|

Hoa Anh đào
Muôn thuở :
Vài bài thơ
khó quên của Bashō
Cửa Thiền vừa cữ cuối Xuân,
Bông hoa đầy đất vẻ ngang lưng trời.
Truyện Kiều
Vĩnh Sính
Trùng trùng duyên khởi:
Trong thơ Nhật, không hiểu sao chúng tôi cảm thấy gần gũi
với Saigyō (1118-1190)
và Bashō (1644-1694) lạ lùng. Đặc biệt là Bashō.
Hồi còn ở
Nhật,
chúng tôi có gõ cửa Thiền mấy lần nhưng duyên chửa bén.
Kịp đến khi bắt đầu ra dạy học (năm 1982), trùng trùng duyên
khởi, cửa Thiền học mở rộng rồi duyên mới kết. Đến với
Thiền học trước khi gặp Bashō đúng là hạnh ngộ ! Lý do là
Thiền bàng bạc trong thơ Bashō.
Thế rồi mười hai năm trước (1998), những lúc rảnh rỗi chúng
tôi dịch cuốn Oku no hosomichi (奥の細道Lối
lên miền Oku/Bắc)
của Bashō ra tiếng Việt.
Thư khích lệ của bạn đọc tạo niềm vui vô hạn, tiếc rằng
sách đã tuyệt bản. Hy vọng chúng tôi sẽ có dịp sửa lại
bản dịch và bài giới thiệu cho hoàn chỉnh, thêm phần minh
hoạ cho đàng hoàng hơn nữa để rồi giới thiệu cùng độc
giả.
Trong bài này chúng tôi xin giới thiệu vài bài thơ của
Bashō mà chúng tôi cảm thấy khó quên.
***
Vài điều cần biết về haiku của Bashō:
Bashō là người đã định hình thể thơ haiku và đưa
haiku có chỗ đứng bề thế và trang trọng trên văn đàn
Nhật Bản.
Qua thơ Bashō, lần đầu tiên một khái niệm mỹ học (美学)
mang tên là sabi (寂びtịch,
như trong chữ “tịch liêu”) được đưa vào một cách hài hòa và
ở một mức độ chưa từng thấy.
Sabi
đầu tiên được phổ biến qua thơ waka của Fujiwara Shunzei
(1114-1204). Ý thức này được các nhà thơ sau đó, đặc biệt
là Bashō, tiếp tục phát triển và định hình. Trên thực tế,
sabi trở thành khái niệm căn bản trong thơ Bashō.
Sabi nhấn mạnh vẻ đẹp tao nhã của những dáng hình cổ
kính hay của thiên nhiên cô tịch — không hào nhoáng rực rỡ,
lộng lẫy hay kiêu kỳ. Cần để ý rằng thơ
haiku
của Bashō tuy phảng phất không khí trầm lắng u
huyền, gợi cho người đọc sự vô thường trong cuộc đời, nhưng
luôn thắm đượm tình người và không bao giờ mang nét cay đắng
chua chát hay u uất, oán hờn.
Sức ám thị (suggestibility) và tính hàm súc, theo học
giả Daisetz Suzuki, là bí quyết của thơ haiku cũng như
của nghệ thuật Nhật Bản nói chung. “Các nhà nghệ thuật
Nhật Bản đều ít nhiều chịu ảnh hưởng của Thiền (禅Zen),
họ luôn luôn có khuynh hướng diễn tả tình cảm với số chữ
hoặc số nét tối thiểu.” Điều tối kỵ khi làm thơ haiku
là thích lý luận dông dài, “khi tình cảm đã đạt đến mức
độ cao nhất, ta lặng thinh, bởi lẽ không có ngôn ngữ nào có
thể diễn tả thích đáng. Ngay mười bảy âm tiết [trong thơ
haiku] cũng đã quá dài.”
Xem như vậy, người làm thơ haiku vừa phải là người tu
luyện Thiền.
Tuy không phải là Thiền sư, Bashō thường ăn vận như một nhà
sư. Ngày ngày ngồi tham Thiền và đọc sách, Bashō lần lần ý
thức rằng haiku không chỉ là trò giải trí hay thú
tiêu khiển, mà phải biểu lộ sâu sắc thái độ của người làm
thơ đối với cuộc sống. Thơ của Bashō dần dần thể hiện vẻ
đẹp u hoài diệu vợi của thiên nhiên và cuộc sống hiu quạnh
của chính mình. Tương truyền Bashō trồng bên cạnh túp lều
này một bụi chuối (chữ Hán gọi cây chuối là “Ba-tiêu芭蕉”,
tức Bashō) do môn đệ biếu.
Cây chuối vì ít thấy ở Nhật, hàng xóm từ đó bắt đầu gọi
túp lều có bụi-chuối-không-trái này là Bashō-an (芭蕉庵
), tức là Am Ba-tiêu, rồi chẳng bao lâu họ gọi luôn chủ nhân
của túp lều đó là Bashō-Sensei (Ba-tiêu Tiên sinh). Chủ nhân
túp lều chắc vừa ý với cái tên Ba-tiêu nên từ đấy mới lấy
Bashō làm bút hiệu. Cây chuối, đối với Bashō, tượng trưng cho
tính nhạy cảm (sensibility): trước một cơn gió nhẹ,
tàu lá chuối có thể gãy bất cứ lúc nào. Nhà thơ lắng
nghe tiếng lá chuối day động xào xạt mỗi lúc trời trở gió
giữa đêm khuya thanh vắng. Nếu trong bản hợp tấu của thiên
nhiên hòa thêm tiếng mưa rơi rả rích, không khí trong túp lều
chắc hẳn lại thêm phần cô tịch và sâu lắng.
Ngoài ra, Bashō đã nhắc đến bốn mùa trong haiku một
cách gián tiếp và thường xuyên, được gọi là “quí ngữ季語”
— tức là ký hiệu về bốn mùa.
Tương truyền
khi mất Bashō có đến trên hai ngàn môn đệ. Những nhà thơ nổi
tiếng về sau, như Buson (1716-1784),
Issa (1763-1827),
và vô số nhà thơ khác đều chịu ảnh hưởng của thơ Bashō.
Nhiều bài thơ được yêu chuộng của Bashō đã được sáng tác
trên những chuyến đi. Những cuộc ngao du này không những đã
ghi lại cảm hứng của Bashō khi viếng thăm những nơi danh lam
thắng cảnh, mà còn nói lên sự nhạy cảm của nhà thơ đối
với những loài cỏ mọn hoa hèn, như hoa mã đề (nazuna),
hoa nghệ (benibana), hoa thu (hagi); thảng hoặc
những con nhái, con ve sầu, con chuồn chuồn, con chim cuốc,
v.v. mà nhà thơ đã bắt gặp đó đây trên bước hải hồ.
Những hình tượng này gần gũi với người Việt, và cũng
chính vì ảnh hưởng của Thiền còn bàng bạc trong văn hoá
Việt Nam, độc giả người Việt có thể thưởng thức cảm tính
nghệ thuật trong thơ haiku của Bashō không mấy khó khăn.

