|
Hành
tŕnh về miền Viễn Tây nước Úc
Trương Văn
Tân

Khi nói đến châu Úc, h́nh ảnh nhà hát Opera House
và gần đó cây cầu Harbour Bridge của thành phố Sydney sẽ là những
biểu trưng của xứ kangaroo "miệt dưới" (down under). Về thiên nhiên,
người ta liên tưởng ngay những băi biển cát trắng dài hàng chục cây
số hay dăy san hô nằm trong ḷng biển dài hàng ngàn cây số của tiểu
bang Queensland. Tất cả những biểu trưng và kỳ quan này đều nằm bên
bờ Đông Úc Đại Lợi. Nh́n vào bản đồ châu Úc, bên bờ Tây có một "tiểu"
bang rất to chiếm hơn 1/3 tổng số diện tích toàn nước Úc. Đó là
Western Australia (WA). Nó tiếp giáp với Ấn Độ Dương, dồi dào tài
nguyên nhưng không thu hút được nhiều chú ư, nằm im ĺm như ch́m
trong quên lăng.
Chúng tôi bay từ Melbourne đến Perth. Perth là thủ
phủ của miền Viễn Tây rộng lớn, được xây dựng hướng về Ấn Độ Dương
lộng gió và dọc theo con sông Swan êm đềm. Tính theo tỷ số đầu người,
có lẽ đây là một thành phố nhiều triệu phú và tỷ phú nhất nước Úc
nhờ vào việc khai thác những tài nguyên thiên nhiên như kim loại và
dầu khí. Nhưng mục đích của chúng tôi không phải để khám phá một
thành phố khác do người Anh thuộc địa xây cất, mà theo đường bộ lái
xe từ Perth đi dọc theo bờ Tây tiến về phía Tây Bắc để t́m hiểu
những kỳ quan và tài nguyên ẩn tàng trong một khu vực rộng lớn, một
nơi thậm chí có rất nhiều người Úc chưa bao giờ đặt chân tới trong
suốt cuộc đời của họ.
Vườn Quốc gia "Đỉnh tháp nhọn"
Quốc lộ số 1 là một con đường ṿng vĩ đại dọc theo
bờ biển toàn châu Úc dài hàng chục ngàn cây số nối kết các thành phố
chính ven bờ. Dù được gọi là Quốc lộ số 1, nhưng con đường thiên lư
dọc theo bờ Tây châu Úc đi ngang nhiều Vườn Quốc gia (National
Parks) và những vùng cực kỳ hoang dă. Có những đoạn đường thẳng tắp
dài hàng trăm cây số tưởng chừng như tiếp giáp với đường chân trời.
Người lái chỉ cần cài bộ phận có chức năng "cruise control", giữ
vững tay lái, cơ hồ có thể nhắm mắt chạy theo một đường thẳng.
Dọc hai bên đường là những bụi lau, các loại cây
thấp mọc lưa thưa, tạo một cảnh quan đơn điệu giống nhau, lập đi lập
lại một cách nhàm chán trên con đường chúng tôi đi qua gần 4000 cây
số. Ở đây, không nhà cửa, không một bóng dáng con người. Thỉnh
thoảng những con kangaroo to cao từ trong lùm bụi phóng chạy qua
đường, đàn ḅ năm ba con đi hoang của một đồn điền chăn nuôi (cattle
station) xa xôi nào đó, ngang nhiên đứng giữa lộ trố mắt nh́n trời,
hay những con emu (đà điểu Úc) kiếm ăn lẩn quất, khi thấy bóng xe
nhanh chân chạy thoắt vào bụi. Lại thêm những đám dê rừng lác đác
hai bên đường. Những con dê này là hậu duệ của những đàn dê nhà đi
lạc vào những thảo nguyên mênh mông dần dần biến thành dê rừng.
Những cú thắng gấp để tránh những con vật đứng giữa xa lộ ngơ ngác
nai vàng hay tùy tiện băng ngang đường, dù ngoài ư muốn nhưng cũng
đủ làm giảm bớt cái đơn điệu của con đường thiên lư. Nh́n những xác
chết của những con kangaroo hay con ḅ xấu số bị xe đụng và vết
thắng của bánh xe in trên mặt đường đủ cho thấy cái nguy hiểm trên
con đường độc đạo (H́nh 1).

H́nh 1: Bảng đường cảnh báo.
