|
|

(
Bị chú của ERCT: Bài này anh Vĩnh Sính (Exryu
63, Giáo sư Sử học đại học
Alberta - Canada) đă posted trên : http://zdfree.free.fr/diendan/archuni/u122vsinh.html
.
và được anh Vĩnh Sính cho phép post
lại trên ERCT. Xin cám ơn anh Vĩnh Sính.)
.................................................
Về
bài CẨM SẮT của Lư Thương Ẩn
Từ ư nghĩa bài thơ cho đến
tiếng đàn sum họp của
Thuư Kiều
Vĩnh Sính
Mùa Hè năm nay, trên đường
từ Việt Nam về lại Canada, tôi ghé
Tokyo, thăm anh bạn cũ đang ốm
nặng. Một tối, trước giờ đi
ngủ, t́nh cờ thấy trong nhà có cuốn Ri
Shôin (Lư Thương Ẩn, 812?-858), tôi
lấy ra xem. Lư sống vào thời văn Đuờng
ở Trung Quốc, một thời kỳ có
lắm bế tắc về chính trị và xă
hội, nhưng chín muồi về văn hoá
nghệ thuật. Tuy đỗ đạt cao, Lư
không mấy may mắn trên bước hoạn
lộ. Thơ Lư được ưa chuộng
nhưng nổi tiếng hóc búa. Trong thơ có
nhiều điển tích, giàu h́nh tượng, mà
cũng chứa lắm ẩn dụ khó giải mă.
Cẩm sắt thường được
xem là bài thơ hay nhất và cũng là bài thơ
khó hiểu nhất của họ Lư. Chả
vậy mà nhà b́nh thơ đời Thanh Vương
Sĩ Trinh đă nhận xét : ‘Nhất biên
Cẩm sắt giải nhân nan’ (Bài thơ
Cẩm sắt hiểu sao đây !) 1
Tối đó tôi khẽ đọc
bài Cẩm sắt qua âm Hán Việt. Ngâm
chầm chậm hai câu mở đầu ‘Cẩm
sắt vô đoan ngũ thập huyền /
Nhất huyền nhất trụ tứ hoa niên’
, tự dưng tôi thấy xúc động
mạnh. Chỉ có hai câu mà họ Lư đă
đưa người đọc đến ngay
ngưỡng cửa của những dĩ văng xa
xôi, sâu lắng. Ngâm xong cả bài, tuy không
nắm hết ư nhưng tôi vẫn cảm
thấy những âm hưởng trong Cẩm
sắt có sức quyến rũ, có một ma
lực lạ lùng. Người dịch, chú thích
và b́nh luận tập thơ Ri Shôin là
Takahashi Kazumi (1931-71), một nhà văn, nhà thơ,
và cũng là một nhà nghiên cứu văn
học Trung Quốc xuất sắc nhưng
mệnh bạc. Những lời b́nh của
Takahashi như những tia chớp sáng, trong
khoảnh-khắc-một-sát-na đưa người
đọc đi thẳng vào thế giới
thẩm mỹ của thơ Lư Thương
Ẩn mà các nhà b́nh luận thơ Đuờng xưa
nay vẫn thường nói tới. Đ?c lui đọc
lại, tôi như bị thu hút bởi bài thơ.
Duyên nọ dẫn đến duyên kia, sau đó
cũng do t́nh cờ, tôi được biết
là trong phần cuối Truyện Kiều,
Nguyễn Du cũng đă mượn bốn câu
trong bài thất ngôn bát cú này để diễn
tả cảnh Kiều gẩy đàn cho Kim
Trọng nghe sau mười lăm năm cách
biệt. Khi so sánh bốn câu trong nguyên tác
với đoạn thơ phóng dịch trong Kiều,
chúng tôi phát hiện một điều khá
kỳ thú : Tiên Điền tiên sinh đă thay đổi
không khí u uất trong nguyên tác thành một
bầu không khí đầm ấm, êm ái, tươi
sáng cho phù hợp với cảnh sum họp vui
vầy giữa Kiều với Kim Trọng !