Bashō-Tranh Buson
Vài bài thơ khó quên:
·
Thăm băi
chiến trường
xưa
Natsugusa ya
Cỏ mùa Hè [cao che mất lối đi]
Tsuwamonodomo ga
Binh
lửa
Yume
no ato
Dấu
vết xưa
Cỏ cao
che lấp lối mòn,
Dấu xưa
binh lửa chỉ còn thế thôi !
Bashō sáng
tác bài này khi qua vùng Hiraizumi,
nơi ngày xưa vào cuối thế kỷ XII vị võ tướng tài hoa son
trẻ Minamoto-no-Yoshitsune,
sau khi giúp anh-cùng-cha-khác-mẹ là Minamoto-no-Yoritomo
dẹp tan họ Taira
lập nên chế độ bakufu đầu tiên tại Kamakura, bị
Yoritomo ganh tỵ ra lệnh truy nã. Cuối cùng sa cơ thất thế,
mãnh hổ nan địch quần hồ Yoshitsune phải tự vẫn, khiến muôn
đời vẫn còn luyến tiếc.
Chúng tôi đã lồng ý “mùa Hè” trong nguyên văn qua hai chữ
“cỏ cao.” Đỗ Phủ, vị thánh thơ thời Thịnh Đường, đã viết
hai câu đầu trong bài “Xuân vọng春望”
như sau:
Quốc phá sơn hà tại,
国破山河在
Thành
Xuân thảo mộc thâm.
城春草木深
Tạm dịch:
Chiến tranh tàn phá, nước còn đây,
Thành
đã vào Xuân, cỏ ngút đầy !
Bashō chắc đã ít nhiều lấy ý từ hai câu này, song sáng tạo
nhuần nhuyễn, chuyển “Thành đã vào Xuân” thành cỏ mùa Hè
mà chúng ta gọi tắt theo “quí ngữ” là “cỏ cao.”

