|
1. Khi thai nhi biết
mỉm cười
Vài năm trước, nhật báo "The Age" tại thành phố Melbourne (Úc) đăng
một bức ảnh rất to trên trang nhất với cái tít "Thai nhi biết cười
trong bụng mẹ". Không ít người có thành kiến với báo chí nghĩ ngay
đây chỉ là cái tin giựt gân của mấy ông nhà báo "nói láo" ăn tiền!
Nhưng khi nh́n kỹ bức ảnh th́ có oan cho ông nhà báo, v́ quả thật là thai
nhi đang nhoẻn miệng cười trong bụng mẹ giống như nụ cười thiên thần
của các trẻ sơ sinh trong giấc ngủ. Bài báo tường thuật một cách thú
vị về nền tảng khoa học của việc dùng siêu âm (ultrasound) tạo ảnh
những bộ phận trong cơ thể. Đến ngày hôm nay, kỹ thuật tạo ảnh siêu
âm trở thành một thiết bị không thể thiếu để theo dơi sự phát triển,
sức khoẻ và xác định giới tính của thai nhi. Trong
hơn nửa thế kỷ qua từ khi tạo ảnh siêu âm được áp dụng vào y
học, kỹ thuật này không ngừng cải thiện và phát triển. Từ những bức
ảnh lem nhem của hai mươi năm trước cho đến ảnh 3 chiều rơ nét hiện
tại, thiết bị siêu âm c̣n cho thấy thai nhi cử động trên màn h́nh
tivi trước sự ngạc nhiên và vui mừng của những người sắp chuẩn bị
làm cha mẹ lần đầu.
Một phương pháp tạo ảnh thông dụng khác cho cấu trúc và các bộ phận
của cơ thể con người là sử dụng từ trường để tạo ảnh qua hiệu ứng
cộng hưởng từ hạch (magnetic resonance imaging, MRI). Hai thí dụ
trên cho thấy việc tạo ảnh trở nên một thao tác cần thiết cho y học
hiện đại trong việc chẩn bệnh, trị liệu và phẫu thuật. Trong khi hóa
học đóng góp vào y học qua các phương pháp tổng hợp chế tạo các loại
dược liệu từ những viên aspirin khiêm tốn đến thuốc kháng sinh,
kháng ung thư và thậm chí thuốc Viagara "thần kỳ" (người viết chỉ
nghe vậy), th́ những phát triển trong vật lư đă mang đến cho y học
nhiều dụng cụ chẩn bệnh tinh vi, gia tăng sự chính xác trong các
liệu pháp và phẫu thuật.
Việc ra đời những sản phẩm nano hay sản phẩm dựa trên công nghệ nano
không phải là một hiện tượng đột khởi mà là những thành quả nghiên
cứu cơ bản của các nhà khoa học trên thế giới được tích lũy trong
một khoảng thời gian dài. Thuật ngữ "nano" mang ư nghĩa mù mờ trước
kia, giờ đây dần dần trở nên một từ ngữ quen thuộc đời thường. Vài
thập niên trước, quan điểm của công luận chỉ là những hoài nghi về
công nghệ nano, đó
chẳng qua là những nghiên cứu hàn lâm tạo ra những bài báo
cáo khoa học mông lung được đóng khung trong khuôn viên tháp ngà đại
học hay ở các học viện nghiên cứu kính cổng cao tường. Nhưng đến
ngày hôm nay niềm tự tin của doanh nghiệp dành cho sự phát triển của
công nghệ nano đă phản ánh tính sáng tạo thực dụng của các nhà
nghiên cứu và sự trưởng thành của lĩnh vực này.
Vật liệu nano trong 20 năm gần đây tưởng chừng như chỉ quanh quẩn
xung quanh những ứng dụng trong quang học, điện học, quang điện tử,
nhưng sự phát triển của nó đă âm thầm vươn tầm tay đến y sinh học,
mở ra một cơ hội cho những ứng dụng mới hay cải thiện những ứng dụng hiện
có trong việc phụng sự sức khoẻ và hạnh phúc con người. Trong ư
nghĩa này, cũng như hóa học và vật lư, vật liệu học (materials
science) đang có một đóng góp to lớn trong lĩnh vực y sinh học qua
các loại vật liệu nano với khả năng chứa thuốc, tải thuốc trị liệu
và phát quang tạo ảnh trong mô tế bào sinh vật. Việc tải thuốc và
nhả thuốc ở một "địa chỉ" nhất định trong cơ thể để công phá tế bào
bệnh và tránh xa tế bào b́nh thường khoẻ mạnh là một trong những
nghiên cứu hàng đầu của vật liệu y học. Vật liệu tải thuốc nano c̣n
được thiết kế có khả năng phát quang. Khác với việc tạo ảnh một bộ
phận vĩ mô trong cơ thể sử dụng siêu âm hay từ tính, việc tạo ảnh
quan sát ở mức tế bào cần sự phát quang để phân biệt tế bào bệnh và
tế bào b́nh thường cũng là một nghiên cứu quan trọng. Sự kiện trao
giải Nobel Hóa học năm 2008 cho việc khám phá và nghiên cứu của
protein phát quang đă nói lên tầm quan trọng của sự phát quang ở thứ
nguyên vi mô của tế bào và phân tử.
Quả thật, sức mạnh liên ngành của vật lư, hóa học và vật liệu học đă
gia tăng hiệu quả và độ chính xác của các liệu pháp y khoa và sẽ
tiếp tục mang lại những thành quả ngoạn mục cho y học trong việc duy
tŕ sức khoẻ và hạnh phúc của con người. Những thành quả này chắc
chắn không phải là liệu pháp, dược liệu làm cho ta có thể "cải lăo
hoàn đồng" hay tham lam hơn trở nên "trường sinh bất tử", nhưng nó
sẽ giúp con người kéo dài cuộc sống hạnh phúc đến tuổi xế chiều. Rồi
đây, những h́nh ảnh lăng mạn chiều tà "bà già lấy le ông già, chiều
chiều dắt ra bờ sông…" sẽ không c̣n là bài hát nhại lời dí dỏm mà là
những chuyện rất thực, rất t́nh tứ của những cặp bạn đời "thất thập
cổ lai hi"!
Tuy nhiên, ta không nên quá lăng mạn mà quên đi thực tại không chỉ
phũ phàng mà c̣n lắm khi nguy hiểm. Song song với những tiềm năng
ứng dụng đầy tính sáng tạo, ta cần nh́n thực tế một cách lạnh lùng,
đề cao cảnh giác trước các nguy cơ ẩn tàng của vật liệu nano. Việc
ǵ sẽ xảy ra khi những hạt nano cực nhỏ đi vào "ngũ tạng lục phủ"? Chưa
biết. Độc tính của vật liệu nano trong cơ thể sinh vật kể cả con
người chưa hoàn toàn được hiểu rơ, và vẫn c̣n là một vùng mây đen mù
mịt. Dường như, cái ǵ đẹp thường có cái bẫy chết người. Lịch sử đă
ghi lại những bi hùng ca của các bậc anh hùng cái thế uy vũ bao trùm
thiên hạ, cuối cùng phải chết chỉ v́ giai nhân khuynh quốc… Vật liệu
y học nano mang đến hạnh phúc cho nhân loại cũng là một h́nh ảnh đẹp.
