
( Bị chú của ERCT: Bài này anh
Vĩnh Sính (Exryu 63, Giáo sư Sử học đại học Alberta -
Canada) đă posted trên : http://perso.wanadoo.fr/diendan/nouveau/u133vsinh.html do anh TĐA chia sẻ
và được anh Vĩnh Sính cho phép post lại trên ERCT.
Xin cám ơn anh A. và anh Vĩnh Sính.
.................................................
“ Hải
đường lả ngọn đông lân ”
Vĩnh Sính
Ở miền Bắc và miền Trung có
một loài hoa đẹp nở vào đầu Xuân ;
thân và cành cây cứng cáp, cao vừa phải ;
hoa năm cánh màu trắng, đỏ thắm hay
hồng tươi ; nhuỵ hoa màu vàng đậm
nhưng không có hương thơm. Dân gian quen
gọi loài hoa này là hoa “ hải đường ”.
Trong Từ điển tiếng Việt (1997) cây
“ hải đường ” được
định nghĩa là “ Cây nhỡ cùng
họ với chè, lá dày có răng cưa, hoa màu
đỏ trồng làm cảnh ”. Từ
điển Việt-Anh và Việt-Pháp thường
dịch “ hải đường ” là
camellia/camélia.
Trong Truyện Kiều,
Nguyễn Du đă nhắc đến hoa hải
đường hai lần nhằm gợi đến
nàng Kiều :
Hải đường lả ngọn
đông lân,
Giọt sương gieo 1
nặng cành xuân la đà.
(hàng 175-178)
Hải đường mơn
mởn cành tơ,
Ngày xuân càng gió càng mưa càng nồng.
(hàng 1283-1284)
Sự cách biệt giữa một cây
mang tên là “ hải đường ” có
thân và cành cây cứng cáp mà tôi hằng
thấy trong những khu vườn cổ ở
Huế, với ấn tượng về một
cây hải đường mảnh khảnh như
đă được miêu tả qua những
vần thơ trên đă khiến tôi thắc
mắc trong một thời gian khá lâu. Không
lẽ Tiên Điền tiên sinh lại miêu tả
cây hải đường thiếu chính xác
đến thế ? Niềm hoài nghi đó
được giải toả khi chúng tôi t́nh
cờ được thấy tận mắt cây
hải đường đúng như tiên sinh
đă miêu hoạ trong Kiều.
Một sáng mùa Xuân cách đây đă
có hơn 30 năm (ngày đó tôi c̣n là một
du học sinh ở Nhật), khi đang đi bách
bộ quanh khu cư xá du học sinh ở một
vùng khá yên tĩnh ở Đông Kinh, tôi chợt
thấy một cây hoa mảnh khảnh, cành trĩu
hoa màu hồng tươi. Loài hoa này tôi chưa
bao giờ thấy ở Việt Nam. Nhân có người
đi qua, tôi hỏi hoa ấy tên ǵ. Ông ta
bảo : “ Kaidô desu yo ”
(Hải đường đấy mà !). Không
hiểu linh tính nào đó đă cho tôi biết kaidô
đích thị là loài hoa hải đường
“ lả ngọn đông lân ”
mà Nguyễn Du đă nhắc đến trong Kiều
! Cho đến bây giờ khi ngồi viết
những ḍng này, tôi vẫn chưa quên
được cảm giác khoan khoái nhẹ nhàng
lúc đó khi vừa vỡ lẽ một điều
thắc mắc đă ám ảnh tôi khá lâu.
Đại từ điển tiếng
Nhật Nihongo daijiten định
nghĩa cây hải đường ở Trung
Quốc (haitang) và ở
Nhật (kaidô) như sau :
Hoa hải đường (pommier
sauvage)
“ Cây
nhỡ rụng lá, thuộc họ tường vi
(rose) trồng làm cây
kiểng trong vườn. Hoa nở vào tháng 4 dương
lịch, sắc hồng nhạt. Loại có trái
giống như quả táo tây, có thể ăn
được. Cao từ 2 đến 4 mét ”.