Hiraizumi
Hiraizumi cũng là nơi dòng họ Fujiwara ba đời lập nghiệp,
vinh hoa nổi tiếng một thời. Bài thơ trên đã được sáng tác
trong niềm cảm hoài khi Bashō đến thăm dấu vết của bãi
chiến trường khoảng năm trăm năm về trước.
Chắc hẳn cũng trong niềm cảm hoài tương tợ mà Bà Huyện
Thanh Quan đã viết nên bài “Thăng Long thành hoài cổ” nổi
tiếng trong văn học nước ta:
Tạo hoá gây chi cuộc hý trường,
Đến nay thấm thoát mấy tinh sương,
Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo
Nền cũ lâu đài bóng tịch dương...
·
Thăm thắng
cảnh
Matsushima
Matsushima ya
Kìa Tùng Đảo
 Matsushima ya
Ô kìa Tùng Đảo
Matsushima ya
Kìa
Tùng Đảo
Ô kìa
Tùng Đảo, đây Tùng Đảo
!
Tùng
Đảo đây rồi ! Tùng Đảo đây !
Ở Nhật có vô số danh lam thắng cảnh, trong đó
Matsushima (松島Tùng-Đảo)
thuộc huyện Miyagi được xem là một trong “ba thắng cảnh
tuyệt vời nhất”.
Matsushima có hơn 260 đảo nhỏ, do biển xoáy mòn tạo thành
một cảnh quan hiếm có. Trên đảo lại có những chòm thông
muôn hình muôn vẻ. Du khách ngỡ mình đi lạc vào Bồng Lai
tiên cảnh.