Nhưng bề trái của h́nh ảnh đẹp này có thể là khuôn mặt của tử thần.
Như vậy, vật liệu nano trong y học là bàn tay hiền mẫu hay lưỡi hái
tử thần? Để có một cái nh́n công bằng khách quan, chúng ta hăy tiếp
tục đi vào những phần kế tiếp.
2. Hạt tải thuốc nano
Y học nano (nanomedicine) là một áp dụng của công nghệ nano vào y
học cho việc pḥng bệnh, chẩn đoán và trị liệu bằng cách dùng vật
liệu nano để thao tác các hệ thống sinh học ở mức tế bào hay xuống
thấp hơn nữa ở cấp phân tử. Những nghiên cứu trong y học nano phần
lớn liên quan đến việc tải thuốc đến các tế bào bệnh và chẩn bệnh ở
mức phân tử. Việc tận dụng hạt nano làm "vật tải" (carrier) trong
việc tải thuốc và nhả thuốc đúng "địa chỉ" trở nên một đề tài nghiên
cứu nóng v́ nó liên quan đến việc phát triển dược liệu chống ung thư
và khả năng doanh thu lớn cho các công ty y dược. Điều này có thể
nh́n thấy qua số lượng các bài báo cáo liên quan gia tăng 15 lần
trong 8 năm, từ 100 bài (năm 1999) đến 1500 bài (năm 2007).
Hiệu lực của các loại dược liệu thường bị giới hạn bởi tính không
phân biệt giữa tế bào b́nh thường và tế bào bệnh, ít hoà tan, dễ bị
thải ra khỏi cơ thể và gây tác dụng phụ. Tải thuốc đến các tế bào
ung thư trong hóa trị liệu (chemotherapy) là một đề tài được nghiên
cứu nhiều nhất. Thuốc đề kháng ung thư hiện nay không những diệt tế
bào ung thư mà c̣n tiêu hủy cả tế bào tốt. Sự hủy diệt bừa băi theo
cơ chế "bom rải thảm" không những phải trị liệu với liều thuốc rất
cao mà c̣n đem đến những tác dụng phụ rất tai hại đến cơ thể bệnh
nhân. Để khắc phục khuyết điểm này và lợi dụng sự khác biệt về lư
tính, hoá tính giữa tế bào b́nh thường và tế bào ung thư, hạt tải
thuốc nano được thiết kế ở một kích cỡ tối ưu vừa có "bộ cảm ứng"
biết cảm nhận, phân biệt tế bào, vừa có "bộ phận đóng mở" biết giữ
và nhả thuốc khi ở trong môi trường có pH hay nhiệt độ thích hợp.
Hai yếu tố nổi bật của tế bào ung thư là có nhiệt độ cao hơn và pH
biểu thị nhiều tính acid hơn tế bào b́nh thường.
Hạt tải thuốc nano được kết hợp với
phân tử thuốc ở vỏ hoặc được chứa bên trong hạt (H́nh 1). Các vật
tải thuốc nano đă được khảo sát và chế tạo từ nhiều năm nay trong đó
liposome, polymer, hạt nano xốp ceramic, hạt nano kim loại và gần
đây ống than nano.

H́nh 1: Phân tử thuốc (●)
được kết hợp (1) ở vỏ hạt hoặc (2) được chứa bên trong hạt.
Liposome là một loại hạt có vỏ kép được thiết kế có tính thân nước
(hydrophilic) ở bề mặt trong và ngoài để có thể di chuyển trong môi
trường sinh học và chứa phân tử thuốc trong trạng thái dung dịch
nước (H́nh 2). Giữa hai bề mặt này là vùng chứa chất béo như
phospholipid và cholesterol ghét nước (hydrophobic), có khả năng ḥa
tan dược liệu thích béo (lipophilic). Ngoài ra, bề mặt vỏ liposome
được thiết kế với thành phần hóa học thích hợp sao cho hạt biết
tránh các tế bào khoẻ mạnh không phải là mục tiêu tấn công, mà chỉ
có thể tác dụng với tế bào ung thư và nhả thuốc khi gặp một môi
trường có một nhiệt độ hay pH nhất định. Các nhà nghiên cứu sinh hóa
học đă thiết kế lớp phospholipid có độ nhạy cảm với pH của môi
trường. Nhờ vậy, khi liposome đi vào môi trường vi mô mang tính acid
của khối u ung thư vỏ liposome tan vỡ và nhả thuốc vào tế bào bệnh
[1]. Thành quả nghiên cứu trong vài thập niên vừa qua đă tối ưu hóa
cấu trúc liposome, gia tăng hiệu năng cho việc hóa trị liệu ung thư
trong cơ thể con người.

H́nh 2: Cấu trúc liposome và phân tử thuốc
(●)
.
Polymer cũng là vật tải thuốc có chức năng tương tự nhưng với một
cấu trúc đơn giản hơn (H́nh 3). Vật liệu polymer thường được dùng là polymer
sinh học chitosan (chế biến từ vỏ tôm) hay polymer tổng hợp,
poly(butylcyano acrylate). Các polymer kết tập thành các mixen
(micelle) có tính tương thích sinh học (bio-compatible) và phân hủy
sinh học (bio-degradable). Gần đây, tương tự như hạt liposome, mixen
polymer được thiết kế có độ nhạy đối với pH của môi trường xung
quanh [2]. Độ nhạy pH của polymer được thiết kế để khi gặp môi trường của khối u
ung thư polymer bị phân giải và nhả thuốc chống ung thư ở một tốc độ
tối ưu định sẵn.

H́nh 3: Vật tải polymer và phân tử thuốc(●)
.
Khi được đưa vào cơ thể, hạt nano tải thuốc sẽ theo hệ thống tuần
hoàn qua mạch máu để đi đến mục tiêu. Kích cỡ của hạt nano hay mixen
polymer là một yếu tố quan trọng cho việc tải thuốc. Kích cỡ này
phải trong phạm vi từ 4 đến 400 nm [3]. Nếu nhỏ hơn 4 nm, hạt sẽ
nhanh chóng bị thải ra theo đường bài tiết. Nếu lớn hơn 400 nm, hạt
sẽ bị hệ thống miễn nhiễm phát hiện và loại trừ ra khỏi cơ thể. Như
thế, dược liệu được bao lại trong từng "gói" nhỏ và di chuyển đến
mục tiêu để "bắn phá" các tế bào ung thư. Nhưng làm thế nào những "gói"
này có thể di chuyển đến đúng địa chỉ? Ở đây, người ta cũng lợi dụng
sự khác biệt giữa vùng mô b́nh thường khoẻ mạnh và khối u ung thư.