Mục đích của chúng tôi khi
viết bài này là hy vọng được chia
sẻ với độc giả một bài thơ
hay, đồng thời cũng mong được
mạn đàm về một số chi tiết
xung quanh bài thơ và đưa ra một số
nhận xét về đoạn thơ phỏng
dịch trong Truyện Kiều nói trên. Trước
hết, ta thử xem qua gốc gác những
từ cần giải thích cùng những điển
tích trong bài Cẩm sắt.
 |
Cẩm sắt
Cẩm sắt vô đoan ngũ
thập huyền,
Nhất huyền nhất trụ tứ hoa
niên.
Trang sinh hiểu mộng mê hồ điệp,
Vọng đế xuân tâm thác đỗ
quyên.
Thưng hải nguyệt minh châu hữu
lệ,
Lam điền nhật noăn ngọc sinh yên.
Thử t́nh khả đăi thành truy ức,
Chỉ thị đương th́ dĩ vơng
nhiên.
|
Câu 1 ) Cẩm sắt : Có người
dịch là đàn gấm, 2
nhưng trên thực tế là cây đàn
sắt có chạm trổ. Đàn
sắt là loại
đàn lớn làm bằng gỗ cây ngô đồng.
Đàn sắt và đàn cầm là hai loại đàn
cổ, chữ cầm sắt 3
thường dùng nhằm chỉ vợ chồng
hoà hợp, như đàn sắt đàn cầm
hoà nhau. Theo Daijigen (Đại từ nguyên),
cẩm sắt là mỹ danh của cây đàn
sắt 4.
Vô đoan : do đâu, từ đâu, không có
lư do. Ngũ thập huyền : Theo truyền
thuyết, khi Tố Nữ gẩy đàn sắt
tế trời theo lệnh vua Phục Hy 5
, đàn này có 50 dây. Nhưng v́ tiếng đàn
quá ai oán năo nùng, Phục Hy cấm không cho
sử dụng đàn này nữa. Sau đó, v́ dân
chúng vẫn không chịu tuân lệnh, Phục Hy
mới cho phép dùng nửa số dây, từ đó
đàn sắt chỉ có 25 dây (theo Phong
thiền thư, Sử kư của Tư Mă
Thiên ; hoặc Giao tự chí, Hán thư
của Ban Cố đời Hậu Hán). 6
Câu 2) Trụ : trụ ;
trục ; hay ‘con nhạn’ đỡ dây đàn
(huyền). Hoa niên : Thanh xuân, tuổi
trẻ, thời kỳ rạo rực yêu
đương. Tư, tứ : nghĩ,
nhớ ; ở đây dùng theo nghĩa ‘gợi
nhớ’ . Mỗi dây đàn, mỗi trục, xui
nhớ lại tuổi hoa niên. Đọc hai câu
mở đầu, ta không khỏi liên tưởng
đến hai câu hát ru con Việt Nam ‘Hai tay
cầm bốn tao nôi / Tao thẳng tao dùi, tao
nhớ tao thương’ — tuy dân dă mộc
mạc nhưng có sức gợi cảm cũng vô
cùng mănh liệt.
Câu 3) Trang sinh : tức Trang
Chu, nhà tư tưởng thời Chiến
Quốc. Sách Trang Tử ghi lại
những ngôn thuyết của Trang Tử cùng
những người cùng phái, chủ trương
là mọi việc trên đời như lớn
nhỏ, khôn dại, sống chết, v.v.
chẳng có ǵ khác nhau cho lắm ; xem vô vi,
tự nhiên là đạo đức cao nhất.
Thuyết giải về sự khó phân biệt
giữa tỉnh và mộng, sống và chết,
thiên Tề vật luận trong Trang
Tử viết : " Ngày xưa, Trang Chu chiêm
bao thấy ḿnh hoá bướm bay nhởn nhơ,
tự lấy làm thích chí, quên ḿnh là Chu.
