|
Vật liệu thông minh: Cơ bắp nhân tạo
Trương Văn Tân (*)
Vọi yên lặng cởi áo,
xắn quần. Hiền kinh ngạc.
Nàng thấy hiện ra một nhà lực sĩ cường tráng,
mỹ lệ như một pho tượng cổ Hy Lạp.
("Trống Mái", Khái Hưng)
1. Vật liệu
biết chuyển động
Sự tiến hóa
của loài người song hành với sự khám phá, sử dụng các nguồn năng
lượng và cách biến chuyển từ một dạng năng lượng nầy sang dạng năng
lượng khác. Lợi dụng năng lượng của lửa đến năng lượng nguyên tử cho
thấy một quá tŕnh dài của con người từ thời mông muội bán khai đến
thế kỷ 21. Những bước tiến của khoa học cũng được đánh dấu bằng
những dụng cụ hay thiết bị được thiết kế để biến đổi các dạng năng
lượng với một hiệu suất không ngừng được nâng cao. Pin là một dụng
cụ biến hóa năng thành điện năng, pin mặt trời biến năng lượng sóng
điện từ thành điện năng, máy nổ hay động cơ hơi nước biến hóa năng
trong nhiên liệu hay hơi nước thành cơ năng. Từ một đầu máy chạy
bằng hơi nước ở thế kỷ thứ 18 đến xe hỏa đầu đạn Shinkansen của Nhật
Bản phá kỷ lục với tốc độ 250 km/h vào năm 1964, là một thí dụ nói
lên sự thành công của con người, lúc tiệm tiến lúc nhảy vọt, trong
việc nâng cao hiệu suất hoán chuyển các dạng năng lượng.
Cơ thể con
người và các sinh vật khác kể cả thực vật là những cỗ máy
thiên nhiên biến hoán năng lượng cực kỳ hiệu quả. Trong cơ thể con
người sự chuyển hóa sinh học (metabolism) biến thức ăn thành
nguồn năng lượng để tiêu hao dưới dạng động năng (đi, chạy) và thế
năng (nâng một vật lên cao). Các bộ phận của những cỗ máy nầy là
phân tử sinh học được hoàn bị do quá tŕnh tiến hóa trải qua hàng
triệu năm. V́ vậy, Mẹ thiên nhiên lúc nào cũng là nguồn sáng tạo
của loài người. Các nhà khoa học không ngừng mô phỏng phân tử sinh
học để tổng hợp phân tử nhân tạo biết chuyển biến qua lại các loại
năng lượng như hóa năng, điện năng, điện từ năng, nhiệt năng và áp
năng.
Cơ bắp nhân
tạo (artificial muscles) có tên khoa học là "actuator" được dịch ra
tiếng Việt là "cơ cấu hay bộ dẫn động". Actuator được định nghĩa là
một dụng cụ có thể co giăn và tạo ra lực và công khi có một kích
động bên ngoài tác dụng. Kích động nầy có thể là quang, nhiệt hay
điện. Phần lớn các actuator được kích thích bằng điện nên đây là một
cơ cấu biến điện năng thành cơ năng qua một phản ứng hóa học giống
như cơ bắp sinh học. Những áp dụng trực tiếp của actuator là để đáp
ứng những nhu cầu chuyển động, chẳng hạn như tay chân giả, robot, hệ
thống điện cơ vi mô (microelectromechanical system, MEMS), những
trang cụ (device) mô phỏng sinh vật như chim, cá, côn trùng. Từ định
nghĩa của actuator, ta thấy máy nổ hay động cơ mô tô điện cũng là
một loại actuator. Tuy nhiên, những cơ cấu nầy quá cồng kềnh cho
những áp dụng dẫn động vừa được nêu trên.