Tế bào của vách huyết quản trong vùng mô khoẻ mạnh có sự liên kết
rất khít khao, trong khi đó những khoảng hở nanomét xuất hiện ở vách
huyết quản của khối u ung thư (H́nh 4). Phân tử thuốc tự do có thể
đi xuyên vách qua sự thẩm thấu và khuếch tán tự nhiên, tác dụng và
hủy diệt các tế bào tốt lẫn tế bào ung thư không phân biệt (H́nh 4).
Ngược lại, khi thuốc bị gói trong hạt tải nano, độ lớn của hạt không
cho nó đi qua vách huyết quản nhưng có thể chui lọt qua những khoảng
hở đi vào khối u ung thư. Các nhà toán học c̣n có thể tính toán h́nh
dạng tối ưu làm sao để hạt tải có thể chui qua kẽ hở huyết quản với
số lượng tối đa.

H́nh 4: Sự di động của phân tử thuốc và hạt tải thuốc trong huyết
quản.
(1) Huyết quản mô tế bào b́nh thường và (2) huyết quản mô tế
bào ung thư [3].
3. Tạo ảnh sinh học
Hạt nano (c̣n gọi là chấm lượng tử) của hợp chất bán dẫn hay kim
loại chứa vài nguyên tử đến vài trăm nguyên tử, có đường kính vài
nanomét đến vài trăm nanomét. Như đă đề cập trong một bài viết trước
[4], khi được kích hoạt bằng sóng có năng lượng cao như tia tử ngoại
hay ánh sáng xanh (Bảng 1), hạt nano phát huỳnh quang cho nhiều màu
sắc khác nhau tùy vào kích cỡ của hạt theo qui luật lượng tử. Đặc
tính phát quang của hạt nano đă được tận dụng một cách linh hoạt
trong việc tạo ảnh, thắp sáng các tế bào trong nhiều ứng dụng y sinh
học.
Bảng 1
: Bước sóng và năng lượng sóng.
|
Ánh sáng |
Bước
sóng (nm) |
Năng lượng sóng
(eV) |
|
Tia tử ngoại |
ngắn hơn 380 |
lớn hơn 3,3 |
|
Tím |
380 |
3,3 |
|
Xanh |
450 |
2,8 |
|
Xanh lục |
530 |
2,3 |
|
Vàng |
580 |
2,1 |
|
Đỏ |
720 |
1,7 |
|
Tia hồng ngoại |
dài hơn 720 |
nhỏ hơn 1,7 |
Việc nối kết các phân tử có khả năng phát huỳnh quang (fluorophore) như
fluorescein (phát màu xanh lục) hay rhodamine (phát màu đỏ) vào các
tế bào để định vị và quan sát sự phân bố trong những thí nghiệm sinh
học đă được thực hiện từ nhiều năm nay. Tuy nhiên, các phân tử huỳnh
quang này có cường độ phát quang yếu và bị lu mờ sau vài phút hoạt
động. Hạt nano giải quyết được những vướng mắc này. Trong cùng một
điều kiện kích hoạt, hạt nano tỏa sáng gấp 20 lần phân tử huỳnh
quang và giữ độ sáng liên tục không bị lu mờ theo thời gian.
Hạt nano của của một số hợp chất bán dẫn chẳng hạn như CdS (cadmium
sulfide), CdSe (cadmium selenide) có đặc tính phát huỳnh quang. Hạt
nano CdSe đă được công ty Invitrogen [5] tung ra thị trường dưới
thương hiệu Qdot (H́nh 5). Tuy nhiên, cadmium mang độc tính không
thích hợp cho việc ứng dụng trong cơ thể. Để khắc phục khuyết điểm
này, một lớp ZnS (sulfide kẽm) được phủ lên bề mặt CdSe ngăn chận sự
ṛ rỉ của cadmium. Sau đó, các loại nhóm biên hóa học (functional
group), phân tử sinh học, kháng thể, protein, được kết hợp trên bề
mặt hạt cho từng ứng dụng khác nhau. Dựa trên nguyên tắc phát quang
theo qui luật lượng tử, hạt nano được chế tạo với nhiều kích cỡ và
bề mặt được cải biến với kháng thể hay phân tử sinh học. Hạt sẽ kết
hợp với các loại tế bào khác nhau và dưới kính hiển vi các tế bào sẽ
rực sáng như bầu trời đầy sao hay như cây thông Christmas với muôn
màu sắc.

H́nh 5: Hạt nano Qdot bám vào tế bào và phát quang
khi được kích
hoạt bởi ánh sáng xanh cho thấy sự phân bố của tế bào [5].
Mặc dù liposome là vật tải nano phổ cập cho việc trị liệu ung thư,
các nhà khoa học vẫn không ngừng hoàn thiện cấu trúc liposome. Một
trong những cải biến gần đây mang tính đột phá là việc kết hợp phân
tử sinh học và hạt nano phát quang vào bề mặt liposome, cho ra một
loại vật liệu phức hợp nano đa năng (H́nh 6) [6]. Phân tử sinh học có
chức năng bám vào tế bào ung thư nhưng không
tác dụng với tế bào khoẻ mạnh b́nh thường. Vật liệu phức hợp nano
này vừa có thể phát quang tạo ảnh, vừa t́m và kết nối với tế bào ung
thư và nhả thuốc tấn công mục tiêu. Việc phát quang tạo ảnh giúp
người quan sát nh́n thấy tế bào ở vùng sâu trong cơ thể và ước lượng
được mật độ kết tập và phân bố của liposome tại một "địa chỉ" nào đó.

H́nh 6: Phân tử sinh học (□)
và hạt nano phát quang (O)
được kết hợp trên bề mặt liposome [6].
Thật là thú vị khi trong một không gian cực nhỏ của hạt tải thuốc
liposome, với những phương pháp tổng hợp hóa học các nhà khoa học đă
cải biến bề mặt hạt liposome để tạo nên hệ thống hoàn chỉnh giống
như một chiếc tàu chiến tí hon đi theo ḍng chảy của hệ thống tuần
hoàn vừa có đèn pha định vị, vừa có "radar" t́m mục tiêu và pháo để
tiêu diệt đối phương! Và tất cả đă được thực hiện trong một không
gian có đường kính chỉ trên dưới 100 nm
(tương đương với 1/1000 sợi tóc).