Bất giác tỉnh giấc, thấy h́nh thù ḿnh
vẫn là Chu. Không biết Chu chiêm bao là bướm,
hay bướm chiêm bao là Chu ! "
Câu 4) Vọng đế :
đế hiệu của vua Đỗ Vũ nước
Thục cuối đời Chu (nên c̣n gọi là
Thục đế). 7
Tương truyền Vọng đế ra
lệnh bộ hạ là Miết Linh đi cứu
lũ ở xa nhằm thừa dịp tư t́nh
với vợ của Miết Linh. Sau đó
Vọng đế tự hổ thẹn về hành
vi bất chính của ḿnh, từ ngôi rồi mai
danh ẩn tích. Mỗi năm cứ vào tháng hai
âm lịch (Vọng đế rời đất
Thục cũng vào tháng này), đêm đêm chim
đỗ quyên lại cất tiếng sầu
thảm. Bởi vậy, người nước
Thục mỗi lần nghe tiếng chim đỗ
quyên lại nhớ đến Vọng đế
8
. Xuân tâm : ḷng xuân, c̣n có nghĩa như
‘xuân t́nh’: t́nh yêu trai gái, có thể bao hàm hơi
hướng tính dục. Nguyễn Du cũng đă
dùng chữ ‘xuân t́nh’ khi phỏng dịch
đoạn thơ này trong Truyện Kiều.
Câu 5) Thương hải :
Biển xanh, c̣n có nghĩa là biển rộng,
biển cả. Thương hải cũng có khi
dùng để chỉ tên một biển hư
cấu ở cơi tiên. Nguyệt minh châu hữu
lệ : Theo Văn tuyển (Lư
Thiện chú thích), " khi trăng đầy,
trai có ngọc (châu), khi trăng khuyết trai không
có ngọc " (nguyệt măn tức châu toàn,
nguyệt khuy tức châu khuyết). Theo
cuốn Biệt quốc động minh kư
thời Lục Triều, ngày xưa có người
lặn xuống đáy biển t́m ngọc,
lạc vào cung điện của nhân ngư, t́m
được bảo ngọc do nước
mắt của nhân ngư đọng lại 9.
Ngoài ra, câu này c̣n có thể hiểu theo điển
tích thương hải di châu (hạt
ngọc bỏ rơi trong biển cả), ngụ
ư là người có tài mà không có chỗ thi
thố.
Câu 6) Lam Điền : tên một
ngọn núi ở Thiểm Tây (Lam điền sơn),
c̣n gọi là Ngọc sơn, nổi tiếng có
nhiều ngọc quư. Theo Sơn hải kinh,
Ngọc sơn là nơi bà tiên Tây Vương
Mẫu ở — chi tiết này khiến người
đọc liên tưởng đến một cơi
tiên hư cấu, giống như Thương
hải trong câu 5 10.
Ngọc sinh yên : Theo Lục dị
truyện, con gái Ngô Phù Sai là Tử
Ngọc yêu người lính hầu là Hàn
Trọng nhưng không được Ngô vương
chấp thuận, mang mối bi t́nh xuống
tuyền đài. Một sáng, khi Ngô vương
đang dùng lược chải tóc, nh́n ra vườn
thấy có viên ngọc lớn màu tím chiếu sáng,
phu nhân nghe nói chạy ra vườn, khi vừa
ôm chầm ḥn ngọc th́ ngọc tan thành khói
biến mất. Lại có thuyết cho rằng
tứ thơ trong câu này lấy từ ư câu sau
đây của nhà thơ Đái Thúc Luân (732-789)
thời Trung Đường : " Cảnh, đối
với nhà thơ, tựa như viên ngọc quư
bốc tan thành khói khi Lam Điền ửng
nắng, chỉ có thể đứng nh́n từ
xa chứ không được lại gần
" (thi gia chi cảnh như Lam Điền
nhật noăn lương ngọc sinh yên, khả
vọng nhi bất khả trí ư mi tiệp chi
tiền giă) 11.
Hai câu 5 & 6 đối nhau,
bởi vậy khi chuyển ngữ chúng tôi đă
cố gắng giữ nguyên những chữ đối
nhau trong câu. Nói một cách khác, khi xem Thương
hải là một danh từ tiêng, chúng tôi cũng
xem Lam điền là danh từ riêng ; và khi
dịch ‘thương hải’ như một
danh từ chung (biển cả), chúng tôi cũng
dịch ‘lam điền’ như một danh
từ chung (đồng xanh).
Hai câu 7 & 8) Khả [đăi]
: trợ từ có nghĩa là : phải, nên, đáng,
có thể, chắc có thể, có lẽ, h́nh như
; hoặc là trợ từ nghi vấn (làm sao có
thể...). Vơng nhiên : không biết ǵ
cả, ngơ ngác như mất hồn, phôi pha.