Matsushima
Khi viếng thăm Matsushima, nhìn cảnh sắc đẹp không
bút nào tả xiết, Bashō khẩu chiếm bài thơ trên, trong đó
hầu như nhà thơ chỉ nhắc đến tên Matsushima, còn những chữ
khác đều là những tiếng phụ. Cảnh đẹp quá, đến nổi không
có lời diễn tả !
Nhà thơ Đào Uyên Minh thời Lục Triều ở Trung Hoa
có bài thơ rất hay để nói lên tâm trạng đó:
Sơn
khí nhật tịch giai,
Phi điểu tương dữ hoàn,
Thử trung hữu chân ý,
Dục biện dĩ vong ngôn.
Tạm dịch:
Chiều
tà khí núi đẹp ghê !
Đàn
chim vỗ cánh bay về cùng mây,
Ngẫng
xem chân ý tràn đầy,
Muốn
đem bút viết chẳng hay viết gì !
Đọc bài thơ Matsushima, chúng ta không khỏi nhớ đến Hàn Mặc
Tử. Nhà thơ tài hoa mệnh bạc khi đi qua Phan Thiết, trong
niềm thổn thức và cọng cảm với non nước xứ Lầu Ông Hoàng,
đã buột miệng kêu lên hai tiếng ‘Phan Thiết ! Phan Thiết !’
mà lời thơ là một bài haiku toàn bích như Bashō (mặc
dầu trong thơ Bashō không hề mang nét cay đắng, u uất):
Ôi trời ơi ! Là
Phan Thiết ! Phan Thiết !
Mà tang thương còn lại mảnh trăng rơi...
·
Tiếng ve sầu muôn thuở
Con ve, hay ve sầu, là đề tài phổ biến trong văn học Nhật
Bản ngay từ thời Heian (794-1192).
Truyện Genji
vào thế kỷ XI thường được xem là cuốn tiểu thuyết đầu tiên
của nữ sĩ Murasaki Shikibu. Trong chương thứ ba, với đầu đề
là Utsusemi
空蝉,
“không-thiền”, tức là ‘Vỏ ve sầu’, đồng thời cũng là
tên người phụ nữ chính trong chương này. Genji, ông
hoàng mười-bảy-tuổi đẹp trai và cũng là tay ăn chơi nổi
tiếng, muốn tán tỉnh nàng
Utsusemi
nhưng bị từ chối vì nàng đã có chồng. Nàng trốn chạy
Genji, bỏ lại chiếc áo choàng trong phòng. Genji đành chịu,
làm bài thơ tanka,
ví chiếc áo choàng của nàng
Utsusemi
với ‘vỏ ve sầu’ !
Mặc dầu ve sầu xuất hiện rất sớm trong văn học Nhật Bản
và Truyện Genji rất nổi tiếng, phải đợi đến Bashō,
tức hơn sáu thế kỷ sau, tiếng ve mới gợi cho ta rõ ràng là
tiếng gọi của mùa Hè với tình cảm nhớ mong, mong nhớ.
Bashō đã mang hình tượng của con ve sầu sít lại với chúng
ta và trong haiku trở thành một kigo (quí ngữ)
— tượng trưng cho mùa Hè oi ả.
Hồi nhỏ
chúng tôi thích đi bắt ‘vè ve’.
Bôi mủ mít vào đầu cây sào để trít những con ve đậu cao.
Buổi trưa Hè, cứ mỗi lần nghe tiếng ve kêu vang, chúng tôi
cảm thấy thôi thúc, giục giã khôn lường. Khi dậy sớm, lúc
trời còn tối mịt mờ, chúng tôi đến gốc cây mít, cây đào,
cây nhỡn,
cây Ngải-Tướng-quân,
v.v. dùng đèn sáp để đi xem ‘vè ve non’ mới bò dưới đất lên
cây thay vỏ — để lộ đôi cánh non màu xanh lục, óng ả đẹp vô
cùng. Nào đâu có biết thời gian con ve sống trên cây chỉ nội
trong bảy ngày, trong khi ở dưới đất phải đi qua một chu kỳ
là bảy năm trường !
Khi đi qua chùa Ryūshakuji (立石寺Lập-Thạch-Tự)
thuộc huyện Yamagata ngày nay, Bashō đã viết:
Shizukasa ya
Yên tĩnh
Iwa ni shimiiru
Thấm vào đá
Semi no koe
Tiếng ve sầu
Nơi đây hiu quạnh một màu,
Tiếng ve rầu rĩ, luống sầu núi non !
hoặc:
Giữa trưa bỗng tiếng ve sầu,
Nghe chừng vách đá nhuốm màu tịch liêu !
hoặc:
Chùa
xưa nghiêng bóng trưa Hè,
Ve kêu
rền rĩ : tư bề quạnh hiu !

Ve sầu
Trong thơ haiku có lắm bài nhắc đến tiếng ve sầu.
Tiếng ve, giống như tiếng nước khua, có tác dụng như một câu
công án, không làm ta cảm thấy ồn ào mà ngược lại khiến ta
ý thức được sự tĩnh mịch của buổi trưa Hè.
Con ve sầu, chữ Hán gọi là Thiền蝉,
là tiếng đồng âm dị nghĩa với chữ Thiền禅
của Thiền tông.
·
Tiếng cuốc gợi niềm hoài
cổ
Kyō nite mo
Tuy ở kinh đô
Kyō natsukashi ya Mà
nhớ kinh đô
Hototogisu
Chim cuốc
Hôm nay nằm giữa kinh thành,
Cuốc kêu nhớ lại kinh thành năm nao !
Trong văn học cổ điển Việt Nam, hình ảnh chim
cuốc khá phổ biến. Chim cuốc còn có tên là “cuốc cuốc”,
“quốc”, “quốc quốc”, “đỗ quyên”, “đỗ vũ”, hay “tử quy”.
Theo truyền thống văn học Việt Nam, chim cuốc thường được
dùng theo điển tích là hồn Thục Đế nhớ nước:
Nhớ nước đau lòng con quốc quốc,
Thương nhà mỏi miệng cái gia gia.
Bà Huyện Thanh Quan

