩa là ‘Th́ lúc ấy thời gian/duyên t́nh
cũng đă phôi pha/tàn phai/nhạt nhoà’.
Sau đây là bản dịch bài “Cẩm sắt” của chúng tôi :
Cẩm sắt v́ đâu năm
chục dây ?
Mỗi dây mỗi trục nhớ thương đầy.
Trang sinh sớm mộng mê thành bướm,
Thục đế t́nh xuân tiếng cuốc chầy.
Thương hải trăng thanh châu nhỏ lệ,
Lam điền nắng ấm ngọc tan bay.
T́nh này ví thử sau c̣n nhớ,
Lúc đă tàn phai với tháng ngày !
Bài thơ cũng có thể dịch như sau :
Cẩm sắt v́ đâu
ngũ-thập-huyền ?
Mỗi dây mỗi trục gợi hoa niên.
Trang sinh sớm mộng mê thành bướm,
Thục đế xuân t́nh gửi tiếng quyên.
Bể cả trăng thanh châu đẫm lệ,
Đồng xanh nắng ửng ngọc tan liền.
T́nh này ví thử sau c̣n nhớ,
Khi đă qua rồi thuở lứa duyên !
Như chúng ta đă thấy, lời thơ trong bài “Cẩm sắt”
đượm nét buồn man mác, như chất chứa một ‘nỗi sầu vạn đợi’. Có người
cho rằng Lư đă viết bài thơ này vào những năm cuối đời để khóc người
vợ quá cố của ḿnh, có kẻ bảo Lư viết để than tiếc cho người yêu
mang tên là Cẩm Sắt. Ngoài ra c̣n có không biết bao nhiêu giả thuyết
khác.
Có lẽ chúng ta nên hiểu là Lư muốn nói về bản chất mộng ảo, mong
manh của cuộc đời và của t́nh yêu, không chỉ của nhà thơ mà của con
người nói chung. Những năm tháng đă trôi qua trong cuộc đời (mà trăm
năm là giới hạn) như thâu gọn lại trong năm chục sợi dây đàn.
Từ mỗi dây, tiếng đàn ngân lên như khơi dậy lại
tuổi hoa niên, của ‘Cái thuở ban đầu lưu luyến ấy / Ngàn năm chưa
dễ đă ai quên !’ (Thế Lữ). Làm sao phân biệt thực với mộng ?
Trang Chu hay con bướm, Thục Đế hay chim đỗ quyên, bên nào thực, bên
nào mộng ? Ngay giữa lúc ‘Thương hải trăng thanh’ th́ ‘châu đẩm lệ’,
và ngay khi ‘Lam điền nắng ấm’ th́ ‘ngọc tan bay’ ! Và t́nh yêu, khi
muốn ghi nhớ, muốn trân trọng, th́ hỡi ôi, lúc đó thời gian đă phôi
pha; duyên t́nh, hương nguyền ngày trước c̣n đâu nữa ! Tất cả đều
mong manh, mộng ảo.
Cho dầu chúng ta không thể giải thích một cách
thoả đáng tất cả những ẩn dụ trong “Cẩm sắt”, nhưng vẫn có thể cảm
nhận được giá trị của bài thơ, đúng như Lương Khải Siêu (1873-1929)
đă nhận xét khi đọc những bài thơ khó giải mă của Lư. Lương viết :
‘Tôi không hiểu và thậm chí không thể giải thích ư nghĩa của từng
câu thơ, nhưng tôi vẫn yêu và vẫn bị lôi cuốn bởi vẻ đẹp của thơ họ
Lư.’
Cuối cùng, chúng tôi thử đưa ra vài nhận xét về
đoạn phóng dịch bốn câu 3, 4, 5, 6 của bài “Cẩm sắt” trong Truyện
Kiều.