Câu 7 có thể dịch là " T́nh này [giả
sử] có thể trở thành một cái ǵ để
ghi nhớ " hoặc " Làm sao có thể
chờ đợi để t́nh này trở thành
cái ǵ để ghi nhớ ? " Chúng tôi đă
chọn cách dịch thứ nhất. Câu 8 có nghĩa
là " Th́ lúc ấy thời gian/duyên t́nh cũng
đă phôi pha/tàn phai/nhạt nhoà ".
Sau đây là hai bản dịch bài
Cẩm sắt của chúng tôi :
|
Bản dịch 1 :
Cẩm sắt v́ đâu năm
chục dây ?
Mỗi dây mỗi trục nhớ thương
đầy.
Trang sinh sớm mộng mê thành bướm,
Thục đế t́nh xuân tiếng
cuốc chầy.
Thương hải trăng thanh châu
nhỏ lệ,
Lam điền nắng ấm ngọc tan
bay.
T́nh này ví thử sau c̣n nhớ,
Lúc đă tàn phai với tháng ngày !
|
Bản dịch 2 :
Cẩm sắt v́ đâu ngũ-thập-huyền
?
Mỗi dây mỗi trục gợi hoa niên.
Trang sinh sớm mộng mê thành bướm,
Thục đế xuân t́nh gửi tiếng
quyên.
Bể cả trăng thanh châu đẫm
lệ,
Đồng xanh nắng ửng ngọc tan
liền.
T́nh này ví thử sau c̣n nhớ,
Khi đă qua rồi thuở lứa duyên !
|
Như chúng ta đă thấy,
lời thơ trong bài Cẩm sắt
đượm nét buồn man mác, như chất
chứa một ‘nỗi sầu vạn đời’.
Có người cho rằng Lư đă viết bài
thơ này vào những năm cuối đời
để khóc người vợ quá cố
của ḿnh, có kẻ bảo Lư viết để
than tiếc cho người yêu mang tên là Cẩm
Sắt. Ngoài ra c̣n có không biết bao nhiêu
giả thuyết khác 12.
Có lẽ chúng ta nên hiểu là Lư muốn nói
về bản chất mộng ảo, mong manh
của cuộc đời và của t́nh yêu, không
chỉ của nhà thơ mà của con người
nói chung. Những năm tháng đă trôi qua trong
cuộc đời (mà trăm năm là giới
hạn) như thâu gọn lại trong năm
chục sợi dây đàn. Từ mỗi dây,
tiếng đàn ngân lên như khơi dậy
lại tuổi hoa niên, của ‘cái thuở ban
đầu lưu luyến ấy / ngàn năm chưa
dễ đă ai quên’ (Thế Lữ) ! Làm sao phân
biệt thực với mộng ? Trang Chu hay con bướm,
Thục đế hay chim đỗ quyên, bên nào
thực, bên nào mộng ? Ngay giữa lúc ‘Thương
hải trăng thanh’ th́ ‘châu đẫm
lệ’ , và ngay khi ‘Lam điền nắng
ấm’ th́ ‘ngọc tan bay’ ! Và t́nh yêu, khi
muốn ghi nhớ, muốn trân trọng, th́
hỡi ôi, lúc đó thời gian đă phôi pha ;
duyên t́nh, hương nguyền ngày trước
c̣n đâu nữa ! Tất cả đều mong
manh, mộng ảo.
Cho dầu chúng ta không thể
giải thích một cách thoả đáng tất
cả những ẩn dụ trong Cẩm
sắt, nhưng vẫn có thể cảm
nhận được giá trị của bài thơ,
đúng như Lương Khải Siêu (1873-1929)
đă nhận xét khi đọc những bài thơ
khó giải mă của Lư. Lương viết :
" Tôi không hiểu và thậm chí không thể
giải thích ư nghĩa của từng câu thơ,
nhưng tôi vẫn yêu và vẫn bị lôi
cuốn bởi vẻ đẹp của thơ
họ Lư " 13.