Cuốn từ điển này c̣n chua thêm là hoa
hải đường dùng để ví với
người con gái đẹp, đặc
biệt khi muốn nói lên nét gợi cảm hay
vẻ xuân t́nh. Theo “ Dương Quư Phi
truyện ” trong Đường
thư, một hôm Đường Minh Hoàng
ghé thăm Dương Quư Phi, nghe nàng c̣n chưa
tỉnh giấc, nhà vua bảo : “ Hải
đường thuỵ vị túc da ? ”,
nghĩa là “ Hải đường ngủ
chưa đủ sao ? ” Trong văn
học cổ Trung Quốc, cảnh hoa hải
đường trong cơn mưa thường dùng
để ví với dáng vẻ người con gái
đẹp mang tâm trạng u sầu. Tên khoa
học của cây hải đường là Malus
spectabilis; tiếng Anh gọi là flowering
cherry-apple (hay Chinese
flowering apple, Japanese flowering
crab-apple và nhiều tên khác nữa),
tiếng Pháp gọi là pommier sauvage.
Như vậy tên tiếng Việt
của cây camellia/camélia mà
từ trước đến nay ta thường
gọi lầm là “ hải đường ”
đúng ra phải gọi là ǵ ? Có người
gọi camellia/camélia là hoa trà,
hay trà hoa. Chẳng hạn, tiểu thuyết La
Dame aux camélias của Alexandre
Dumas (Dumas fils) trước đây
có người dịch là “ Trà hoa nữ ”
hay “ Trà hoa nữ sử ”, và từ
điển Việt Anh của soạn giả Bùi
Phụng cũng dịch “ trà hoa ” là camellia.
Tuy dịch camellia là trà hoa (hay
hoa trà) nghe có lư hơn là “ hải
đường ”, nhưng theo thiển ư cũng
chưa được ổn cho lắm v́ hoa trà
chỉ có màu trắng, trong khi đó camellia/camélia
không chỉ có màu trắng mà c̣n có màu hồng
và màu đỏ. Ta thử xem người
Nhật và người Trung Quốc gọi camellia/camélia
là ǵ. Tiếng Nhật gọi cây này là tsubaki,
chữ Hán viết là “ xuân ”, gồm
chữ bộ “ mộc ” bên trái và
chữ “ xuân ” là mùa Xuân bên phải.
Chữ “ xuân ” dùng trong nghĩa này nghe
quá lạ tai đối với người
Việt. Người Trung Quốc gọi camellia/camélia
là shancha (sơn trà), sơn trà
nghe cũng thuận tai và khá sát sao v́ cây này cùng
họ với cây chè (trà) và sơn trà nên
hiểu là cây “ trà dại ” hay một
biến thể của cây trà.
Đang phân vân chưa biết dùng
từ nào trong tiếng Việt để
dịch camellia/camélia cho
thật sát nghĩa, chúng tôi lướt xem Truyện
Kiều một lần nữa. Nào ngờ
lời giải cho câu vấn nạn của chúng
tôi đă có sẵn ngay trong đó : cụ
Nguyễn Du trong tác phẩm bất hủ của
ḿnh cũng đă dùng hoa “ trà mi ”
nhằm ám chỉ nàng Kiều, và trà mi chính là
từ tiếng Việt tương ứng
với camellia/camélia :
Tiếc thay một đoá
trà mi,
Con ong đă tỏ đường đi lối
về.
(hàng 845-846)
hoặc :
Chim hôm thoi thót về
rừng,
Đoá trà mi đă ngậm gương nửa vành
(hàng 1091-1092)
Nhưng do đâu chúng ta có thể
khẳng định như thế ? Việt
Nam Từ điển của Hội Khai trí
Tiến đức giải thích về hoa “ trà
mi ” như sau : “ Thứ
cây, có hoa đẹp, sắc đỏ, hoặc
trắng, mà không thơm ”. Trà mi cùng
họ với cây chè, có sắc đỏ
hoặc trắng, và không có có hương thơm
– đó chính là những đặc điểm
của cây camellia/camélia mà chúng
ta đă đề cập ngay ở đầu bài.