Trạm dừng chân đầu tiên cuả chúng tôi là Vườn Quốc
gia "Đỉnh tháp nhọn" (The Pinnacles). Hàng chục ngàn đỉnh nhọn đá
vôi "mọc" lên trong một vùng sa mạc cát vàng được h́nh thành bởi gió
cát tạo ra sự mài ṃn trong vài trăm triệu năm làm nên những cột đá
với đường kính lớn nhỏ đủ kích cỡ, cao thấp khác nhau. Có cột cao
hơn 5 m, có cột thấp hơn 5 tấc (H́nh 2). Người ta có thể lái xe đi
vào để chiêm ngưỡng các tác phẩm điêu khắc của thiên nhiên. Những
cột đá thẳng đứng ngộ nghĩnh này hùng dũng chĩa thẳng lên trời làm
tôi liên tưởng đến "linga", một biểu tượng linh thiêng của đạo Hindu
trong quần thể Angkor tại Campuchia. Người Campuchia thời trung cổ
từng đục đẽo hàng ngàn biểu tượng linga dưới đáy một ḍng suối để tỏ
ḷng sùng bái "nguồn cội" của muôn loài. Dường như tạo hóa đă đặt "Đỉnh
tháp nhọn" nhầm chỗ. Tại sao không phải ở xứ Ấn hay Campuchia mà lại
ở xứ sa mạc cát vàng hoang vu không ai lui tới? Cứ tưởng tượng một
rừng "linga" bằng đá thiên nhiên này nếu xuất hiện ở Ấn Độ chắc có
lẽ sẽ có hội hè linh đ́nh hằng năm như lễ tắm trên sông Hằng với các
guru ngồi thiền huyền bí...

H́nh 2: Cột đá "linga".
Di sản Thế giới "Shark Bay"
Càng đi về phía bắc cái nóng nhiệt đới dần dần
thay thế và đẩy lùi hơi hướm mùa xuân của miền nam ôn đới. Các rặng
núi đá với những phiến đá trầm tích có nhiều h́nh thù lạ mắt nhưng
vô cùng hùng vĩ. Ở một địa điểm được gọi là cánh Cửa sổ của Thiên
nhiên (Nature's Window) (H́nh 3), xuyên qua một cấu trúc đá trầm
tích người ta có thể nh́n thấy một ḍng sông nhỏ ở vực sâu bên dưới,
lững lờ chảy về biển xa xa mang màu xanh ngọc bích với từng đợt từng
đợt những ngọn sóng bạc đầu. Cái hùng vĩ thiên nhiên mang thêm chất
huyền bí khi các nhà địa chất học khẳng định cái lằn ranh đi ngang
bờ vực đá đă từng là mặt nước của ḍng sông nhỏ bé kia vài trăm
triệu năm trước. Quay lại thời thái cổ xa xăm, ḍng sông này quả
thật to lớn, địa cầu của chúng ta đang dần dần mất nước hay là đă có
cuộc Đại Hồng thủy dâng cao nước biển mà Noah đă phải gấp rút đóng
thuyền?

H́nh 3: Cửa sổ của thiên nhiên và ḍng sông.
Cách địa điểm này vài trăm cây số là khu vực Di
sản Thế giới "Shark Bay" (Vịnh cá mập) với băi biển cát trắng dài vô
tận không một bóng người, được tiếp nối với những vách đá thẳng đứng,
sừng sững với thời gian (H́nh 4). Không biết cái tên "Shark Bay" từ
đâu tới, nhưng vùng biển khơi hoang vu này không phải chỉ có loài cá
mập mà c̣n là nơi tập hợp của những động vật biển khác như cá voi,
cá heo, cá nược (dugong) sinh sống t́m mồi. Shark Bay là vịnh đi sâu
vào đất liền tạo thành một cái "đầm" khổng lồ. V́ vậy độ muối của
biển trong vùng vịnh cao hơn nước biển b́nh thường. Những ǵ khác lạ
hơn cái b́nh thường, thường đưa đến những hệ quả nhiều ngạc nhiên.
Các loại vi khuẩn có tên chung là "cyanobacteria" của thuở khai
thiên lập địa vài tỷ năm trước vẫn c̣n sinh sống trong vùng. Loại vi
khuẩn này là sinh vật đầu tiên xuất hiện trên quả đất và những hoạt
động sinh học của chúng đă tạo ra khí oxygen làm nên khí quyển. Đây
là nơi duy nhất trên địa cầu c̣n mang dấu tích của loài vi khuẩn của
một thời mông muội hoang sơ. Sự hiện diện của chúng là lư do chính
mang đến cái vinh dự "Di sản Thế giới" cho vùng Shark Bay. Vi khuẩn
tập hợp trên những tảng đá trên bờ biển làm nên những mảng rong đen
đúa không một chút thẩm mỹ, có lẽ chỉ hấp dẫn các nhà nghiên cứu
sinh vật hay khảo cổ (H́nh 5). H́nh ảnh quả địa cầu của thời thái cổ
vài tỷ năm trước được bao phủ bởi các mảng rong chứa khuẩn "cyanobacteria"
đen xám xấu xí - tổ tiên của muôn loài - đến h́nh ảnh của quả địa
cầu xanh tươi nhiều màu sắc và cực kỳ đa dạng ngày nay, không khỏi
cho ta một cảm khái trước tài năng sáng tạo cuả Mẹ thiên nhiên.

H́nh 4: Một vùng biển ở Shark Bay.

H́nh 5: Mảng rong trên đá chứa vi khuẩn tồn tại từ
thời tiền sử.