Cuối cùng, chúng tôi xin đưa
ra vài nhận xét về đoạn phóng dịch
bốn câu 3, 4, 5, 6 của bài Cẩm sắt
trong Kiều. Đoạn này nằm trong
phần cuối của Truyện Kiều,
khi Kiều và Kim Trọng gặp lại nhau sau mười
lăm năm cách biệt. Kim Trọng nhờ
Kiều đánh đàn cho ḿnh nghe, và Kiều
đă " nể ḷng người cũ vâng
lời một phen ". Trước đó,
khi Kiều đàn cho Kim Trọng nghe lần đầu
tiên, hay trong những lần Kiều bị
buộc phải gẩy đàn cho Thúc Sinh,
Hoạn Thư, v.v. nghe, th́ tiếng đàn
của nàng lâm ly, năo nùng, " nghe ra như oán
như sầu phải chăng ". Nhưng
lần này, khác hẳn với những lần trước,
tiếng đàn của Kiều nghe thật
ấm áp, êm ái, trong sáng. Nguyễn Du đă phóng
dịch bốn câu trên nhằm diễn tả
tiếng đàn sum họp của Thuư Kiều như
sau :
Khúc đâu đầm ấm dương
hoà,
Ấ y là hồ
điệp hay là Trang sinh.
Khúc đâu êm ái xuân t́nh,
Ấy hồn Thục đế hay ḿnh đỗ
quyên ?
Trong sao châu nhỏ duềnh quyên,
Ấm sao hạt ngọc Lam Điền mới đông
!
Qua tiếng đàn vui tươi,
ấm áp trong đoạn phóng dịch này, người
đọc không c̣n thấy bóng dáng trăn
trở hoài nghi của một Trang Chu nguyên sơ
trong thiên Tề vật luận 14,
tiếng ca của chim đỗ quyên không c̣n
nhuốm máu v́ Thục đế — mà chỉ là
một giai điệu êm ái gợi nhớ
vị quân vương đa t́nh, những
hạt châu không c̣n đẫm lệ ở Thương
hải vào những đêm trăng tỏ, và
hạt ngọc kia cũng không c̣n bốc khói khi
ửng nắng ở Lam điền !
Dĩ nhiên Tiên Điền tiên sinh
đă không hiểu lầm ư thơ của
họ Lư. Do đâu mà chúng ta có thể khẳng
định như vậy ? Ngoài bản lĩnh
của nhà học giả này như ta đă
biết, lư do là ngay sau đó, khi Kim Trọng
hỏi Kiều : " Tiếng đàn ngày trước
sao ai oán, năo nùng, mà hôm nay em đàn sao nghe vui
thế ? " (Chàng rằng : Phổ ấy
tay nào ? Xưa sao sầu thảm, nay sao vui
vầy), th́ Nguyễn Du đă thay nàng
Kiều đáp lời : " Tẻ vui bởi
tại ḷng này / Hay là khổ tận đến
ngày cam lai ? ". Mặc dầu phải đối
đầu với định mệnh phũ phàng,
nghiệt ngă trong suốt mười lăm năm
chia cách (Ong qua bướm lại đă
thừa xấu xa / Bấy chầy gió táp mưa
sa), Nguyễn Du đă thay Kiều khẳng
định phẩm chất đẹp đẽ
trong sạch của nàng : " Chữ Trinh c̣n
một chút này ". Chữ Trinh ở đây
dĩ nhiên phải hiểu theo nghĩa tinh
thần. Kiều cảm kích bởi tấm ḷng
của người cũ, v́ hơn ai hết Kim
Trọng hiểu được điều đó,
bởi thế Kiều mới nói : " Thân tàn
gợi đục khơi trong / Là nhờ quân
tử khác ḷng người ta / Mấy lời tâm
phúc ruột rà / Tương tri dường
ấy mới là tương tri " ! Trong không
khí " t́nh xưa lai láng khôn hàn ", Kim
Trọng nhờ Kiều gẩy cho nghe một khúc
(" Thong dong lại hỏi ngón đàn ngày xưa
"). Đoạn Nguyễn Du phỏng dịch
từ Cẩm sắt chính là để
diễn tả tiếng đàn của Thuư
Kiều lúc đó.