Hoa trà mi (camélia)
Một
điều thú vị và rất đáng chú
ư : “ trà mi ” là một tên gọi
thuần Nôm, không có trong chữ Hán ! Nói
một cách khác, thay v́ gọi “ sơn trà ”
như người Trung Quốc, ta chọn tên “ trà
mi ” là cách gọi riêng của người
Việt. Trong ấn bản chữ Nôm của Truyện
Kiều (bản Lâm Nhu Phu, 1870), hai chữ
“ trà mi ” được viết
bằng hai chữ Nôm như sau : chữ “ trà ”
được viết với bộ “ dậu ”
với chữ “ trà ” bên phải, và
chữ “ mi ” được viết
với bộ “ dậu ” với chữ
“ mi ” là cây kê bên phải (từ điển
của Hội Khai trí Tiến đức mượn
chữ “ mi ” là lông mày trong chữ Hán
để viết chữ “ mi ”
tiếng Nôm này). Trong Từ điển
Truyện Kiều, học giả Đào Duy
Anh trong phần văn bản viết hai chữ
“ trà mi ” là “ trà (đồ) mi ”
nhằm gợi ư “ trà mi ” cũng có
thể đọc là “ đồ mi ”,
tuy nhiên trong phần “ Từ điển ”
lại giải thích là “ nước
ta có hoa trà mi, nhưng khác với đồ mi
của Trung Quốc ”. Theo thiển ư,
hai chữ Nôm nói trên chỉ có cách đọc là
“ trà mi ” chứ không thể đọc
là “ đồ mi ”, v́ trong chữ Hán,
loài “ cây nhỏ, cành lá có gai,
đầu mùa hè nở hoa sắc trắng, hoa
nở sau các thứ hoa cây khác ” mà
Đào tiên sinh đă giải thích về “ hoa
đồ mi ” trong cuốn Hán
Việt từ điển do tiên sinh biên
soạn, chính là hoa mâm xôi (Robus
rosacfolius) trong tiếng Việt.
Qua bài viết ngắn
ngủi này, chúng tôi hy vọng đă chứng
minh được rằng cây hải đường
mà chúng ta thường ngỡ là tương
ứng với cây camellia/camélia
trong tiếng Anh và tiếng Pháp kỳ thực là
một loài cây có hoa khác, có tên khoa học là Malus
spectabilis. Mặt khác, tên
gọi tiếng Việt của hoa camellia/camélia
đúng ra phải là trà mi.
Trong Truyện
Kiều, cụ Tiên Điền
Nguyễn Du – nhà thơ muôn thuở của dân
tộc Việt Nam – đă dùng tên của hai loài
hoa này chính xác và tách bạch. Tiên Điền
tiên sinh mượn hoa hải đường
nhằm nói lên những nét yểu điệu
gợi cảm của nàng Kiều qua bóng dáng
của một Dương Quư Phi kiều
diễm. Khi định mệnh đă đưa
đẩy Kiều vào tay của Mă Giám Sinh và
Sở Khanh – những kẻ “ thương
ǵ đến ngọc tiếc ǵ đến hương ”
– tiên sinh đă mượn h́nh tượng
của đoá hoa trà mi nhằm nói lên kiếp
hồng nhan trước những thử thách quá
ư nghiệt ngă của số phận.