Chúng tôi qua đêm trong một Caravan Park ở thị
trấn Carnarvon hiền ḥa nằm bên bờ đại dương lộng gió. Một trăm năm
trước, đây là một cái cảng nhỏ người Anh dùng để di chuyển gia súc
trong nội địa đến thủ phủ Perth cách 1500 km về phía nam bằng tàu
thủy, rồi từ đó chở sang mẫu quốc Ăng-lê. Ngày nay Carnarvon có gia
tăng dân số nhưng vẫn không quá 7000 người. Cái tên Carnarvon không
thấy trên bản đồ thế giới nhưng lại là một viên ngọc ẩn tàng của
vùng Tây Bắc nước Úc. Tôi lơ ngơ, ṭ ṃ hỏi cô quản lư trẻ ở Caravan
Park, "Thị trấn này nhỏ ở cạnh bờ biển thời tiết mát mẻ nhưng sao ít
cư dân vậy, chắc là không có ǵ đặc biệt để hấp dẫn du khách?". Cô
ta trả lời, "Ồ...ông không biết ǵ à! Thị trấn này quanh năm nhiệt
độ khoảng 25 °C, bốn mùa đều là mùa Xuân, ít mưa. Dân ở đây phần lớn
là người cao niên nghĩ hưu ở các nơi tập trung về đây sống an nhàn
đến cuối đời".
"Bốn mùa đều là mùa Xuân", nghe sao quen tai. Thủ
phủ Côn Minh của tỉnh Vân Nam (Trung Quốc) được quảng cáo rầm rộ là
nơi có "bốn mùa Xuân", nhưng Carnarvon khiêm tốn hơn, mai danh ẩn
tích, không muốn người ngoài đến khuấy động cuộc sống êm đềm như
những làn gió nhẹ thổi qua thị trấn mỗi ngày. Cô quản lư cho thêm
thông tin, "Khách du lịch à? Tại ông không thấy thôi, họ là những
người du lịch "ba lô" trong thị trấn này làm việc "part time". Tôi
cũng là một khách du lịch có "working visa"[1] được phép làm việc
kiếm tiền tại Úc". Bây giờ, tôi mới nhận ra chất giọng người Anh của
cô. "Tôi đi nhiều nơi mới t́m ra thị trấn sống lư tưởng như nơi này.
Có lẽ tôi t́m cách ở luôn tại Carnarvon". Tôi hỏi, "Cô muốn về hưu non
à!?", cô nhoẻn miệng cười không trả lời.
Vườn Quốc gia Cape Range
Con đường tiến về phiá bắc vẫn đơn điệu. Khi chúng
tôi vượt qua Đông Chí Tuyến (Tropic of Capricorn) [2], những tia
nắng mặt trời trở nên gay gắt. Chúng tôi đến thị trấn nhỏ tên là
Exmouth vào một buổi trưa nắng gắt nhiệt đới. Nơi đây là cái góc nơi
gặp nhau bờ biển phía Tây và bờ biển phía Bắc của châu Úc. V́ địa
thế chiến lược quân sự, vào thập niên 60 của thế kỷ trước, Mỹ và Úc
thiết lập những đài ăng-ten cao tương đương với tháp Eiffel của Pháp
để liên lạc với tàu ngầm của phe ta và theo dơi tàu ngầm của phe
địch. Thị trấn nhỏ này được thành lập v́ nhu cầu sinh sống của những
người Mỹ làm việc tại đây. Sau khi người Mỹ rút lui, thị trấn trở
nên trung tâm của Vườn Quốc gia Cape Range với băi biển cát trắng
kéo dài lẫn trong màu xanh ngọc bích của biển.
Vùng biển phía Tây và Tây Bắc nước Úc là những
vùng biển tinh khôi, hoang vu ít tàu bè quốc tế qua lại. Đất lành
chim đậu. Những đàn cá voi khổng lồ có tên là "whale shark", loại to
và dài nhất của loài cá, tụ tập về đây t́m mồi sinh sôi nảy nở, đồng
thời tạo công ăn việc làm cho dân địa phương với dịch vụ chở khách
ra ngoài khơi xem đàn cá ph́ phèo phun nước, phóng lượn trên không.
Chúng tôi theo một đoàn du khách lên chiếc du thuyền ra khơi để nh́n
đàn cá. Dịch vụ du thuyền khá phổ biến và tấp nập khách nhàn du. Với
cái giá $65 mỗi người, chủ tàu đảm bảo sẽ nh́n thấy cá, nếu không
thấy cá th́ lần sau trở lại sẽ được đi cho không, miễn phí! Cái kiểu
quảng cáo "trớt quớt", có bao người du khách trở lại lần hai?! Cách
bờ biển vài cây số, mặt biển yên tĩnh như mặt hồ và đàn cá cũng tấp
nập không kém số người xem. Những người Tây phương điệu nghệ, mang
theo vài chai rượu vang nhâm nhi từng ngụm nhỏ với các món nhắm như
phô-mai, trái ô-live, con hào, bánh quy lạt được chủ tàu cung cấp,
vừa nh́n hoàng hôn bừng đỏ cả bầu trời, vừa ngắm nh́n đàn cá phóng
lượn.