Ta hăy thử suy luận. Phải chăng
Nguyễn Du đă thay đổi hẳn bầu
không khí ‘một cách sáng tạo’ khi phỏng
dịch đoạn trên nhằm nói rơ lên
rằng " Tẻ vui bởi tại ḷng này
", và trong giờ phút tương phùng
Kiều cảm thấy đă được
phỉ nguyền (" Ba sinh đă phỉ mười
nguyền "), hay nói đúng hơn, nàng
cảm thấy đă được giải thoát
khỏi nghiệp chướng ? Chắc hẳn
chính v́ vậy, nên ngay cả giai điệu lâm
ly, u uất của bài Cẩm sắt mà nghe
vẫn êm ái, đầm ấm ! Bằng
chứng cụ thể và hùng hồn nhất
về sự cố ư thay đổi một cách
sáng tạo của Nguyễn Du có thể t́m
thấy ở câu cuối cùng trong 6 câu thơ
phỏng dịch. Trong câu này, thiên tài họ
Nguyễn đă đảo ngược hiện tượng,
biến " Lam điền nhật noăn
ngọc sinh yên " (Lam điền nắng
ấm ngọc tan bay) thành " Ấm
sao hạt ngọc Lam Điền mới đông
", tức " ngọc tan thành khói " trong
nguyên tác đă trở thành " ngọc...
mới đông " trong Truyện
Kiều ! V́ " ngọc... mới đông
" nên Nguyễn Văn Vĩnh khi chuyển
ngữ Kiều sang tiếng Pháp, đă dịch câu
này là : ‘Et c’était chaud comme une de ces
gouttes qui viennent de se cristalliser en perles sur la
plaine de Lam điền’ 15.
Trong Truyện Kiều,
điều đáng chú ư là Nguyễn Du đă
khởi đầu bằng thuyết tài
mệnh tương đố cũng có
xuất xứ từ thơ của Lư Thương
Ẩn (" Cổ lai tài mệnh lưỡng
tương phương ", tức " Xưa
nay tài mệnh vốn thường kỵ nhau
"), và như chúng ta đă thấy, trong
phần kết thúc Nguyễn cũng đă phóng
dịch một đoạn thơ của họ Lư
trong khúc đàn cuối cùng của nàng Kiều
nhằm chứng minh là ‘tẻ vui’ là
‘bởi tại ḷng này’ và niềm vui sẽ có
được khi trong ḷng không c̣n bị vướng
vất bởi các nghiệp chướng. Theo
Nguyễn Du, đánh thức thiện căn,
thiện tâm chính là ch́a khoá đưa đến
sự giải thoát (" Thiện tâm ở
tại ḷng ta / Chữ tâm kia mới bằng ba
chữ tài ").
Sự thay đổi nội dung,
từ bốn câu thơ trong bài Cẩm sắt
sang đoạn phóng dịch trong phần kết
thúc Truyện Kiều, nghĩ cho cùng,
là một hiện tượng khúc xạ xảy
ra khá phổ biến, với mức độ khác
nhau, khi nước này tiếp thu văn hoá nước
kia trong quá tŕnh giao lưu / giao thoa văn hoá. Điều
đáng chú ư là trong trường hợp này, thiên
tài Nguyễn Du đă ‘Việt Nam hoá’ bốn
câu thơ trong bài Cẩm sắt một cách
điêu luyện nhằm bảo vệ nàng
Kiều, nạn nhân của nghịch cảnh xă
hội, và chứng minh rằng mặc bao ‘gió táp
mưa sa’, nàng Kiều đă giữ được
phẩm giá trong trắng của ḿnh. Như
nhiều thức giả đă nhận xét, đành
rằng Tố Như tiên sinh đă ít nhiều kư
thác tâm sự vào Kiều khi bảo vệ cho nàng
16,
tuy nhiên tâm thức ‘tấm ḷng như tuyết
như băng’, hoặc ‘gần bùn mà
chẳng hôi tanh mùi bùn’ mà Tố Như tiên
sinh đă khẳng định qua Kiều nằm
ngay trong cốt lơi tâm t́nh dân tộc của người
Việt. Có lẽ v́ thế nên Truyện
Kiều, ngoài những vần thơ điêu
luyện, đă được người
Việt — nạn nhân của không biết bao cơn
binh lửa cùng nghịch cảnh xă hội — yêu
chuộng măi không thôi.