Cùng một phương pháp cải biến bề mặt tương tự, ống than nano đă được
sử dụng thay cho liposome. Ống than nano có đường kính từ vài
nanomét đến vài chục nanomét. Một bài báo cáo gần đây mô tả cách chế
tạo và chức năng của ống than nano/hạt nano phát quang CdSe trong đó bề
mặt ống được xử lư với polymer để hạt nano CdSe được nối kết dễ dàng
(H́nh 7) [7]. Thuốc chống ung thư được chứa bên trong ống nano. Vật
liệu phức hợp nano này được tiêm vào chuột và khi kích hoạt bằng ánh
sáng xanh, hạt nano trên bề mặt ống than lập loè ánh sáng đỏ. Nhờ sự
phát quang người ta quan sát được sự kết tập của vật liệu phức tạp
nano này nhiều nhất ở tế bào gan, thận, ruột, dạ dày của chuột thí
nghiệm. So với liposome là hạt tải thuốc thông dụng hiện nay, ống
than nanao có tiềm năng tải thuốc và nhả thuốc khá hiệu quả nhờ hiệu
ứng xuyên thủng màng tế bào như cây kim [8]. Như đề cập ở phần kế
tiếp, việc xuyên thủng có thể đưa đến hệ quả phát viêm tế bào và là
một đề tài cần nghiên cứu triệt để trước khi đưa vào ứng dụng.

H́nh 7: Ống than nano kết hợp với hạt nano phát quang trên phần
vỏ và chứa thuốc chống ung thư trong phần ruột [7].
Hiện nay, thương phẩm Qdot và các hạt nano bán dẫn hợp chất cadmium
chỉ dừng lại ở các thí nghiệm sinh học để t́m hiểu sự phân bố, các
đặc tính của tế bào cũng như sự tương tác giữa tế bào mạnh khoẻ và
ung thư. Độc tính và độ an toàn của Qdot vẫn chưa được kiểm nghiệm
đầy đủ cho các ứng dụng y học trong cơ thể con người. Dù đă có màng
ZnS bao bọc để tránh sự ṛ rỉ của cadmium, ZnS có thể bị tấn công
bởi các hóa chất tiết ra từ tế bào trong môi trường có pH khác nhau. V́
sự an toàn là điều kiện tiên quyết trong việc trị liệu, các nhà khoa
học quay lại với quá khứ t́m hiểu một kim loại đă dùng như dược liệu
gần hai ngàn năm trước. Đó là kim loại vàng.
4. Hạt nano kim loai
vàng
Vàng là một vật liệu cho nhiều ứng dụng quan trọng trong y học có
lich sử đă hàng ngàn năm. Huyền phù (colloid) vàng đă được xử dụng
như dược liệu từ thời Trung cổ cho các bệnh liên hệ đến tim, hoa
liễu, kiết lỵ, động kinh. Ngày nay, người ta ít nói đến vàng như một
dược liệu v́ sự tiến bộ của dược hóa học hiện đại đă tổng hợp được
nhiều phân tử thuốc thay thế vai tṛ của vàng. Đóng góp quan trọng
của vàng vào y học và sinh học hiện nay vẫn tập trung ở dạng huyền
phù nano nhưng thuộc về lĩnh vực phát quang và hấp thụ sóng điện từ.
Hạt nano vàng là một thay thế tuyệt vời cho hạt nano phát quang của
hợp chất cadmium v́ vàng không có độc tính. Ngoài ra, cũng như hạt
nano bán dẫn, bề mặt hạt nano vàng có thể kết hợp với phân tử thuốc,
phân tử sinh học như DNA, các loại protein như enzyme, kháng thể cho
nhiều ứng dụng y học khác nhau [9].
Hạt nano vàng phát huỳnh quang chứa 5, 8, 13, 23 và 31 nguyên tử
được chế tạo với một đường kính chính xác ở cấp nanomét trong đó
chùm 31 nguyên tử có đường kính lớn nhất khoảng 1 nm [10]. Tuy
nhiên, khi hạt nano vàng có kích thước từ 10 đến vài trăm nanomét,
sự phát huỳnh quang nhường chỗ cho sự hấp thụ và tán xạ ánh sáng.
Hiện tượng đặc biệt này là do hiện tượng cộng hưởng plasmon bề mặt
(surface plasmon resonance, SPR), chỉ xảy ra trong kim loại quí như
vàng, bạc nhưng không thấy ở các kim loại thường như sắt, nhôm. Nó
cũng tương tự như khi ánh sáng mặt trời xuyên qua bầu khí quyển quả
đất, ánh sáng xanh bị tán xạ bởi các phân tử nitrogen, oxygen trong
không khí cho ta bầu trời xanh lơ. Vàng có màu vàng quen thuộc khi
ở thể khối, nhưng khi ở cấp nanomét SPR gây ra sự hấp thụ sóng ở một
bước sóng nhất định nào đó, tán xạ và hiển thị sóng ở các bước sóng
c̣n lại (thí dụ, khi ánh sáng màu xanh bị hấp thụ th́ ánh sáng đỏ sẽ
hiển thị và ngược lại). V́ vậy, hạt nano vàng không là màu vàng nữa
mà hiển thị màu xanh, xanh lục, đỏ, tím, tuỳ vào kích cỡ của hạt.
Chi tiết này được tŕnh bày ở một bài viết trước [4].
Đặc tính SPR đă gây ra sự chú ư đặc biệt đến các nhà vật liệu học và
họ đă nhanh chóng thiết kế hạt nano vàng với nhiều độ lớn khác nhau
để sự hấp thụ sóng có thể xảy ra trong một vùng rộng lớn dải rộng từ
tia tử ngoại đến tia hồng ngoại. Trong các ứng dụng y học của hạt
nano vàng, sự phát huỳnh quang gần như bị bỏ quên nhưng SPR được áp
dụng rộng rải và cho nhiều kết quả bất ngờ. Giáo sư El-Sayed và cộng
sự đă tận dụng sự hấp thụ và tán xạ ánh sáng qua SPR của hạt nano
vàng để quan sát và chẩn đoán các tế bào ung thư miệng [11]. Bề mặt
hạt nano vàng (đường kính 35 nm) được kết hợp kháng thể có chức năng
bám vào tế bào ung thư. Nhờ vậy, hạt nano có "ái lực" với tế bào ung
thư 6 lần nhiều hơn với tế bào mạnh khoẻ b́nh thường. Dưới ánh sáng
trắng, các tế bào ung thư được thắp sáng và quan sát bằng kính hiển
vi quang học thông thường. Phải nói là sự tiện lợi và sử dụng các
dụng cụ thí nghiệm ít tốn kém là một ưu điểm của phương pháp này.
Một ưu điểm nổi bật khác là dung dịch hạt nano có thể phun lên các
mô tế bào và kết quả có thể nh́n thấy tức khắc. Hơn nữa, hạt nano
vàng c̣n cho thấy sự khác biệt của bước sóng hấp thụ giữa tế bào ung
thư và tế bào khoẻ mạnh. Kết quả quan trọng này giúp y sĩ phân biệt
"đá vàng", tế bào tốt xấu trong việc trị liệu và phẫu thuật.