Shisendō
(詩仙堂Thi-Tiên
Đường),
Kyoto
Trong văn học Nhật, chim cuốc (hototogisu) có thể viết
chữ Hán là ‘đỗ quyên’
杜鵑,
‘bất như quy’
不如帰,
hoặc ‘thời điểu’
時鳥.
Tuy không mang cùng hình tượng, hototogisu vẫn gợi cái
gì u tịch và hoài cổ — đúng với tâm trạng Bashō khi trở
lại kinh đô, Kyoto, nhưng vẫn cảm thấy có gì mất mác khi
hồi tưởng lại đất thần kinh của một năm nào.
Nhà thơ Nguyễn Bính mồ côi mẹ từ hồi còn trẻ,
lại thêm cảnh nhà túng thiếu, từ Nam Định phiêu bạt vào
Huế. Khi đến thăm xóm Ngự Viên, nơi đã một thời là vườn
Thượng Uyển,
Sớm Đào trưa Lý,
đêm Hồng phấn,
Tuyết Hạnh, sương Quỳnh, máu Đỗ Quyên.
Trước cảnh ‘giậu đổ bìm leo’ (“Giậu đổ dây leo suồng sả
quá”) nhà thơ đã biểu lộ mối cảm hoài của mình qua hai
câu, mà tứ thơ không có gì khác lắm so với hai câu trên của
Bashō:
Hôm nay có một
người du khách,
Ở Ngự Viên mà nhớ Ngự Viên !
·
“Rộng thương cỏ
mọn hoa hèn”
a.
Hoa mã đề
(馬蹄nazuna):

Cây mă đề
Yoku mireba
Nhìn kỹ
Nazuna hana saku
Hoa mã đề đang nở
Kakine kana
Bên giậu
Mắt nhìn bên chiếc giậu tre,
Lơ thơ mấy bụi mã đề đơm hoa.
Trong thơ Bashō ta thường bắt gặp những hình tượng nhỏ bé
nhưng lời ít, ý nhiều : lá xương bồ, hoa thu, hoa nghệ, hoa
mã đề, v.v. Trong Thiền học, lời càng nhiều, càng đi xa bản
chất của sự vật.
Hoa mã đề (nazuna馬蹄),
đúng như tên chữ Hán là “Tiền-xa-thảo前車草”
(cỏ-mọc-trước-xe), thường mọc bên vệ đường, giống như một
loài hoa dại. Hoa mã đề, nazuna, còn viết là
薺(tề),
là loại hoa sống được hai năm. Thân cao chừng 30 centimét, hoa
có hình thập tự bé, nở vào mùa Xuân. Khóm hoa màu trắng —
không rực rỡ như hoa hồng, hoa cúc — nở bên bờ rào nhũn
nhặn, có mấy ai đoái hoài nghĩ đến !
Hoa mã đề thuộc trong bộ hoa môi (Lamiales), tên khoa học
là Plantaginaceae.
Cảm tính của Bashō được biểu lộ ngay với cả loài cỏ mọn
hoa hèn, gây cọng cảm và làm ấm lòng người đọc. Bất giác
ta liên tưởng đến ‘cái giậu mồng tơi’ dễ thương trong thơ
Nguyễn Bính:
Nhà nàng ở
cạnh nhà tôi,
Cách nhau cái dậu mồng tơi xanh rờn...
hoặc mấy khóm gừng luống tỏi đầy ‘nhân tính’ trong bài thơ
của Ôn-Như-Hầu Nguyễn Gia Thiều (1741-98):
Lởm
chởm gừng vài khóm,
Lơ thơ tỏi mấy hàng,
Vẻ chi là cảnh mọn
Mà cũng đến tang thương.
b.
Hoa
thu
(萩hagi)