Tôi ngồi im lặng nh́n đàn cá vừa đủ chán để lấy "vốn"
lại, rồi tôi quay sang nh́n người. Một cặp trai gái trẻ người Úc
dường như mới quen nhau qua... internet, nên vẫn c̣n e dè "tương
kính như tân". Người bạn trai chỉ trỏ ra vẻ sành đời, giải thích đủ
chuyện trên trời dưới đất cho người bạn gái. Thỉnh thoảng anh ta
quay sang nói chuyện với tôi, rủ rê ngày mai cùng đi snorkelling
[3]. "Vùng biển này có nhiều san hô tuyệt đẹp. Không đi snorkelling
nh́n san hô th́ đến đây chỉ phí tiền ông ạ!", anh ta bảo. "Hai anh
chị đang đi tuần trăng mật à...?", tôi giả vờ ngây thơ hỏi chuyện.
Cô con gái đỏ mặt cười toe, anh con trai phủi tay như phủi ruồi đính
chính, "Không, không... làm ǵ có chuyện đó. Ông nh́n sao mà nghỉ
vậy? Mới biết nhau thôi mà...".
Hai đàn ông người Anh, một già một trẻ, giống nhau
như đúc, có lẽ cha con. Ông con cầm cái máy chụp ảnh to đùng hướng
về đàn cá bấm máy liên tục, người cha ngồi yên nh́n thẳng không màng
đến đàn cá ngoài khơi, cũng chả màng ăn uống, thỉnh thoảng cười bâng
quơ. Hai ba anh tiếp viên chiếc du thuyền mang ra những cái đĩa to
đầy ắp tôm luộc, đặc sản của Exmouth. Đây là phần ẩm thực bao gồm
trong cái giá $65. Đám du khách nhanh chân ngồi quanh những cái đĩa,
miệng nhai tay bóc vỏ. Một bà người Đức ăn không kịp thở, ăn không
ngượng ngùng, ăn như chưa từng bao giờ thấy tôm, "kiên tŕ" trước
cái đĩa tôm từ đầu đến cuối.
Ánh hoàng hôn lặng lẽ buông xuống trên đường chân
trời xa tắp, tiếp giáp với vùng biển xám nhấp nhô những đợt sóng
phản chiếu tia nắng vàng trên bầu trời bảng lăng những vầng mây ửng
đỏ (H́nh 6). Một thiếu phụ trẻ đẹp nước da rám nắng, tay cầm ly rượu,
ngồi xuống bên cạnh chúng tôi, tươi cười bắt chuyện, "Tôi là Janet,
ông bà từ đâu tới? Singapore hay Nhật Bản?". "Không. Chúng tôi đến
từ Melbourne, c̣n cô?", tôi hỏi. "Ồ... tôi là dân địa phương làm ăn
ở đây. Tôi có một cửa hiệu nhỏ bán quần áo và dụng cụ snorkelling ở
trung tâm shopping Exmouth đấy. Hôm nay, đóng cửa sớm dẫn mấy đứa
nhỏ và rủ hai cô bạn cùng đám con ra biển khơi chơi cho thoải mái.
Chúng tôi đều là mẹ độc thân!", cô cười cười nói nói. "Ông bà thấy
đó, ở đây chả có ǵ ngoài biển và bờ biển. Bờ biển đẹp lắm. Ngày mai,
ông bà có thời gian đến Sandy Beach tắm biển th́ tuyệt vời. Những
động vật biển như đàn cá voi kia, xem măi cũng nhàm. Chỉ có cái này
mới vui...". Cô chỉ ly rượu vang, rồi uống nốt ngụm cuối cùng. Tôi
b́nh phẩm ở vùng Tây Bắc này cuộc sống quá chậm, người ta đi đứng
như cuốn phim quay chậm, cung cách phục vụ khách hàng tốn thời gian
dài gấp đôi; có phải v́ thời tiết quá nóng hay con người ở đây bất
cần thời gian? Cô gật gù đồng ư, "Tại ông không biết đấy chứ. Chữ
viết tắt WA của bang Western Australia c̣n có nghĩa là "wait awhile"
(đợi một lát nghen). C̣n chữ Ex của Exmouth có nghĩa là extra. V́
vậy, ở đây phải "extra wait awhile" (đợi thêm một lát nghen)". Nói
xong, cô ta nheo mắt cười x̣a.

H́nh 6: Hoàng hôn trên biển.
Trời sụp tối. Sau gần hai tiếng đồng hồ lênh đênh
trên biển, chiếc tàu nổ máy, tăng tốc quay về bờ. Mọi người trong
đoàn lục tục đi xuống bến, từ giă nhau. Janet nói vói theo, "Nhớ đi
Sandy Beach nhé!". Tôi vẫy tay chào rồi quay sang nói với anh bạn
trẻ có cô bạn gái mới quen, "Rất tiếc là không đi snorkelling với
anh ngày mai được. Chúc hai anh chị đêm nay ngủ ngon và nhiều dzui
dzẻ nhé". Anh ta hiểu ư, đưa một cánh tay lên co lại như màn biểu
diễn cơ bắp của Mr. Universe, khoái chí nhe răng cười...