Trong SPR, sự hấp thụ ánh sáng của hạt nano càng tiến về hướng ánh
sáng đỏ (bước sóng dài) khi hạt càng to (Bảng 1). Tận dụng sự liên
hệ này, nhóm nghiên cứu tại Rice University (Mỹ) đă phủ vàng lên hạt
nano silica (SiO2) tạo ra một loại hạt lai nano có
thể hấp thụ tia hồng ngoại [12]. Bước sóng hấp thụ được điều chỉnh
với độ chính xác rất cao qua sự tương quan giữa độ lớn của hạt nano
silica và độ dày của lớp phủ vàng để cho vật liệu lai này có thể hấp
thụ một vùng rộng lớn của tia hồng ngoại có bước sóng từ 800 đến
2.200 nm.
Đây là môt phương pháp chế tạo vật liệu lai nano đơn giản nhưng đầy
tính sáng tạo. Ta không cần phải dùng 100 % vàng tốn kém mà sử dụng
silica không mang độc tính làm chất độn, vừa có thể uyển chuyển điều
chỉnh bước sóng hấp thụ qua hai biến số là đường kính silica và độ
dày của vàng. Silica là một vật liệu vô cơ vô cùng phong phú, giá rẻ
và là thành phần chính của cát và thủy tinh. Từ thập niên 60 của thế
kỷ trước, hạt silica đă được chế tạo dễ dàng với kích thước từ 50 nm
đến 2 μm (2.000 nm). Silica cũng được cơ quan "Food and Drug
Administration" (FDA, Mỹ) đánh giá là vật liệu an toàn cho cơ thể.
Phủ vàng lên hạt nano silica là một thí dụ trong nhiều phương pháp
cải biến bề mặt hạt silica cho các áp dụng y học nano.
Trên phương diện y học, hạt lai nano vàng/silica giải quyết được
những khó khăn của các vật liệu cổ điển trong việc tạo ảnh hồng
ngoại và trị liệu nhiệt. Trong các liệu pháp y khoa những vật liệu
cảm ứng với tia hồng ngoại (tức là nhiệt) mang đến nhiều ưu điểm hơn
tia tử ngoại hay laser mang năng lượng cao (Bảng 1). Đặc biệt, vùng
cận hồng ngoại (bước sóng 800 - 1.100 nm) có khả năng xuyên qua mô
nhưng ít gây tổn hại hơn tia tử ngoại hay ánh sáng thấy được. Chẳng
hạn, phương pháp trị liệu ung thư bằng quang nhiệt (photothermal
therapy) đ̣i hỏi sự tập trung nhiệt nhắm vào mô tế bào bệnh là một
khái niệm phổ quát đă được nghiên cứu và áp dụng rộng rải.
Tuy nhiên, khi khối u ung thư nằm trong vùng sâu trong cơ thể, việc
áp đặt nguồn nhiệt gần mục tiêu là việc bất khả thi [13]. Người ta
đă đưa vào cơ thể các phân tử hấp thụ nguồn hồng ngoại để phát nhiệt
"tại chỗ" ở tế bào, nhưng chúng không có hiệu năng hấp thụ cao và sự
phát nhiệt tan biến nhanh chóng. Sự xuất hiện của hạt lai nano
vàng/silica làm cục diện thay đổi. Kết quả nghiên cứu của nhóm
nghiên cứu tại Rice University (Mỹ) đă đưa đến sự h́nh thành hạt
nano lai vàng/silica với đường kính lơi silica là 119 nm và độ dày
lớp phủ vàng 12 nm [14]. Ở kích thước này, hạt hấp thụ rất mạnh tia
cận hồng ngoại ở bước sóng 800 nm. Hạt lai nano này và được tiêm vào
chuột vừa phát quang cho việc tạo ảnh mô tế bào, vừa phát nhiệt cho
việc trị liệu ung thư.
Tiến xa hơn nữa, nhóm nghiên cứu của giáo sư Hyeon tại đại học Seoul
(Seoul National University, Hàn Quốc) cải biến thêm bề mặt silica
trong đó hạt nano siêu từ tính oxít sắt được kết hợp, sau đó phủ
vàng tạo ra một bề mặt phức hợp, đa năng (H́nh 8) [15]. Hạt nano
silica có đường kính 100 nm, hạt oxít sắt 7 nm và bề dày lớp phủ
vàng 15 nm. Bề mặt phức hợp này có hai tác dụng trên tế bào ung thư:
lớp phủ vàng hấp thụ tia hồng ngoại cho việc trị liệu nhiệt và hạt
nano oxít sắt có công dụng gia tăng độ tương phản cho phương pháp
tạo ảnh cộng hưởng từ hạch MRI.
H́nh 8: Bề mặt phức hợp của hạt nano silica,
(1) hạt nano silica
trần; (2) được kết hợp với hạt oxít sắt và
(3) được phủ bởi lớp nano
vàng.
Câu chuyện về nano vàng sẽ thiếu sót nếu không nói đến que nano
(nanorod). SPR rất hiệu quả trên bề mặt của que nano vàng c̣n hơn cả
hạt nano. Bước sóng hấp thụ rất nhạy cảm với đường kính và chiều dài
que khiến cho que nano vàng trở nên một vật liệu nano quan trọng
trong nhiều ứng dụng [16]. Đặc điểm quan trọng của vật liệu nano kim
loại là có độ nóng chảy tùy thuộc vào kích thước.
Độ nóng chảy của kim loại không
phải là một hằng số mà là một lượng khả biến,
càng thấp khi kích thước càng nhỏ [4]. Vàng khối có độ nóng chảy ở
khoảng 1.064 °C, nhưng sẽ giảm nhanh đến 200 °C hoặc thấp hơn khi là
hạt nano chỉ chứa vài nguyên tử vàng. V́ vậy, khi hấp thụ tia laser
que nano nóng chảy co lại thành dạng cầu [17]. Một nhóm nghiên cứu
tại Đài Loan lần đầu tiên đă áp dụng sự biến h́nh này để tải phân tử
DNA vào các tế bào [18]. DNA được kết hợp với que nano vàng và dưới
sự kích hoạt của tia hồng ngoại, que biến h́nh thành hạt và trong
quá tŕnh này DNA được phóng thích vào tế bào chất (H́nh 9).

H́nh 9: Phân tử DNA được kết hợp với que nano vàng và cho vào tế
bào.
Khi được kích hoạt bởi tia hồng ngoại, que biến h́nh thành hạt
và đồng thời phóng thích DNA [18].