Một trong
những vật liệu có giá trị thực tiễn trong các áp dụng dẫn động có lẽ
là oxide của hợp kim ch́ (Pb), zirconium (Zr) va titanium (Ti) gọi
tắt là gốm (ceramic) PZT. PZT là một vật liệu có tính áp điện
(piezoelectricity). Tính áp điện là đặc tính phát sinh ra một điện
áp (ḍng điện) của một số vật liệu khi có một tác động cơ học như
kéo, đè, nén làm biến đổi kích thước vật đó. Ngược lại, khi có một
điện áp (ḍng điện) đặt vào th́ vật liệu đó sẽ biến đổi kích thước
và đây là áp dụng actuator của PZT. Độ thay đổi kích thước của PZT
rất nhỏ (tối đa 0,1 %) nhưng cực kỳ chính xác tùy theo điện áp đặt
vào. Các máy ảnh kỹ thuật số hiện đại có kỹ năng điều chỉnh tiêu
điểm tự động (autofocus). Ở đây, PZT có một tác dụng rất lớn. PZT
actuator được nối với ống kính. Trước khi chụp, máy ảnh sẽ phát ra
siêu âm hay tia hồng ngoại đến vật thể được chụp. Siêu âm hay tia
hồng ngoại sẽ phản hồi tạo ra một điện áp tương ứng với cự ly và
điện áp nầy sẽ làm thay đổi kích thước của PZT làm di động tiêu điểm
ống kính trùng lên vật thể.
Độ co giăn
tùy theo điện áp của PZT là một lợi điểm cho dụng cụ cần độ chính
xác cao, nhưng lại quá nhỏ (0,1 %) cho các tác dụng cơ bắp. Sự xuất
hiện của actuator dùng vật liệu "thông minh" hữu cơ bao gồm polymer
có hoạt tính điện hóa (electroactive polymer) và ống than
nano (carbon nanotube) với năng suất dẫn động tương đương hay trội
hơn cơ bắp sinh học, tạo ra một cơ hội để sản xuất actuator cho
các dụng cụ điện học, quang học, y khoa và robot tự động hóa. Nhưng
có thật là con người đă hoàn toàn mô phỏng được Mẹ thiên nhiên và cơ
bắp nhân tạo đă có thể thay thế người anh em sinh học? Để biết câu
trả lời, chúng ta hăy đọc những ḍng kế tiếp.
2. Cơ bắp
sinh học
Cơ bắp sinh
học của mọi sinh linh trên quả đất nầy là một trang cụ (device)
thiên nhiên tuyệt vời có lịch sử tiến hóa hàng triệu năm. Trên quan
điểm mỹ học, người hùng cơ bắp lúc nào cũng là một biểu hiện nam
tính tràn đầy sinh lực được phái tóc dài bất luận già trẻ, sang hèn,
muôn đời chiêm ngưỡng và yêu thích! Trong quyển tiểu thuyết "Trống
Mái" của nhà văn Khái Hưng, cô "tiểu thơ" Hiền của đất Hà thành văn
vật dường như chưa bao giờ có cơ hội thấy được những pho tượng cổ
trần trụi Hy Lạp, nên nàng kinh ngạc bàng hoàng khi trực diện trước
dáng h́nh lực lưỡng với những bắp thịt cuồn cuộn như những "quả lựu
rám nắng" của Vọi, một chàng ngư dân đẹp trai nhưng chất phác của
băi biển Sầm Sơn. Trên quan điểm khoa học, cơ bắp sinh học cũng là
một vật liệu không kém phần hấp dẫn v́ nó có thể vận hành ở một mức
tối ưu trong việc chuyển hoán hóa năng thành cơ năng và nhiệt nhưng
vẫn tuân thủ theo những định luật của nhiệt động học.
Sự co giăn
và tạo ra lực của cơ bắp thiên nhiên hoàn toàn được điều khiển bởi
những xung điện (electric pulse) phát xuất từ năo qua hệ thống thần
kinh. Xung điện là một tác nhân tạo ra những phản ứng hóa học trong
môi trường nước chứa các loại ion của cơ bắp gây ra sự co giăn. Sự
co giăn làm thay đổi thể tích cơ bắp từ đó sinh ra những tác động cơ
học (H́nh 1). Các sách sinh học cơ bản đều mô tả một thí nghiệm cổ
điển là kích thích sự co giăn của chân ếch bằng xung điện. Khi cho
xung điện vào, chân co lại, tắt ḍng điện chân lại giăn ra. Khi rút
hết nước từ chân, thí nghiệm cho thấy sự co giăn không xảy ra. Điều
nầy chứng tỏ xung điện chỉ có hiệu quả trong môi trường nước nơi
mà những luồng ion (ion flux) có thể luân lưu trao đổi để tạo ra lực
và công (work). Cơ bắp sinh học tạo ra lực và công trên căn bản thay
đổi thể tích là một hệ quả trực tiếp của phản ứng hóa học trao đổi
ion nhờ điện trong một môi trường ở một nhiệt độ nhất định.