Sáng hôm sau, chúng tôi lái xe xem mũi đất của cái
góc chiến lược Tây Bắc của đại lục Úc, cũng là điểm khởi đầu của
Vườn Quốc gia Cape Range, được tiếp nối bởi những băi biển kể cả băi
Sandy Beach của người đẹp "mẹ độc thân" Janet. Bờ biển đầy cát trắng,
những băi cát trắng như tuyết kéo dài không dứt, lung linh dưới ánh
sáng mặt trời (H́nh 7). Cát ở đây cơ hồ có thể nấu chảy thành thủy
tinh mà không cần phải qua một quá tŕnh tinh luyện. Cảnh vật như
bất động nếu không có vài người lác đác đang lặn hụp xa xa, hay
những làn gió nhẹ làm xao động những bụi cỏ màu xanh nhạt, thỉnh
thoảng xuất hiện những con cắc kè sa mạc vụt đứng vụt chạy, dáo dác
t́m mồi.

H́nh 7: Sandy Beach.
Pilbara: quặng sắt và thiên nhiên
Quá trưa, chúng tôi từ giă bờ Tây xứ Úc, đổi về
hướng đông đi vào nội địa tiến về vùng Pilbara. Trung tâm của vùng
Pilbara là Vườn Quốc gia Karijini và khu vực khai thác quặng sắt
Hamersley. Càng đi sâu vào nội địa, nắng càng gay gắt, cảnh quan
càng hoang vu. Ở phía nam, bây giờ là tiết Xuân nhiệt độ 20 °C ôn
ḥa. Ở đây, nhiệt độ vượt hơn 40 °C. Máy lạnh của chiếc xe phải hoạt
động tối đa. Các sinh hoạt của "sân sau" outback của nước Úc hiện rơ.
Trên con đường thiên lư không một bóng xe, lâu lắm mới có vài chiếc
"road train" ngược xuôi chở hàng hóa, thực phẩm, nhiên liệu cho các
vùng sâu, hay ḅ cừu đến những bến cảng đi xuất khẩu. "Road train"
là những chiếc xe tải siêu hạng, một phương tiện chuyên chở quan
trọng và hiệu quả của vùng outback, kéo một lúc 3 chiếc rờ-mọt có
chiều dài tổng cộng gần 60 mét. Việc dự trữ xăng cho xe và nước uống
rất quan trọng khi lái xe trên những con đường này. Những trạm xăng
thường cách nhau 150 -250 cây số. Đây không phải là những trạm xăng
thông thường mà là "road house" (nhà bên đường) cung cấp xăng dầu,
thức ăn, chỗ tắm rửa và qua đêm. "Road house" phải tự cung cấp nước
từ những mạch nước ngầm và điện từ các máy phát điện.
Chúng tôi tạm trú tại một "road house" giữa đường
đi đến Karijini. Nhân viên của "road house" ở giữa chốn đồng không
mông quạnh này là hai cậu người Anh thuộc nhóm Tây ba lô với
"working visa" lang bang rày đây mai đó. Vừa mở cửa bước xuống xe,
hơi nóng từ bên ngoài hắt vào như đứng trước một ḷ lửa. Tôi vừa
nhận ch́a khóa pḥng vừa than phiền, "Trời nóng như thế này th́ c̣n
làm ăn nỗi ǵ?". Anh nhân viên vừa cười, vừa "triết lư", "Thời tiết
nóng như thế này th́ đă như vậy từ 20 triệu năm qua rồi ông ạ! Ở
chốn này, từ thời tiền sử đến giờ vẫn y chang, không ǵ thay đổi".
Tôi bật cười trước cái dí dỏm nhưng chính xác của anh chàng Ăng-lê,
"Tại sao anh không chọn chỗ nào thoải mái làm việc như đồng hương
của anh tôi gặp ở thị trấn Carnarvon đấy?". Anh ta phân trần, "Ông
biết không, bên Anh rét mướt, trời u ám luôn. Nên hai đứa tôi ước mơ
chọn một nơi ấm áp làm việc vài tháng kiếm thêm chút tiền, nào ngờ ở
đây trời quá nóng không thích hợp với bọn xứ lạnh chúng tôi. À... mà
nói nhỏ cho ông nghe, tụi tôi phải rời khỏi nơi này trước khi mùa Hè
ập tới, nghe đâu nhiệt độ lên sẽ đến 50 C. Hai tuần nữa tụi tôi sẽ
dzọt đi Singapore trở về với văn minh". Vừa nói anh ta vừa rón rén
ngoái cổ nh́n phía sau nhà bếp nơi bà chủ với cái dáng người phốp
pháp trông khó tính đang làm việc.
Nhận xong ch́a khóa chúng tôi đi về hướng các dăy
"pḥng". Trong cái oi bức của nắng chiều, bụi đất thỉnh thoảng bị
những ngọn gió nóng thổi tung lên mù mịt, chúng tôi nh́n nơi qua đêm,
rồi nh́n nhau mà lắc đầu ngán ngẫm. Căn "pḥng" qua đêm có vẻ như là
một container chứa hàng xuất khẩu được tân trang thành pḥng ngủ. Nó
như một nhà tù 3 x 3 m không cửa sổ, vừa đủ để hai cái giường đơn,
một cái tủ lạnh mini, một cái máy lạnh trên vách. Trong cuộc đời du
lịch bụi, tôi chưa từng gặp một căn pḥng nào thê thảm như thế này
với giá cắt cổ $80/đêm.