Khám phá này cho một tiềm năng ứng dụng cực kỳ thú vị; ta chỉ cần
dùng tia hồng ngoại để phóng thích nhân tố di truyền vào trong các
tế bào bằng một vật tải không mang độc tính. Tuy nhiên, theo sự suy
luận của người viết để có một áp dụng thực tiễn que nano cần phải
được thiết kế với đường kính cực nhỏ, nhỏ hơn 1 nm để giảm độ nóng
chảy của que và gia tăng hiệu suất phóng thích. Khi độ nóng chảy quá
cao (> 200 °C), khả năng phá hủy do sự phát nhiệt từ que sẽ làm biến
chất tế bào; que nano trở thành một vật tác hại đối với tế bào khoẻ
mạnh hơn là một vật tải hữu dụng trong trường hợp này.
5. Độc tính nano
Trong cao trào nghiên cứu nano và những cái hấp dẫn kinh tế của các
sản phẩm nano, người ta thường mang khuynh hướng chủ quan đưa đến sự
lạc quan tếu mà quên đi bóng dáng "tử thần" nano lẩn quất đâu đó
trong màn đêm dày đặc vẫn chưa được ánh sáng khoa học vén mở. Bản
chất của các sản phẩm nano có thể gọi là bản chất của con dao hai
lưỡi. Một mặt, ứng dụng của chúng bao trùm tất cả mọi ngành trong
khoa học tự nhiên và lan rộng sang y sinh học; những ứng dụng của y
học nano cho thấy những thành quả vượt bực bất ngờ. Mặt khác, những
nguy hiểm ẩn tàng của sản phẩm nano vẫn c̣n mù mờ và chưa được
hiểu cặn kẽ. Mặc dù sự quan tâm về độc tính của các vật liệu nano
được biểu hiện qua sự gia tăng số lượng các bài báo cáo nghiên cứu
từ 50 bài năm 1999 đến 500 bài năm 2007, nhưng các vấn đề liên quan
đến độc tính, sự di chuyển, sự phân hủy hay bất phân hủy của vật
liệu nano trong cơ thể con người vẫn c̣n là một đề tài nghiên cứu ở
giai đoạn phôi thai.
Ống than nano là một thí dụ điển h́nh. Ống than nano vỏ đơn
(single-wall carbon nanotube, SWNT) đă được khảo sát cho thấy vật
liệu này mang tác dụng như cây kim nano có thể xuyên thủng màng tế
bào để tải thuốc và vaccin [8]. Tiềm năng này mở ra một cơ hội trong
việc phát triển phương pháp trị liệu mới kể cả việc trị liệu ung
thư. Tuy nhiên, một bài báo gần đây công bố một kết quả quan trọng
gây sốc trong cộng đồng nghiên cứu nano [19]. Tác giả bài báo tiến
hành một thí nghiệm bằng cách cấy các loại ống than nano vào mô phổi
của chuột. Kết quả cho thấy phân tử ống than nano vỏ đơn có tác dụng
phát viêm (inflammation) giống như sợi asbestos (atbet, amian, thạch
miên) [20]. Phát viêm biểu hiện triệu chứng đầu tiên đưa đến ung
thư. May thay, các phân tử ống than nano thường kết tập trong dạng
cụm như cụm tóc rối và khi ở dạng này ống than nano không có dấu
hiệu tạo ra sự phát viêm.
Kim loại bạc là một thí dụ khác. Bạc đă dùng trong y dược từ 2.000
năm trước. Đă từ lâu người ta biết bạc ở dạng ion (Ag+)
mang độc tính, nhưng bạc vẫn được dùng trong các sản phẩm đại trà
như thuốc sát khuẩn và rất hiệu nghiệm trong việc diệt nhiều loại
khuẩn ngay cả khuẩn có khả năng đề kháng thuốc trụ sinh. Từ năm
1977, các cơ quan bảo vệ môi trường (Environmental Protection
Agency, EPA) tại các nước tiên tiến trên thế giới đă liệt kê bạc vào
danh sách kim loại gây ô nhiễm môi trường [21]. Sự đa dạng của các
phương pháp tổng hợp hạt nano gần đây đă sản xuất rất nhiều sản phẩm
chứa hạt nano bạc tiếp xúc trực tiếp với cơ thể con người khi sử
dụng, từ chiếc vớ khử mùi chân hôi (!), màng lọc nước đến dược phẩm.
Thậm chí có công ty quảng cáo theo kiểu "lang băm" đề nghị mỗi ngày
uống một muỗng dung dịch huyền phù bạc để "ǵn giữ sức khoẻ", và
uống bốn muỗng mỗi ngày để "tăng cường hệ thống miễn dịch" [21].
Hiện nay, chưa có một qui chế nào kiểm soát các sản phẩm này.
Hai thí dụ trên cho thấy hai mặt đối nghịch của vật liệu nano. Chúng
có thể là một lương y với bàn tay hiền mẫu hay là tử thần đang lăm
le lưỡi hái. Thật ra, không phải con người và môi trường mới gần đây
phải trực diện với những rủi ro gây ra bởi những vật liệu cực nhỏ.
Các loại hạt, bột với kích cỡ micromét đến nanomét là thành phần
chính trong nhiều sản phẩm và gia dụng truyền thống như mỹ phẩm, kem
chống nắng, mực viết, sơn, vỏ xe, vật liệu nha khoa v.v... Độc tính
của hạt titannium dioxide (TiO2) dùng làm phẩm màu trắng
trong sơn hay hạt carbon được trộn với cao su làm vỏ xe đă được khảo
sát từ nhiều thập niên trước và được kết luận là an toàn khi tiếp
xúc ở một lượng nhất định nào đó. Sự phát triển của các phương pháp
tổng hợp trong mười năm qua đă kích thích việc chế tạo các loại vật
liệu nano từ hạt nano, que nano, sợi nano đơn giản đến những dạng
phức tạp hơn như hạt, que, sợi nano có cấu trúc thứ cấp trên bề mặt
như gai, hạt phát quang, hạt siêu từ tính hoặc các nhóm biên hóa
học, phân tử sinh học, như đă tŕnh bày bên trên. Trước vô số vật
liệu đa dạng này, các cơ sở kiến thức và dữ liệu về độc tính và
những rủi ro nguy hiểm khi có sự tiếp xúc với cơ thể con người và
môi sinh c̣n rất nhiều lỗ hổng để kiểm soát các sản phẩm nano xuất
hiện quá nhanh và quá nhiều trên thương trường [22].
Trong lĩnh vực y học nano, vật liệu nano được tiếp xúc với các tế
bào một cách có chủ ư để tận dụng đặc tính của nó cho việc trị liệu.
Sự di động của hạt và tương tác với tế bào được theo dơi dưới cơ chế
kiểm soát gắt gao. Ngược lại, trong quá tŕnh chế tạo, sản xuất và
sử dụng các sản phẩm nano, sự tiếp xúc có thể xảy ra một cách không
chủ ư và không có sự kiểm soát thích nghi. Sự di động tràn lan trong
môi trường, cơ thể con người, động vật, thực vật,
đưa đến kết quả không lường trước được. Người ta vẫn chưa hiểu rơ lư
hóa tính của hạt nano như kích thước, bề mặt, hoạt tính bề mặt, độ
hoà tan có ảnh hưởng ǵ đến độc tính nano.