Đây là loại actuator điện-hóa-cơ (electrochemomechanical actuator).

H́nh 1:
Kích thích từ năo qua hệ thống thần kinh gây nên sự di chuyển của
nước và ion,
phản ứng hóa học và sự thay đổi thể tích của cơ bắp.
Bảng 1 cho
biết những đặc tính của cơ bắp sinh học. Một so sánh thú vị là độ
biến dạng (co giăn) của cơ bắp sinh học có thể lớn hơn 40 % trong
khi PZT chỉ có 0,1 %. Theo Bảng 1, khi co giăn cơ bắp sẽ cho một lực
0,35 MPa, tương đương lực kéo một vật nặng 3,5 kg nếu cơ bắp có tiết
diện 1 cm2. Khi có xung điện, cơ bắp co lại 50 % trong
thời gian là 0,1 giây (Bảng 1). Những đặc tính nầy trở thành một
tiêu chí mà tất cả mọi vật liệu được thiết kế để có đặc tính bằng
hoặc vượt hơn cho các ứng dụng. Vật liệu có mật độ công và công suất
cao sẽ rất có lợi trong những áp dụng đ̣i hỏi sự nhẹ cân và một
không gian nhỏ hẹp như robot, dụng cụ y khoa cấy vào người, máy ảnh,
điện thoại di động, hệ thống điện cơ vi mô (MEMS).
Bảng 1:
Những đặc tính của cơ bắp sinh học [1]
|
Đặc tính |
Lượng
tiêu biểu
|
Lượng
tối đa
|
|
Độ biến dạng
(strain) (%)a |
20 |
>40 |
|
Ứng suất (stress)
(MPa)b |
0,1 |
0,35 |
|
Mật độ công (work
density) (kJ/m3)c |
8 |
- |
|
Tỷ trọng (kg/m3) |
1037 |
- |
|
Tốc độ biến dạng
(%/s)d |
- |
500 |
|
Mật độ công suất
(power density) (W/kg)e |
50 |
200 |
|
Năng suất (%)f |
- |
40 |
|
Số lần co giăng
|
- |
109 |
|
Môđun (modulus)
(MPa)h |
10 - 60 |
- |
a
Độ co giăn. Cơ bắp có chiều dài nguyên thủy là lo, co
hoặc và giăn đến độ dài l. Độ biến dạng (%) = [(l - lo) x
100]/lo.
b
Khi co, cơ bắp sẽ tạo ra lực F. Cơ bắp có tiết diện A. Ứng suất (Pa)
= F/A. Đơn vị
Pa (Pascal) = Newton/m2, MPa = MegaPascal = 106
Pa.
c
Công được tạo ra bởi 1 m3 cơ bắp.
d
Tốc độ co giăn của cơ bắp.
e
Công suất được tạo ra bởi 1 kg cơ bắp.
f
Tỷ suất giữa năng lượng cho ra và năng lượng nạp vào.
g
Cũng là tuổi thọ.
h
Môđun = Ứng suất/Độ biến dạng. Độ cứng vật liệu.
Máy nổ dùng
nhiên liệu biến hóa năng qua các phản ứng hóa học tạo ra sự co giăn
thể tích trong ḷng piston để tạo ra lực và công.
Tuy nhiên,
mặc dù có một điểm chung là co giăn thể tích, máy nổ không thể xem
là cơ bắp v́ cơ chế tạo ra lực và công của hai cơ cấu nầy hoàn toàn
khác nhau. Cơ chế máy nổ tuân theo chu tŕnh Carnot. Để tạo ra cơ
năng, máy nổ phải ở hai môi trường có hai nhiệt độ khác theo đúng
định luật thứ hai của nhiệt động học. Trong máy xe hơi hay xe gắn
máy, lúc nào cũng có thiết bị để làm nguội máy bằng nước hay không
khí. Cơ bắp tạo ra công từ quá tŕnh trao đổi ion trong một dung
dich ở một nhiệt độ nhất định. V́ vậy, nhiệt độ môi
trường là sự khác nhau giữa máy nổ và cơ bắp.