Đoạn này nằm trong phần cuối của Truyện Kiều,
khi Kiều và Kim Trọng gặp lại nhau sau mười lăm năm cách biệt. Kim
Trọng nhờ Kiều đánh đàn cho ḿnh nghe, và Kiều đă ‘nể ḷng người
cũ vâng lời một phen’ (câu 3196). Trước đó, khi Kiều đàn cho Kim
Trọng nghe lần đầu tiên, hay trong những lần Kiều bị buộc phải gẩy
đàn cho Thúc Sinh, Hoạn Thư, v.v. nghe, th́ tiếng đàn của nàng lâm
ly, năo nùng, ‘nghe ra như oán như sầu phải chăng ?’ (câu
476). Nhưng lần này, khác hẳn với những lần trước, tiếng đàn của
Kiều nghe thật ấm áp, êm ái, trong sáng. Nguyễn Du đă phóng dịch bốn
câu trên nhằm diễn tả tiếng đàn sum họp của Thúy Kiều như sau :
Khúc đâu đầm ấm
dương ḥa,
Ấy là hồ điệp hay là Trang sinh.
Khúc đâu êm ái xuân t́nh,
Ấy hồn Thục Đế hay ḿnh đỗ quyên ?
Trong sao châu nhỏ duềnh quyên,
Ấm sao hạt ngọc Lam Điền mới đông !
(câu 3199-3204)
Qua tiếng đàn vui tươi, ấm áp trong đoạn phóng
dịch này, người đọc không c̣n thấy bóng dáng trăn trở hoài nghi của
một Trang Chu nguyên sơ trong thiên “Tề vật luận”,
tiếng ca của chim đỗ quyên không c̣n nhuốm máu v́ Thục Đế – mà chỉ
là một giai điệu êm ái gợi nhớ vị quân vương đa t́nh, những hạt châu
không c̣n đẩm lệ ở Thương hải vào những đêm trăng tỏ, và hạt ngọc
kia cũng không c̣n bốc khói khi ửng nắng ở Lam điền !
Dĩ nhiên Tiên Điền tiên sinh đă không hiểu lầm ư
thơ của họ Lư. Do đâu mà chúng ta có thể khẳng định như vậy ?
Ngoài bản lĩnh của nhà học giả này như ta đă biết,
lư do là ngay sau đó, khi Kim Trọng hỏi Kiều : ‘Tiếng đàn ngày trước
sao ai oán, năo nùng, mà hôm nay em đàn sao nghe vui thế ?’ (‘Chàng
rằng : Phổ ấy tay nào ? / Xưa sao sầu thảm, nay sao vui vầy’;
câu 3207-3208), th́ Nguyễn Du đă thay nàng Kiều đáp lời : ‘Tẻ vui
bởi tại ḷng này / Hay là khổ tận đến ngày cam lai ?’ (câu
3209-3210).
Mặc dầu phải đối đầu với định mệnh phũ phàng,
nghiệt ngă trong suốt mười lăm năm chia cách (‘Ong qua bướm lại
đă thừa xấu xa / Bấy chầy gió táp mưa sa’) (câu
3098-3099), Nguyễn Du đă thay Kiều khẳng định phẩm chất đẹp đẽ trong
sạch của nàng : ‘Chữ Trinh c̣n một chút này’ (câu 3161).
Chữ Trinh ở đây dĩ nhiên phải hiểu theo nghĩa
tinh thần. Kiều cảm kích bởi tấm ḷng của người cũ, v́ hơn ai hết
Kim Trọng hiểu được điều đó, bởi thế Kiều mới nói : ‘Thân tàn gợi
đục khơi trong / Là nhờ quân tử khác ḷng người ta /
Mấy lời tâm phúc ruột rà / Tương tri dường ấy mới là tương
tri’ ! (câu 3181-3184) Trong không khí ‘T́nh xưa lai láng
khôn hàn’ (câu 3191), Kim Trọng nhờ Kiều gẩy cho nghe một khúc
(‘Thong dong lại hỏi ngón đàn ngày xưa’(câu 3192).
Đoạn Nguyễn Du phỏng dịch từ “Cẩm sắt” chính là để diễn tả tiếng đàn
của Thuư Kiều lúc đó.
Ta hăy thử suy luận. Phải chăng Nguyễn Du đă thay
đổi hẳn bầu không khí ‘một cách sáng tạo’ khi phỏng dịch đoạn trên
nhằm nói rơ lên rằng ‘Tẻ vui bởi tại ḷng này’ (câu 3209), và
trong giờ phút tương phùng Kiều cảm thấy đă được phỉ nguyền (‘Ba
sinh đă phỉ mười nguyền’, câu 3191), hay nói đúng hơn, nàng cảm
thấy đă được giải thoát khỏi nghiệp chướng. Chắc hẳn chính v́ vậy,
nên ngay cả giai điệu lâm ly, u uất của bài “Cẩm sắt” mà nghe vẫn êm
ái, đầm ấm !