Một vật liệu y học nano lư tưởng phải mang đặc tính tương thích sinh
học, nghĩa là khả năng thích ứng và không gây tác hại trong môi
trường sinh học, và sự phân huỷ sinh học, nghĩa là khả năng tự phân
huỷ sau khi hoàn thành nhiệm vụ. Nếu sự phân huỷ sinh học xảy ra
trong cơ thể th́ sẽ theo cơ chế và với tốc độ như thế nào, và sản
phẩm phân hủy có mang độc tính hay không? Nếu có sự tương thích sinh
học nhưng không phân huỷ th́ vật liệu nano cuối cùng sẽ kết tập ở
đâu trong cơ thể con người? Đây là những câu hỏi hóc búa cơ bản,
nhưng hiện nay chưa có lời giải đáp.
6. Ninja vượt "tường
lửa"!
Hàng năm, cứ vào những ngày Đông tàn Xuân đến, cảnh vật xung quanh
được tô điểm bởi hoa lá đủ mọi sắc màu. "Mùa Xuân hoa lá vương
đầy ngơ". Nhưng đây cũng là thời điểm phấn hoa bay lảng bảng
tràn ngập bầu trời. Mùa Xuân là mùa phục sinh của vạn vật sau những
ngày Đông u ám. Con người đáng lư ra có thể hoà ḿnh chung vui với
đất trời, nhưng dị ứng với phấn hoa gây không ít khổ sở cho hơn 20 %
người Úc trong đó có cả người viết. Triệu chứng là
ách x́, chảy mũi, nghẹt mũi, ngứa mắt, ngứa
mũi và đường hô hấp. Khi hạt phấn với kích thước micromét đi vào
đường hô hấp, hệ thống miễn nhiễm sẽ phát hiện sự xâm nhập của hạt
phấn làm tế bào tiết ra hoá chất gọi là histamine. Hoá chất này
chính là thủ phạm của mọi thứ khổ sở của cái bệnh "thiên thời" dị
ứng phấn hoa.
Hệ thống miễn nhiễm là một chức năng nhanh chóng phản ứng lại để
loại trừ vật lạ, vi khuẩn, vi-rút xâm nhập vào cơ thể con người. Khi
sinh vật chết, hệ thống miễn nhiễm ngừng hoạt động và chỉ trong vài
giờ thân xác sẽ bị thối rữa v́ bị vi khuẩn, vi-rút, kư sinh trùng
tấn công. Đối với hạt nano, hệ thống miễn nhiễm trở nên vô hiệu. V́
kích thước quá nhỏ hạt nano như một "ninja" có thể vượt qua bức
tường pḥng thủ của hệ thống tiến sâu vào nội tạng. Trên mặt tích
cực, đặc điểm này giúp hạt tải thuốc nano di động vượt "tường lửa",
đánh lừa hệ thống miễn nhiễm tiến đến mục tiêu. Trên mặt tiêu cực,
ta vẫn chưa hiểu rơ những ǵ sẽ xảy ra khi vật liệu nano với nhiều
h́nh dạng và bề mặt khác nhau di chuyển tùy tiện, vô trật tự, tiếp
cận với tế bào phổi, năo và những cơ quan quan trọng của cơ thể.
Nghiêm trọng hơn, khả năng biến vật liệu này thành vũ khí sinh hóa
học để tải chất độc đến tế bào là một nguy cơ không thể xem thường.
Thay v́ mang thuốc trị liệu, hạt nano có thể mang chất độc hoặc bề
mặt được gắn với nhóm biên hay phân tử sinh học độc hại, như một
"ninja" mang vũ khí sinh hóa học, chúng vượt hệ thống miễn nhiễm
theo đường hô hấp vào phổi, rồi nhập vào hệ thống tuần hoàn và cuối
cùng thênh thang đi vào năo bộ huỷ hoại trung khu thần kinh. V́ hàm
lượng độc chất rất nhỏ, có thể vũ khí nano không có tác dụng tức
thời nhưng sự đa dạng của nó c̣n độc hại hơn cả vũ khí sinh hóa học
cổ điển, và có tác dụng lâu dài trên môi sinh, động thực vật và con
người. Kịch bản này có thể chỉ là một lo xa không cơ sở, nhưng không
phải là chuyện khoa học viễn tưởng, v́ ở t́nh trạng khủng bố toàn
cầu hiện nay chúng ta cần có những đối sách pḥng ngừa và một kiến
thức dự bị trước khi quá trễ.
7. Hướng về tương lai
Theo thống kê, số
người tử vong v́ ung thư trên toàn thế giới lên đến 7 triệu người và
có 11 triệu người được chẩn đoán mang bệnh ung thư hàng năm. Con số
này vẫn c̣n tiếp tục gia tăng nếu phương pháp trị liệu không được cải tiến. Dường
như, thiên nhiên lúc nào cũng đặt con người trước những khó khăn,
đưa ra những bài toán nan giải để thách thức trí tuệ loài người. Có
một điều thú vị là những thách thức của thiên nhiên không nằm ngoài
những qui luật vật lư và vấn đề của con người là làm sao khám phá
những qui luật đó để quán triệt và hóa giải những khó khăn. Nói khác
hơn, thiên nhiên và con người đấu trí qua một ván cờ mà luật chơi là
các qui luật vật lư. Nếu vách huyết quản ở khối u ung thư không có
kẽ hở, nếu nhiệt độ của khối u không cao hơn và pH không khác hơn,
và nếu không có sự khác biệt sinh học giữa tế bào ung thư và tế bào
b́nh thường,
hạt tải thuốc nano sẽ không hiện hữu.
Gần 20 năm qua, để
khai thác triệt để sự khác biệt ở mức tế bào cho việc trị liệu ung
thư, vật liệu học và hóa học đă gầy dựng nên những phương pháp cực
kỳ tinh vi thành h́nh những hạt nano với nhiều cấu trúc thứ cấp bề
mặt vô cùng phong phú [23]. Sự đa dạng hóa nầy đă biến hạt nano trần
trụi đơn giản thành một hệ thống phức hợp đa năng. Chúng là những hệ
thống "thông minh" tí hon vừa biết phát quang, cảm ứng, vừa biết lựa
chọn, tải thuốc và nhả thuốc đúng mục tiêu. Trong 20 năm kế tiếp,
một trong những vấn đề lớn trong vật lư thu hút sự quan tâm của các
nhà khoa học là việc nghiên cứu và triển khai các vật liệu nano có
khả năng phát quang, hấp thụ sóng điện từ và vật liệu nano siêu từ
tính cho việc tạo ảnh tế bào và phân tử. Trong một tương lai gần,
với sự đầu tư sáng suốt và có trách nhiệm của chính phủ tại các nước
tiên tiến trong việc nghiên cứu độc tính nano, bóng dáng tử thần của
vật liệu nano sẽ dần dần sáng tỏ.