3. Polymer
dẫn điện
Polymer dẫn
điện có hoạt tính điện hóa. Để tạo ra cơ bắp nhân tạo mô phỏng theo
cơ bắp sinh học dựa trên một ḍng điện gây ra sự trao đổi ion, ta
thấy ngay rằng điện hóa là một phương pháp hữu hiệu để đạt được mục
tiêu nầy. Năm 1996, giáo sư Ray Baughman (University of Texas, Mỹ)
đă quan sát được cơ chế dẫn động của phim polypyrrole (PPy) trong
một b́nh điện giải. Một trong hai điện cực của b́nh là phim PPy [2].
Ông lợi dụng sự "hợp ly" xảy ra giữa mạch polymer dẫn điện và
dopant, hay là quá tŕnh doping/dedoping, để gây ra sự biến đổi thể
tích và h́nh dạng của polymer. Quá tŕnh doping/dedoping quen thuộc
đă được đề cập trong bài viết trước [3],
......MMMMMMMMMMM..... (dạng 1) + A-
doping
E
dedoping
...MMM+A-MMMM+A-MMMM+A-MMM....
(dạng
2)
Khi doping,
polymer (…MMMMM…) kết hợp với dopant (A-), polymer giăn
ra tăng thể tích (dạng 2). Khi ḍng điện đổi chiều, dedoping
xảy dopant rời khỏi mạch, polymer co lại giảm thể tích (dạng
1) (H́nh 2). Sự thay đổi thể tích của PPy gây ra bởi kích thích điện
và chiều ḍng điện cho ra hiện tượng tương tự như cơ bắp sinh
học. Cũng như cơ bắp sinh học, actuator của polymer dẫn điện cần
phải tiếp xúc với dung dịch chứa ion thích hợp và nhờ ḍng điện để
có những luồng ion di chuyển ra vào giữa vật liệu và dung dịch tạo
ra sự thay đổi thể tích của vật liệu và từ đó sinh ra lực và công.

H́nh 2:
Doping/dedoping gây ra sự thay đổi thể tích của polymer.
Kư
hiệu ( )
là ion trong dung dịch điện giải.
Polyaniline
(PAn), polythiophene (PT) và các polymer dẫn xuất của PT đều cho sự
co giăn tương tự như PPy. Sự "hợp ly" giữa polymer và dopant thật ra
phức tạp hơn công thức và H́nh 2 mô tả. Dopant có thể rủ rê lôi kéo
các phân tử dung môi đi ra đi vào môi trường polymer tạo ra sự co
giăn rất lớn nhưng tốc độ co giản rất chậm. Sự khuyếch tán ra vào
của dopant/phân tử dung môi giữa dung dịch điện giải và polymer cần
nhiều thời gian. Ngoài ra, ảnh hưởng của điện tích, độ lớn của
dopant và ion của chất điện giải lên sự co giăn và công là một đề
tài nghiên cứu nhiều thử thách nhằm tối ưu hóa năng suất cơ học của
loại actuator nầy.