Hoa thu
Yuki yuki te
Đi, đi mãi
Taore fusu tomo
Dầu có ngã trên đường
Hagi no hara
Cánh đồng hoa thu
Mai đây có ngã trên đàng,
Cho tôi xin ngã giữa ngàn hoa thu !
Cây thu thuộc họ đậu, cao chừng 1 mét rưởi, mọc thành từng
bụi. Cành thường lã xuống. Hoa màu hồng tía hay màu trắng.
Trong các tác phẩm của Bashō, chúng ta thấy có nhiều hoa
thu. Nhà thơ chắc hẳn mến loài hoa ‘cỏ mọn hoa hèn,’ đơn sơ,
không rực rỡ lộng lẫy — có từ thuở xa xưa. Hoa thu là một
trong bảy loại cây cỏ tiêu biểu của mùa Thu (七草thất-thảo),
người Nhật gọi là nanakusa.
c.
Hoa nghệ (紅花benibana)

Hoa nghệ (benibana)

Mayu haki o
Kẻ lông mày
Omokage ni shite Liên tưởng
đến
Beni no hana
Hoa nghệ phấn
Bên đường hoa nghệ nở vàng,
Người xưa bên cửa điểm trang thuở nào…
hoặc:
Nghệ
nở vàng hoe cả cánh đồng,
Có
ngồi bên cửa điểm trang không ?
Cây nghệ thuộc họ cúc và sống được một hay hai năm. Cây
nguyên ở Ả Rập và vùng Tiểu Á Tế Á, dùng để lấy dầu,
dược liệu, hay thuốc nhuộm. Người ta dùng hột để lấy dầu,
khi đốt hột ra tro người ta lấy tro đó làm mực xạ.
Thân cây cao từ 30 đến 90 centimét, chung quanh lá có gai lởm
chởm. Vào mùa Hè, hoa nở một phần màu vàng nghệ, một
phần sắc đỏ tươi rực rỡ. Huyện Yamagata trồng nhiều nhất
nước Nhật về hoa nghệ; người ta thường trồng cả một cánh
đồng.
·
“Rừng phong thu đã nhuốm màu quan san”
Okuraretsu
Được người đưa tiễn
Okuritsu hate wa
Rồi đưa tiễn người
Kiso no aki
Mùa Thu ở rừng Kiso
Tiễn đưa, đưa tiễn mấy lần,
Quan san Thu đã nhuốm rừng Ki-so !

Cảnh Thu ở gần cầu Togetsubashi
(渡月橋Độ-Nguyệt
Kiều),
Kyoto  

Chùa Kiyomizudera
(清水寺Thanh-Thủy
Tự )
vào Thu, Kyoto
Cây kaede (楓)
chữ Hán gọi là “phong”. Cây phong vào mùa Thu lá đỏ rực
gọi là momiji (紅葉
hồng
diệp),
tức là “lá đỏ”.
Truyện Kiều
có câu:
Rừng phong thu
đã nhuốm màu quan san,
Dặm
hồng bụi cuốn chinh an.
Trông
người đã khuất mấy ngàn dâu xanh...
(Câu 1520-1522)
Cây phong của Nhật Bản và cây phong trong Truyện
Kiều phải giống nhau. Tuy nhiên, cây phong ở Nhật (Japanese
maple) vào mùa Thu lá đỏ rực như lửa, khác những cây
phong thường. Nước ta tuy không có cây phong, nhưng Tiên Điền
Nguyễn Du đã đi sứ sang Trung Hoa và nhà thơ đã mượn Trung
Hoa làm tìêu chuẩn đối chiếu.
Theo nhân sinh quan của Bashō, đời là một chuyến đi hay một
cuộc lữ hành. Trong đời có bao biết nhiêu lần tiễn đưa, đưa
tiễn. Trong bài thơ trên, Bashō tuyệt nhiên không nói đến tình
cảm luyến tiếc của kẻ ở người đi lúc chia tay. Theo tinh
thần của Thiền tông, người làm thơ haiku không biểu lộ
tình cảm riêng tư, tức là phải vô ngã (muga無我).
Ở đây nhà thơ chỉ nói đơn sơ là sau mấy bận
tiễn-đưa-đưa-tiễn, mùa Thu đến lúc nào chẳng hay.
Nhẹ nhàng thật, nhưng có gì man mác, lưu luyến.
·
Hoa anh đào
muôn thuở
Samazama no
Nhiều
Koto omoidasu
Chuyện nhớ lại
Sakura kana
Hoa anh đào !
Khơi bao niêm nhớ vô vàn,
Cánh hoa đào ấy chẳng tàn trong tôi !