Vĩnh Sính
1
Trích lại từ Wang Chiu-kuei [Vương Thu
Quế], ‘Objective Correlative’ in the
Love Poems of Li Shang-yin (Tương quan khách
quan trong những bài thơ t́nh của Lư Thương
Ẩn), Trung tâm Nghiên cứu Ngữ văn
Ngoại quốc, Đại học Quốc lập
Đài Loan (Taipei : Quỹ Văn hoá, Gia Tân Thuỷ
Nê Công Ty, 1970), trang 31.
2
Ví dụ, xem Lê Nguyễn Lưu, Đường
thi tuyển dịch (Huế
: Nxb Thuận Hoá, 1997), tập 2, trang 1331.
3
Có học giả nhầm tên bài thơ này là Cầm
sắt, thay v́ Cẩm sắt ; ví dụ
: Nguyễn Thạch Giang khảo đính và chú
giải, Truyện Kiều (Hà Nội:
Nxb Giáo Dục, 1996, xuất bản lần
thứ XIII), trang 234 ; hoặc Bùi Kỷ &
Trần Trọng Kim hiệu khảo và chú thích, Truyện
Thúy Kiều (Fort Smith, AR : Nxb Sống Mới,
không ghi năm in lại), trang 206.
4
Tokyo: Kadokawa Shoten, 1992, trang 1820.
5
Có sách ghi là Thái đế. Xem James Liu, The
Poetry of Li Shang-yin (Thơ Lư Thương
Ẩn). (Chicago: The University of Chicago Press, 1969), trang
51.
6
Trích dẫn lại từ Takahashi Kazumi, Ri Shôin
(Lư Thương Ẩn) (Tokyo : Kawade Bunko, 1996),
trang 40.
7
Đối với độc giả Việt Nam, tuy
cách gọi Thục đế nghe quen tai hơn
Vọng đế, nhưng nguyên văn chữ Hán
để là Vọng đế th́ ta phải theo
đúng vậy, khi dịch sang tiếng Việt dĩ
nhiên ta có thể chuyển thành Thục đế
để độc giả người Việt
dễ theo dơi hơn. Có tác giả ghi nhầm
nguyên văn trong Cẩm sắt là Thục
đế ; chẳng hạn như : Nguyễn
Thạch Giang khảo đính và chú giải, sđd,
trang 234 ; Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu chú
giải, Vương Thuư Kiều (Đoạn
trường tân thanh) (Sài
G̣n : Tủ sách Hương Sơn, 1960), trang 234.
8
Takahashi Kazumi, sđd, trang 40.
9
Như trên.
10
Như trên, trang 40-41.
11
Trích lại từ Wang Chiu-kuei, sđd, trang
38.
12
Xem James Liu, sđd, trang 52-57.
13
Xem Fusheng Wu, The Poetics of Decadence : Chinese Poetry of
the Southern Dynasties and Late Tang Periods (Thi
ca đồi phế : Thơ Trung Quốc vào
thời Lục Triều và Văn Đường)
(Albany, NY : State University of New York, 1998), trang 169.
14
Về điểm này, học giả Đặng
Thanh Lê cũng đă đưa ra nhận xét tương
tự trong Truyện Kiều và thể loại
truyện Nôm (Hà Nộiấ: Nxb Khoa học xă
hội, 1979), trang 141. Cách lư giải của Đặng
quân về ư nghĩa của đoạn phỏng
dịch từ Cẩm sắt hay phần ‘Tái
hồi Kim Trọng’ nói chung có điểm khác
với cách lư giải của chúng tôi.
15
Nguyễn Du, Kim Vân Kiều : Traduction en Français
par Nguyễn Văn Vĩnh (in
theo bản của Nhà Alexandre de Rhodes, Hà Nội,
1943 ; Nxb Văn Học, 1994), trang 780. Người
viết cho in chữ thẳng để nhấn
mạnh.
16
Theo quan niệm ‘trung thần bất sự
nhị quân’ (tôi trung không thờ hai vua) ngày trước,
việc làm quan cho hai triều (trước làm tôi
nhà Lê và sau ra làm quan cho nhà Nguyễn) chắc
đă làm Nguyễn Du trăn trở không ít.
|
|