Pilbara là một vùng đất có diện tích rộng hơn
400.000 km2, to hơn cả nước Việt Nam. Tài nguyên chính ở đây là
quặng mỏ, nhất là quặng sắt lộ thiên. Phía bắc Pilbara là một vùng
biển rộng lớn chứa các mỏ dầu khí quan trọng. Gần đây, Trung Quốc
vừa kư kết với chính phủ Úc mua khí đốt trong khu vực này trị giá
vài chục tỷ đô la. Pilbara quả là nơi của "rừng vàng biển bạc". Hăy
tưởng tượng một vùng đất tương đương với nước Việt Nam, từ đông sang
tây, từ bắc chí nam chỉ chứa toàn quặng sắt và nhiều quặng kim loại
khác. Có đến nơi này mới nh́n thấy đất nước Úc cực kỳ giàu có. Đất
trong vùng Pilbara có màu đỏ sậm biểu hiện sự tồn tại của sắt, v́
quặng sắt thường ở dạng oxit sắt màu đỏ. Oxít sắt có từ tính th́ ở
dạng màu đen. Nói chính xác hơn, quặng sắt là quặng oxít sắt. Người
ta tinh luyện oxít sắt ở nhiệt độ cao biến oxít thành sắt ṛng. Phần
lớn quặng sắt ở Pilbara là quặng lộ thiên. Nó hiển hiện ngay trước
mắt mọi người. Đó là những cục đá, phiến đá màu đỏ xen lẫn màu đen
lấp lánh nằm lăn lóc dọc theo quốc lộ, trên những con đường ṃn đi
vào các địa điểm tham quan du lịch, hay là những tầng trầm tích trên
vách núi, dưới vực sâu, trong ḍng suối... (H́nh 8 và 9).

H́nh 8: Một quả đồi bị cắt để làm đường, lộ ra các
trầm tích oxít sắt.

H́nh 9: Con đường ṃn màu đỏ chứa oxít sắt .
Khu vực Hamersley là trung tâm khai thác mỏ sắt
chất lượng cao nổi tiếng thế giới, kế cận là Vườn Quốc gia Karijini
cũng lừng danh không kém với các kỳ quan thiên nhiên. Hơn nửa thế kỷ
qua kể từ ngày khai thác quặng mỏ với quy mô lớn trong vùng
Hamersley, sự cân bằng giữa việc khai thác quặng mỏ, nền kinh tế
quốc gia, việc bảo vệ môi sinh, bảo tồn di sản thiên nhiên và văn
hóa người Aborigine [4] không đâu rơ nét hơn qua sự tương quan giữa
Hamersley và Karijini. Chính phủ Úc và chính quyền tiểu bang Western
Australia đă rất thành công trong việc giữ cán cân thăng bằng giữa
lợi ích kinh tế quặng mỏ trước mắt và lợi ích lâu dài trong việc bảo
tồn thiên nhiên và văn hóa. Những kinh tế gia lư thuyết, những lư
luận gia chính trị, những nhà lập pháp, đại biểu quốc hội, thậm chí
các nhà lănh đạo cầm cân nẫy mực "đầy tớ của nhân dân", nên chịu khó
đặt chân đến chốn này để nh́n thấy tận mắt sự hài ḥa giữa việc khai
thác quặng mỏ và việc bảo tồn văn hóa và môi sinh.
Tiền đầu tư của các tập đoàn khổng lồ như BHP
Billiton, Rio Tinto đổ vào cho việc khai thác quặng sắt đă biến vùng
khỉ ho c̣ gáy này, một trong những vùng hoang dă nhất trên quả địa
cầu, thành những ốc đảo vô cùng trù phú. Tập đoàn lớn kéo theo hàng
loạt công ty con làm những công tŕnh ngoại biên như xây dựng,
chuyên chở, thủy lợi, ẩm thực, tạo ra luồng sinh khí thu hút dân tứ
xứ về đây lập nghiệp. Những thị trấn hậu cần như Tom Price hay
Newman với dân số không quá 3.000 mọc lên để đáp ứng nhu cầu ăn ở,
sinh hoạt, giáo dục, văn hóa của gia đ́nh nhân viên và công nhân
quặng mỏ.
Tôi ṭ ṃ t́m hiểu thêm cuộc sống người dân qua
những tờ báo địa phương và không khỏi bị hoa mắt trước trị giá của
các bất động sản. Một căn nhà 3 pḥng ngủ rất b́nh thường có giá bán
$700.000 - 800.000. Đẹp hơn một chút th́ phải hơn một triệu đô. Gấp
đôi những căn nhà có phẩm chất tương đương ở các thành phố lớn như
Sydney và Melbourne. Tiền thuê nhà cao hơn các thành phố gấp 5 lần
với giá trung b́nh $1.500 - 2.000 cho một tuần. Tôi ngỡ nhà báo in
sai, hỏi một người địa phương th́ mới biết đó là giá công ty
(corporate rate) thuê cho nhân viên. Ngoài ra, đồng lương của một
nhân viên lao động với tay nghề b́nh thường là $2.000 - 3.000/ tuần,
cao hơn lương kỹ sư hay chuyên viên tin học cao cấp trong thành phố.