Độ biến dạng
tiêu biểu của polymer dẫn điện trong khoảng 2 - 10 %. Gần đây, nhóm
nghiên cứu của giáo sư Keiichi Kaneto (Kyushu Institute of
Technology, Nhật Bản) đă thiết kế PPy với một dopant đặc biệt có thể
co giăn đến 40 %, đạt đến mức của cơ bắp sinh học. Tuy nhiên, để có
mức co giăn nầy ta cần một thời gian gần 8 tiếng đồng hồ, rất chậm
so với cơ bắp sinh học là 0,1 giây để đạt một độ co giăn tương
đương! Sau đó, nhóm Kaneto tiếp tục cải thiện và đạt được độ co giăn
20 % với tốc độ 4 %/s (nghĩa là chỉ cần 5 giây để co lại 20 %). Kết
quả nầy rất ấn tượng. Actuator dùng polymer dẫn điện là có mật độ
công (work density) khá cao, 140 kJ/m3 (cơ bắp sinh học
là 8 kJ/m3) và có điện áp thao tác rất thấp trong khoảng
2 V.
Để tránh sự
cồng kềnh của một b́nh điện giải, tiến sĩ Dezhi Zhou và nghiên cứu
sinh Yanzhe Wu (University of Wollongong, Úc) đă chế tạo ra một
actuator "kép" được mô tả trong H́nh 3. Phim PPy được phủ lên một
thể xốp chứa chất điện giải với một ion (dopant) thích hợp, tất cả
chỉ có độ dày khoảng 100 mm. Thật ra, đây là một b́nh điện giải cực
mỏng với hai điện cực là phim PPy. Khi cho một ḍng điện chạy qua
cơ cấu nầy, theo công thức doping/dedoping một phim sẽ ở dạng 1 (co
lại), phim kia ở dạng 2 (giăn ra). Như vậy, toàn cơ cấu sẽ cong về
một phía, giống như con tem bưu điện khi được thấm nước ở mặt keo,
mặt nầy tăng thể tích làm cong con tem. Khi chiều ḍng điện đổi
ngược th́ cơ cấu sẽ cong về phía kia (H́nh 3). Khi chiều ḍng điện
thay đổi liên tục, ta sẽ có một actuator chuyển động như chú khuyển
vẫy đuôi. Cơ cấu nầy có thể làm vi hay đuôi của một con cá nhân tạo
bơi trong nước hay con gián biết ḅ.

H́nh 3: (a)
Cấu tạo actuator "kép" có độ dày khoảng 100
mm;
(b)
Actuator bật qua lại khi ḍng điện đổi chiều.
Actuator
dùng polymer dẫn điện có những nhược điểm do tính nhớt đàn hồi
(viscoelasticity) cố hữu của vật liệu polymer. Tính chất này thường
thấy ở các vật dụng plastic; chẳng hạn bao plastic bị kéo giăn đến
một mức th́ sẽ biến dạng vĩnh viễn và mất tính đàn hồi. Một nhược
điểm khác là sau một thời gian sử dụng chất điện giải và điện cực
polymer bị suy thoái v́ những phản ứng điện hóa bất lợi xảy ra.
Hiện nay,
actuator dùng polymer dẫn điện vẫn c̣n là một trang cụ đang được
nghiên cứu trong pḥng thí nghiệm. Ngoài việc chế tạo các loại robot
như cá bơi trong nước hay con gián biết ḅ mang tính chất hàn lâm, ở
thời điểm nầy (2007), chưa có một thương phẩm nào sử dụng polymer
dẫn điện như một actuator. Nhóm của giáo sư Gordon Wallace và Geoff
Spinks (University of Wollongong, Úc) có nhiều đề án nghiên cứu nhằm
thực dụng hóa actuator polymer dẫn điện, chẳng hạn chế tạo các robot
biết ḅ, biết bơi hay cấy vào ốc tai chữa bệnh khiếm thính (điếc)
bẩm sinh. Những chương tŕnh nầy vẫn c̣n ở bước đầu. Dù sao, những
nghiên cứu cơ bản nhằm tối ưu hóa năng suất dẫn động của các nhóm
nghiên cứu trên toàn thế giới cho thấy sự liên hệ mật thiết giữa ba
đặc tính: điện tính, cơ tính và hóa tính. Biến đổi một đặc tính sẽ
ảnh hưởng đến hai đặc tính c̣n lại. Có một trường phái cho rằng
không cần phải qua sự "hợp ly" với ion, mà nên nhắm vào những
polymer mang nối liên hợp có khả năng co giăn ở thang phân tử như
cây đàn xếp accordion khi được kích thích bởi ḍng điện. Như thế,
thao tác dẫn động của polymer sẽ càng giống các sợi cơ bắp sinh học.
Hy vọng nền công nghệ nano sẽ trợ giúp cho việc triển khai vật liệu
nầy.