Nhân thể, chúng tôi cũng
xin nói rằng trong Đại
Nam nhất thống chí, trong
phần nói về các loài hoa ở “ Kinh sư ”
(Huế) và “ Phủ Thừa Thiên ”, có
đoạn nhắc đến hoa hải
đường. V́ có liên quan đến bài
viết này, chúng tôi xin trích lại nguyên văn
:
“ Kính xét bài thơ
‘Vịnh hải đường’ trong Minh
Mệnh thánh chế có lời
chú rằng : Theo Quần phương
phả th́ hải đường
có bốn loại, là chiêm cánh, tây phủ,
thuỳ lục và mộc qua, ngoài ra lại có
hoa vàng loại hoa thơm, nhưng đều là
cành mềm, hoa nhỏ, hoặc sắc vàng,
hoặc đỏ lợt, hoặc như yên chi,
chỉ có mấy sắc ấy thôi. Hải
đường phương nam th́ cây cao, lá to
vừa dài vừa nhọn, hoặc sắc đỏ
tươi, ruột có nhị, cánh to mà dày, lúc
nở đẹp hơn hoa phù dung, nên tục
gọi là “ sen cạn ”; so với hoa
hải đường ở đất Thục
th́ đẹp hơn nhiều, tựa hồ phương
Bắc không có giống hoa hải đường
này, cho nên những lời trước thuật
có khác. C̣n như nói rằng ‘hoa đẹp lá
tươi, mềm mại như xử nữ,
hay say như Dương Phi say, yểu điệu
như Tây Tử’ thực chưa h́nh dung
hết được vẻ đẹp của
hoa ấy. Năm Minh Mệnh thứ 17 khắc h́nh
tượng vào Nghị đỉnh. Lại có
một loại là Kim ti hải đường ”.
Đọc đoạn trích dẫn
ở trên, ta có thể thấy là ngay từ
thời vua Minh Mệnh đă có sự nhầm
lẫn giữa hoa hải đường và hoa
trà mi. Những loại hoa có “ cành mềm ”
trong phần trích dẫn đúng là hoa hải
đường, nhưng loại hoa gọi là “ Hải
đường phương nam th́ cây cao, lá
vừa to vừa dài vừa nhọn, hoặc
sắc đỏ tươi, ruột có nhị,
cánh to mà dày ...” th́ đúng ra phải gọi là
hoa trà mi chứ không phải là hoa hải
đường.
Nguyễn Du viết
Truyện Kiều trước
đó (dưới triều vua Gia Long), nhưng
tại sao thi hào họ Nguyễn lại có
thể phân biệt hai loại hoa này rạch ṛi
đến thế ? Chúng ta có thể phỏng
đoán là ngoài những kiến thức thu
thập qua sách vở, chắc hẳn Nguyễn
Du đă thấy tận mắt hai loài hoa này
trong lần đi sứ sang Trung Quốc vào năm
1813.
Một thức giả cũng
vừa cho chúng tôi hay là khi t́m trong Truyện
Kiều đối chiếu của
Phạm Đan Quế (Nxb Hà Nội, 1991) hai câu có
từ “ hải đường ” trích
dẫn ở trên th́ “ thấy đó là
những câu tả cảnh tả t́nh do
Nguyễn Du sáng tác ”, chứ không có trong nguyên
truyện của Thanh Tâm Tài Nhân (bản của
Nguyễn Đ́nh Diệm). Điều này càng xác
nhận sự hiểu biết chính xác về cây
cỏ cũng như tinh thần “ vận
dụng sáng tạo ” của Tiên Điền tiên
sinh khi viết Truyện
Kiều.
Edmonton, cuối Hè 2003
Vĩnh Sính
(1)
Theo học giả Hoàng Xuân Hăn và một số
nhà nghiên cứu khác, chữ “ gieo ”
trong câu này phải đọc “ treo ”
mới đúng, hoặc chữ “ tỏ ”
trong câu “ Con ong đă tỏ đường
đi lối về ” phải đọc là
“ mở ”. V́ chưa bắt kịp
với những nghiên cứu về Truyện
Kiều hiện nay, trong khuôn khổ bài này
chúng tôi xin tạm thời dựa theo cách đọc
hiện hành.