Nhà ở đă có công ty chăm lo, công nhân ôm trọn gói tiền lương trừ đi
khoản chi phí ăn uống, cứ làm việc mỗi 4 tuần th́ sẽ được nghỉ 1
tuần và lại được công ty cho phụ cấp để bay về quê quán. Ô... đây
quả thật là thiên đường của nền kinh tế thị trường có "định hướng xă
hội chủ nghĩa"! Nhưng tiếc thay, đây không phải là thiên đường vui
chơi. Một nhân viên quặng mỏ than thở với tôi, "Ông à! Chốn này chán
lắm. Độc thân như tôi không t́m được bạn gái ở đây. Không có con gái,
bạn ơi, không có gái!" (nguyên văn: no girls here, mate, no girls).
Vườn Quốc gia Karijini
Vườn Quốc gia Karijini nổi tiếng với vực sâu và
hẻm núi (gorge). Những hẻm núi giao nhau tạo ra những vực sâu thăm
thẳm, làm lộ ra vách núi màu đỏ rực trong ánh nắng ban mai (H́nh
10). Dưới đáy vực đen ng̣m là ḍng suối nhỏ lấp lánh như muốn reo
vui chào đón những tia sáng hiếm hoi của mặt trời. Từ trên đỉnh cao
nh́n xuống, dưới chân là những con hạc trắng bay thành đàn trong hẻm
núi tạo cho ta một cảm giác lạ lùng, cơ hồ ta như lơ lửng giữa trời
cùng bay với hạc. Tiếng kêu oang oác của hạc gọi đàn phá tan sự yên
tĩnh gần như tuyệt đối của một chốn thần tiên. Cũng tại nơi này,
khoảng đầu thập niên 50 của thế kỷ trước, v́ phải tránh thời tiết
xấu trong một lần đi công tác, chiếc máy bay của vua quặng mỏ Lang
Hancock phải bay rất thấp qua các hẻm núi, ông t́nh cờ khám phá ra
quặng lộ thiên với những tầng trầm tích màu đỏ đặc thù của oxít sắt
đă trơ gan cùng tuế nguyệt hàng trăm triệu năm qua. Việc khai thác
quặng bùng lên từ đó.

H́nh 10: Hẻm núi.
Những hẻm núi cách nhau vài mươi cây số rải rác
trong Vườn Quốc gia cho những vẻ đẹp hùng vĩ khác nhau. Người ta tạo
vài con đường dọc theo vách đá đi xuống đáy vực sâu 200 - 300 mét. Ở
đây, trong cái tĩnh mịch của thiên nhiên, ta chỉ nghe tiếng nước
chảy róc rách, nhẹ nhàng xuyên qua những bụi cỏ lau c̣n đẫm ướt
sương mai. Những tảng đá ở đáy vực v́ năm tháng bị vỡ dọc theo khe
nứt của các tầng trầm tích tạo thành những mặt phẳng to nhỏ khác
nhau, vừa là các bậc thang thiên nhiên, vừa là đáy của con suối nhỏ,
nương theo đó ḍng nước lặng lẽ trôi. Tạo hóa không những là một nhà
điêu khắc và kiến trúc sư tài ba tạo ra những hẻm núi kỳ vĩ ở cấp "vĩ
mô", mà cũng là một chuyên gia viên nghệ tuyệt vời ở cấp "vi mô".
Cảnh sắc thiên nhiên của một không gian nho nhỏ có con suối chảy,
bóng cây râm mát, đây đó vài bụi cỏ, lau sậy tương phản với vách núi
màu đỏ lởm chởm những lát trầm tích mỏng, vài con chuồn chuồn đủ màu
sắc thoạt bay thoạt dừng, hiện ra như một bức tranh sống động với
những gam màu hài ḥa của một danh họa tài hoa (H́nh 11).

H́nh 11: Một cảnh sắc dưới đáy vực.
Chúng tôi bước theo những bậc đá, đi ngược lên
ḍng suối, cuối cùng đến một cái hồ nhỏ thiên nhiên xung quanh được
bao bọc bởi những vách đá thẳng đứng như một cơi bồng lai cô tịch
hoang liêu có những nàng tiên giáng trần thẹn thùng tắm suối thường
được kể trong chuyện cổ tích của một thời thơ ấu xa xưa. Ngỡ rằng "Sơn
trung bất kiến nhân", nào ngờ, nơi này cũng là một cơi bồng lai hiện
đại với đám Tây ba lô đang thoát xác thành những nàng "tiên nữ" đầy
đặn quyến rũ trong bộ bikini, sấp sấp ngửa ngửa nằm tắm nắng xung
quanh bờ hồ hay đùa giỡn trong làn nước trong xanh (H́nh 12). Cái
thú tắm sông hồ thuở bé của tôi bỗng trỗi dậy, thúc dục tôi cởi
phăng cái áo phông, mặc nguyên cái quần short biến thành "tiên ông"
nhảy vào nhập bọn...

H́nh 12: "Tiên nữ" tắm suối.