4. Con cá
robot Nhật Bản
Người Nhật
Bản có khái niệm về tự động hóa, yêu chuộng và thiết kế các loại
robot rất sớm. Sau khi thua trận ở Thế chiến thứ 2, người Nhật thu
nhặt kim loại phế thải để phát triển công nghệ đồ chơi trẻ con, sản
xuất xe hỏa, xe hơi, máy bay đồ chơi với động cơ chạy bằng pin tràn
ngập thị trường trong những thập niên 50, 60 của thế kỷ trước. Các
loại đồ chơi tự động hóa lần đầu tiên xuất hiện mang đến nhiều niềm
vui cho trẻ con toàn thế giới (trong đó có cả người viết!). Các
trung tiểu xí nghiệp Nhật cũng vực dậy trên đống tro tàn của Thế
chiến thứ 2 nhờ số doanh thu từ các phế liệu. Năm 2004, công ty
Eamex tại Osaka (Nhật Bản) chế tạo ra con cá "đồ chơi" bơi trong bể
nuôi như cá thật. Nhưng công ty Eamex không phải là công ty làm đồ
chơi mà là một công ty sản xuất các linh kiện điện tử và actuator.
Con cá robot được thiết kế để cho thấy khả năng dẫn động của polymer
được dùng làm actuator cho cá bơi được. Đặc điểm của cá robot nầy là
không động cơ, không bánh răng (gear), không trục truyền động
(shaft), thậm chí cũng không có pin. Bộ phận chính của cá là
actuator sử dụng polymer có hoạt tính điện hóa (electroactive
polymer) đẩy cá đi một cách tự nhiên tự tại.
Vật liệu của
actuator nầy là polymer có mạch chính là polytetrafluoroethylene
(-CF2-)n và
những nhánh phụ mang gốc sulfonate (SO3H) hay gốc
carboxylate (COOH). Loại mang gốc sulfonate có thương hiệu là Nafion
và loại mang gốc carboxylate là Flemion. Đây là những gốc thân nước
nên phim ngậm nước dễ dàng. Để dùng làm vật liệu actuator, phim
Nafion hoặc Flemion được đặt vào dung dịch muối kim loại, phim hút
nước và các cation (ion mang điện tích dương) kim loại (thí dụ: Na+)
sẽ thay thế H+ cho SO3-Na+
hay COO-Na+. Cấu trúc nầy cho Na+
di động trong môi trường nước, nhưng gốc âm SO3-
và COO- bất động v́ là một phần của mạng lưới
polymer. Hai mặt phim được phủ lên một lớp vàng (Au) hoặc bạch kim
(Pt) để làm điện cực (H́nh 4). V́ là vật liệu polymer chứa ion và
được phủ kim loại để làm điện cực, vật liệu nầy được gọi là
composite polymer ion và kim loại (ionic polymer metal composite,
IPMC).

H́nh 4:
Khi có điện áp, cation dồn về phía cực âm khiến phim cong về
một phía.
Nguyên lư
dẫn động của phim rất đơn giản. Khi phim được bắt vào một nguồn điện
các cation (Na+) đổ dồn về cực âm làm tăng thể tích mặt
nầy và giảm thể tích mặt kia. Phim sẽ bị cong giống như con tem bưu
điện đề cập bên trên (H́nh 4). Khi đổi chiều ḍng điện (cực âm thành
dương, dương thành âm), phim sẽ cong ngược lại. Các loại phim nầy là
một thể xốp có nhiều lỗ vi mô (micropore) nên chứa nhiều nước và Na+
có thể di chuyển qua lại dễ dàng. Actuator được thiết kế để có thể
chuyển động qua lại đến tần số 100 Hz (chuyển động qua lại 100 lần
trong 1 giây). Actuator thao tác ở điện áp < 7 V và cho ứng suất 30
MPa (gần 100 lớn hơn cơ bắp sinh học). Nhược điểm của actuator nầy
là nước dễ bay hơi nhưng điều nầy có thể khắc phục bằng cách thay
thế nước bằng dung môi khó bay hơi và dùng phim mỏng bao quanh. So
với actuator "kép" polymer dẫn điện, actuator dùng polymer Nafion
hoặc Flemion có một cơ cấu đơn giản hơn với độ ứng đáp rất nhạy (100
Hz). Con cá robot là để phô trương thiên hạ, mục tiêu thương măi
chính của Eamex là biến IPMC actuator thành sản phẩm thay thế PZT
cho cơ cấu tự động điều chỉnh ống kính máy ảnh và máy ảnh điện thoại
di động (xem
www.eamex.co.jp).