Chùa
Ryōanji
(竜安寺Long-An
Tự),
Kyoto
Bài thơ
còn có thể hiểu như sau:
Bao
nhiêu thế sự cùng năm tháng,
Vẫn nhớ đào hoa một dạo
nào !
hoặc:
Dẫu
cho ngày tháng phôi pha,
Chao ôi nhớ mãi hoa đào năm
nao !
hoặc:
Nhớ
chi ngày tháng qua rồi ?
Nhớ
chăng chắc hẳn anh đào ngày xưa !
Hoa anh đào với người Nhật có ý nghĩa rất đặc
biệt. Cứ vào cuối tháng ba cho đến đầu tháng tư mỗi năm,
khi hoa anh đào nở, dân chúng lại nô nức rủ nhau đi xem hoa.
Nhiều người thích đi tản bộ dưới những cành hoa, vừa ngắm
hoa vừa chụp hình lưu niệm. Lắm kẻ lại thích cùng gia đình
hoặc bầu bạn trải chiếu ngồi dưới gốc hoa — vừa thưởng hoa
vừa ăn uống, ca hát.
Ngày tựu trường mỗi năm học ở Nhật cũng vào đầu tháng tư,
đúng vào mùa hoa anh đào. Vì thế người Nhật gọi bạn đồng
song là ‘bạn cùng mùa hoa anh đào’ (dōki no sakura同期の桜).
Lâu ngày gặp lại bạn đồng song, người ta không khỏi nhớ đến
mùa hoa anh đào thuở mới quen nhau. Na ná như người Việt khi
nhìn cành hoa phượng, ‘hoa học trò’, lại thổn thức
nhớ lại tuổi hoa niên:
Sao bông phượng
nở trong màu huyết,
Nhỏ xuống lòng tôi những giọt châu ?
Hàn Mặc Tử
Hoa anh đào có nhiều loại: có loại hoa đơn, có loại hoa
kép, có loại có cành lả ngọn tựa như liễu rũ v.v.
Hoa anh đào nào cũng chóng tàn. Ngày xưa, người võ sĩ (samurai)
đã chọn hai thanh kiếm và hoa anh đào làm biểu tượng, bởi
lẽ người võ sĩ nguyện sẵn sàng hiến thân cho chủ tướng
giống như hoa anh đào sẵn sàng rơi rụng trước cơn gió nhẹ.
Nói theo ngôn ngữ nhà Phật, hoa anh đào là biểu tượng của
sự vô thường (mujō
無常),
vô ngã (muga無我)
trong cuộc đời.
Bashō đã sáng tác bài thơ trên khi trở lại cố lý ở Iga (nay
thuộc huyện Mie) và viếng thành Ueno, nơi hơn hai mươi năm
trước đã một thời là võ sĩ dưới trướng của Tōdō Yoshitada.
Sau đó, vì chủ quân mất sớm, Bashō đã từ bỏ phù hoa của
thế tục để lấy gió trăng làm bạn lữ.
Nhìn lại những cành hoa anh đào mang sắc hình của tuổi hoa
niên giờ đang nở rộ dưới nắng Xuân, chắc hẳn nhà thơ cũng
dậy lên biết bao kỷ niệm. Tuy nhiên, Bashō vẫn trầm tĩnh như
mọi khi, chỉ cho biết là nhà thơ chợt nhớ lại cánh hoa đào
ngày trước. Dĩ nhiên chúng ta đoán hiểu là cánh hoa đào nơi
cố lý đã xui nhà thơ nhớ lại chuyện xưa.
Lời thơ đơn sơ, nhẹ nhàng, nhưng hàm súc và sâu lắng.

Hoa anh đào bên “Lối đi của các triết nhân”,
Kyoto
Viết lại xong vào những ngày áp Tết Tân Mão (2011)
|