Hạt tải thuốc phát
quang nano đang làm một cuộc cách mạng trong các ứng dụng y sinh
học, nhưng chúng vẫn chưa là một hệ thống hoàn chỉnh [24]. Ngoài
liposome chứa thuốc kháng ung thư đă trở thành dược phẩm được công
nhận [25], các loại hạt tải thuốc nano phần lớn vẫn c̣n ở giai đoạn
nghiên cứu, chưa được phổ biến thành dược phẩm v́ các vấn đề liên
quan đến độc tính, sự phân hủy và tương thích. Thiên nhiên cho ta
nhiều thử thách, nhưng thiên nhiên cũng là một đối tượng để con
người mô phỏng. Một ngày nào đó không xa, hy vọng rằng hạt nano đa
năng sẽ hành xử giống như bạch huyết cầu biết ùa đến vết thương, bao
vây và tiêu diệt vi khuẩn xâm lăng, rồi tự động rút lui khi hoàn
thành nhiệm vụ hay âm thầm hy sinh v́ "đại nghĩa"! Có khả thi không? Với sự thông
minh và tính sáng tạo liên tục của con người, tại sao không?
Những ngày xuân tỉnh lẻ
Cuối tháng 10, 2008
TVT
Tài liệu tham khảo và
ghi chú
1.
Nano: The magazine
for small science,
5 (Jan 2008) 11.
2.
Y. Li, W. Du, G. Sun and K.L. Wolley, Macromolecules,
41 (2008) 6605.
3.
"Nano tekunoroji no
subete"
(tiếng Nhật, "Tất cả
những ǵ về công nghệ
nano") (Kawai Tomoji Ed.), Kogyo Chosa Kai, Tokyo, 2001.
4.
Trương Văn Tân, "Cơ học lượng tử và vật liệu nano"
trong "Max Planck: Người khai sáng thuyết lượng tử. Kỷ yếu mừng
sinh nhật thứ 150 (1858 - 2008)" (Nguyễn Xuân Xanh và Phạm Xuân
Yêm et al chủ biên), nxb Tri Thức, TP HCM, sắp xuất bản.
5.
www.invitrogen.com
6.
K.C. Weng, C.O. Noble, B. Papahadjopoulos-Sternberg, F.F.
Chen, D.C. Drummond, D.B. Kirpotin, D. Wang, Y.K. Horn, B. Hann and
J.W. Park,
Nano Lett., 8 (2008) 2851.
7.
Y. Gao, D. Shi, H. Cho, Z. Dong, A. Kulkarni, G.M. Pauletti,
W. Wang, J. Lian, W. Liu, L. Ren, Q. Zhang, G. Liu, C. Huth, L. Wang
and R.C. Ewing, Adv. Func. Mater., 18 (2008) 2489.
8.
L. Lacerda, S. Raffa, M. Prato, A. Bianco, K. Kostarelos,
Nanotoday, 2(6) (Dec. 2007) 38.
9.
M.-C. Daniel and D. Astruc, Chem. Rev., 104
(2004) 93.
10.
Zheng, C. Zhang and R.M. Dickson, Phys.
Rev. Lett.,
93 (2004) 077402-1.
11.
I.H. El-Sayed, X. Huang and M.A. El-Sayed, Nano Lett.,
5 (2005) 829.
12.
S.J. Odenburg, J.B. Jackson, S.L. Westcott and N.J. Halas,
Appl.
Phys. Lett.,
75 (1999) 2897.
13.
S.J. Son, X. Bai, S.B. Lee, Drug Discovery Today,
12 (2007) 627.
14.
A.M. Gobin, M.H. Lee, N.J. Halas, W.D. James, R.A. Drezek and
J.L. West, Nano Lett., 7 (2007) 1929
15.
J. Kim, J.E. Lee, J. Lee, Y. Jang, S.-W. Kim, K. An, J.H. Yu
and T. Hyeon, Agnew. Chem., 118 (2006), 4907.
Agnew. Chem. Int. Ed., 45 (2006) 4789.
16.
S. Eutis and M.A. El-Sayed, Chem. Soc. Rev., 35
(2006) 209.
17.
S.-S. Chang, C.-W. Shih, C.-D. Chen, W.-C. Lai and C. R. C. Wang, Langmuir,
15 (1999) 701.
18.
C.-C. Chen, Y.-P. Lin, C.-W. Wang, H.-C. Tzeng, C.-H. Wu,
Y.-C. Chen, C.-P. Chen, L.-C. Chen and Y.-C. Wu, J. Am. Chem.
Soc., 128 (2006) 3709.
19.
Electronics News,
June 2008, pp 4.
20.
Asbestos đă từng là một vật liệu xây dựng phổ biến làm mái
nhà, vách tường, vật cách nhiệt. Sợi và bụi asbestos đi vào phổi gây
ra ung thư. Các cựu công nhân của công ty James Hardy (Úc) làm trong
nhà máy sản xuất asbestos vài thập niên trước mắc bệnh ung thư phổi,
hiện vẫn c̣n trong quá tŕnh cáo kiện công ty này đ̣i bồi thường
thỏa đáng. Hiện nay, asbestos đă bị cấm sản xuất và sử dụng tại Úc
và nhiều nước trên thế giới.
21.
S.N. Luoma, "Silver nanotechnologies and the Environment",
September 2008 (Google search).
22.
http://www.nanotechproject.org/inventories/
23.
Y. Piao, A. Burns, J. Kim, U. Wiesner and T. Hyeon, Adv.
Func. Mater., 18 (2008) 1.
24.
Độc giả có thể vào Google đánh từ khóa "nanotechnology and
drug delivery" để xem những h́nh ảnh và tiến bộ mới nhất trong
Youtube.
25.
Đánh từ khóa "liposome" xem Wikipedia (Google search).
(*)
Anh Trương Văn Tân sinh quán tại tỉnh Sa Đéc,
cựu học sinh trường trung học Sa Đéc và Tống Phước Hiệp (Vĩnh Long).
Anh Tân đến Nhật cuối năm 1969. Anh tốt nghiệp Bachelor Eng.
(1975), Master Eng. (1977) trường Tokodai (Tokyo Institute of
Technology) và PhD (1980, University of Adelaide, Úc).
Anh Tân hiện làm việc tại Viện Khoa Học và Công Nghệ Quốc Pḥng (Defence
Science and Technology Organisation) trực thuộc Chính Phủ Liên Bang
Úc. Anh chuyên về Vật Liệu Học và hiện nghiên cứu về polymers dẫn
điện và ống nano carbon. Anh đă công bố
hơn 70 bài báo cáo khoa học
trên các tạp chí khoa học quốc tế. Xem thêm
những bài viết của anh Trương Văn Tân trên
ERCT
|
|