Port Hedland
Karijini là điểm cuối cùng của cuộc hành tŕnh về
miền Viễn Tây xứ Úc. Chúng tôi lái xe hướng về thị xă Port Hedland ở
phía bắc Pilbara để đáp phi cơ quay về Perth và sau đó Melbourne.
Sau gần 4000 cây số khởi hành từ Perth và 8 ngày dọc đường gió bụi,
đi qua những miền cực kỳ hoang dă của đại lục Úc, hai chúng tôi
quyết định dừng chân tại một khách sạn 5 sao, cùng thưởng thức đặc
sản địa phương, tôm hùm nướng kem phô-mai, con hào sống, vài chai
bia lạnh để rũ sạch bụi đường. Những làn gió biển về đêm vẫn không
hạ được cái nóng ban chiều c̣n vương vất trong không khí.
Trước kia, tôi chỉ biết Port Hedland qua tivi như
là một nơi giam giữ những thuyền nhân tỵ nạn từ Afghanistan, Sri
Lanka, Iraq, Somalia, và những cuộc tuyệt thực, nổi loạn của họ để
phản đối cách đối xử của chính phủ Úc. Một nơi cô lập như Port
Hedland thật là lư tưởng cho việc nhốt người! Port Hedland liên quan
trực tiếp đến những hoạt động khai thác quặng mỏ và là một cảng quan
trọng xuất khẩu quặng sắt đến châu Á và khắp nơi trên thế giới. Mọi
sinh hoạt ở bến cảng hơn 10.000 cư dân này chỉ dựa vào xuất khẩu
quặng và khai thác dầu khí ngoài khơi. Đây chỉ là một thị trấn nhỏ
nhiều bụi bậm công nghiệp, không ǵ đặc biệt. Trên bờ là những dịch
vụ chuyên chở, tồn trữ quặng sắt. Cách bờ không xa là những đàn cá
mập lởn vởn t́m mồi trong ḷng nước biển đục ngầu.
Hằng ngày, những đoàn xe lửa dài hơn 7 km, được
ghi nhận là đoàn tàu dài nhất trong kỷ lục Guinness, và di động bằng
8 đầu máy để chuyển quặng từ khu vực Hamersley trong nội địa đến bến
cảng. Ngày hôm đó, văn pḥng du lịch địa phương cho biết sẽ có 4 đợt
chuyển quặng cho 3 tàu Trung Quốc và 1 tàu Hàn Quốc. Quả nhiên, khi
chúng tôi đứng ngoài bến cảng th́ một chiếc tàu hàng khổng lồ dài
hàng trăm thước của Trung Quốc vừa hụ c̣i vừa sầm sập lướt sóng chạy
vào.
Chúng tôi đến phi trường sớm hơn thường lệ v́
không có ǵ làm khác hơn ngoài việc tránh cái nóng ban trưa gay gắt.
Cái phi trường "nhà quê" tầng trệt chỉ có 3 cửa ra vào nhưng cũng
được gọi là "sân bay quốc tế". Tại sao "quốc tế"? Không đùa đâu nhé!
Một người địa phương nghiêm nghị bảo tôi, v́ mỗi tuần có hai chuyến
bay đi và đến từ Bali (Indonesia), cho nên "quốc tế"! À... bây giờ
tôi mới nghiệm ra "nỗi buồn" ray
rứt của người công nhân không bạn
gái gặp ở Hamersley. Và ở bên kia bờ đại dương cách Port Hedland 2
tiếng bay là địa đàng Bali đang giang hai cánh tay dịu dàng, nồng
nhiệt chào đón những người thợ mỏ cô đơn nhưng có lắm tiền hào phóng
tiêu pha.
TVT
November 2009
(Đă đăng trên diendan.org)
Phụ chú
1. Working visa: một loại visa du lịch dài hạn của
Úc cho phép làm việc kiếm sống.
2. Đông Chí Tuyến: một đường ṿng quanh Nam bán
cầu, điểm cực nam mà mặt trời c̣n đứng bóng lúc chính ngọ.
3. Snorkelling: vừa bơi và vừa nh́n đáy nước với
kính lặn và ống thông hơi.
4. Aborigine: người bản xứ sống trên đại lục Úc đă
hàng ngàn năm.
(*) Anh Trương Văn Tân sinh quán tại tỉnh Sa Đéc,
cựu học sinh trường trung học Sa Đéc và Tống Phước Hiệp (Vĩnh Long).
Anh Tân đến Nhật cuối năm 1969. Anh tốt nghiệp Bachelor Eng.
(1975), Master Eng. (1977) trường Tokodai (Tokyo Institute of
Technology) và PhD (1980, University of Adelaide, Úc).
Anh Tân hiện làm việc tại Viện Khoa Học và Công Nghệ Quốc Pḥng (Defence
Science and Technology Organisation) trực thuộc Chính Phủ Liên Bang
Úc. Anh chuyên về Vật Liệu Học và hiện nghiên cứu về polymers dẫn
điện và ống nano carbon. Anh đă công bố gần 70 bài báo cáo khoa học
trên các tạp chí khoa học quốc tế.
|
|