Bằng chứng cụ thể và hùng hồn nhất về sự cố ư
thay đổi một cách sáng tạo của Nguyễn Du có thể t́m thấy ở câu cuối
cùng trong 6 câu thơ phỏng dịch.
Trong câu này, thiên tài họ Nguyễn đă đảo ngược
hiện tượng, biến ‘Lam điền nhật noăn ngọc sinh yên’ (Lam điền
nắng ấm ngọc tan bay) thành ‘Ấm sao hạt ngọc Lam Điền mới đông !’
(câu 3204), tức ‘ngọc tan thành khói’ trong nguyên tác đă trở thành
‘hạt ngọc... mới đông’ trong Truyện Kiều !
V́ ‘ngọc... mới đông’ nên Nguyễn Văn Vĩnh khi
chuyển ngữ Truyện Kiều sang tiếng Pháp, đă dịch câu này là :
‘Et c’était chaud comme une de ces gouttes qui viennent de se
cristalliser en perles sur la plaine de Lam điền’.
Trong Truyện Kiều, điều đáng chú ư là
Nguyễn Du đă khởi đầu bằng thuyết ‘tài mệnh tương đố’ cũng có
xuất xứ từ thơ của Lư Thương Ẩn (‘Cổ lai tài mệnh lưỡng tương
phương’, tức ‘Xưa nay tài mệnh vốn thường kỵ nhau’), và như
chúng ta đă thấy, trong phần kết thúc Nguyễn Du cũng đă phóng dịch
một đoạn thơ của họ Lư trong khúc đàn cuối cùng của nàng Kiều nhằm
chứng minh là ‘tẻ vui’ là ‘bởi tại ḷng này’ và niềm
vui sẽ có được khi trong ḷng không c̣n bị vướng vất bởi các nghiệp
chướng.
Theo Nguyễn Du, đánh thức thiện căn, thiện tâm
chính là ch́a khoá đưa đến sự giải thoát : ‘Thiện tâm ở tại ḷng
ta / Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài’ (câu 3251-3252).
Sự thay đổi nội dung, từ bốn câu thơ trong bài
“Cẩm sắt” sang đoạn phóng dịch trong phần kết thúc Truyện Kiều,
nghĩ cho cùng, là một hiện tượng khúc xạ xảy ra khá phổ biến, với
mức độ khác nhau, khi nước này tiếp thu văn hoá nước kia trong quá
tŕnh giao lưu/giao thoa văn hoá.
Điều đáng chú ư là trong trường hợp này, thiên
tài Nguyễn Du đă ‘Việt Nam hoá’ bốn câu thơ trong bài “Cẩm sắt” một
cách điêu luyện nhằm bảo vệ nàng Kiều, nạn nhân của nghịch cảnh xă
hội, và chứng minh rằng mặc bao ‘gió táp mưa sa’, nàng Kiều
đă giữ được phẩm giá trong trắng của ḿnh. Đành rằng Tiên Điền tiên
sinh đă ít nhiều kư thác tâm sự vào Kiều khi bảo vệ cho nàng như
nhiều thức giả đă nhận xét,
tâm thức ‘tấm ḷng như tuyết như băng’, hoặc ‘gần bùn mà
chẳng hôi tanh mùi bùn’ mà Tố Như tiên sinh đă khẳng định qua
Kiều nằm ngay trong cốt lơi tâm t́nh dân tộc của người Việt Nam.
Có lẽ v́ thế nên Truyện Kiều, ngoài những
vần thơ điêu luyện, đă được người Việt – nạn nhân của không biết bao
cơn binh lửa cùng nghịch cảnh xă hội – yêu chuộng măi không thôi.
Vĩnh Sính
Nguồn :
Bài đă đăng trên Diễn Đàn, báo giấy, số 122 (tháng 10.2002). Đây là
bản tác giả mới sửa lại cuối tháng 2 năm 2010
Nguồn :
Diễn Đàn Forum.
Đăng lại trên ERCT với sự đồng ư của anh Vĩnh Sính
(Mar 10 2010) |