5. Ống than
nano
Cơ tính
tuyệt vời của ống than nano là ưu điểm vượt trội hơn các loại vật
liệu khác. Ống than nano vỏ đơn (single-wall carbon nanotube,
SWNT) có môđun (độ cứng) là 640 GPa (GigaPascal = 109 Pa)
gần trị số của kim cương và độ bền (tensile strength) trong khoảng
20 đến 150 GPa. Có nghĩa là nếu ống than nano có tiết diện 1 cm2,
ống có thể treo một vật nặng 200 đến 1500 tấn, tương đương với một
chiếc xe tăng hạng nặng và máy bay jumbo! Nhưng đây chỉ là trị số
của từng ống riêng lẻ ở thang phân tử. Khi các ống kết hợp thành vật
liệu sợi hay phim, những trị số cơ tính nầy nhỏ hơn 10 đến
100 lần. Làm sao tạo những vật liệu sợi và phim của ống than nano
những vẫn giữ cơ tính của ống là một thử thách mà các nhà vật liệu
học đang bận tâm [4].
Giáo sư Ray
Baughman (University of Texas, Mỹ) và cộng sự lần đầu tiên khám phá
ra khả năng dẫn động của ống than nano [5]. Khi phim SWNT được đặt
dưới một điện áp (2 V) và trong một dung dịch điện giải (H́nh 5),
SWNT có tác dụng của một actuator, co giăn tùy theo điện áp. Ống
nối với cực âm của nguồn điện sẽ tiếp nhận điện tích âm trên mặt
ống, ống nối với cực dương nhận điện tích dương (H́nh 5). Điện tích
giống nhau sẽ đẩy nhau làm ống ph́nh lên. Khi điện áp là zero, điện
tích biết mất, ống "xẹp" trở lại kích thước ban đầu.

H́nh 5:
Khi có điện áp, bề mặt ống than nano nhận điện tích âm
(hạt đỏ)
từ cực âm, điện tích dương (hạt vàng) từ cực dương [5].
V́ SWNT có
độ cứng rất cao, độ co giăn bị giới hạn ở mức độ 0.1 - 1 %, to hơn
gốm PZT nhưng nhỏ so với những vật liệu actuator hữu cơ khác. Mặt
khác cũng v́ độ cứng, vật liệu sợi SWNT cho mật độ công 1000 kJ/m3,
một trị số rất cao trong các loại actuator. Cơ bắp sinh học chỉ đạt
đến 8 kJ/m3, đúng là sức nguời có hạn nhưng sức vật có
thể gần như vô hạn. Trên lư thuyết, với môđun 640 MPa ống than nano
có thể tạo ra công có trị số 100.000 kJ/m3, một trị
số to chưa từng thấy trong các loại vật liệu. V́ vậy, SWNT là một
vật liệu actuator mang nhiều tiềm năng với một niềm hy vọng là trong
một tương lai gần các nhà khoa học sẽ có một phương pháp chế biến
sợi và phim với những cơ tính tuyệt vời như các ống than nano tạo
thành. Khả năng tạo ra mật độ công rất cao và độ bền nhiệt tốt
(không phân hủy ở 450 °C trong không khí, và 1000 °C trong chân
không hay môi trường trơ) của SWNT sẽ mang đến nhiều áp dụng cho
công nghệ không gian (aerospace), một lĩnh vực đ̣i hỏi vật liệu gọn
nhẹ, bền và hiệu suất cao.
Ống than
nano nhiều vỏ (multi-wall carbon nanotube, MWNT) không co giăn nhiều
nên không có năng lực dẫn động tốt như SWNT. Tại sao? Đây là một vấn
đề đang chờ đợi câu trả lời từ các nhà khoa học.
6.
Actuator cao su
Năm 1992,
công ty SRI International (Mỹ) giành được một khế ước nghiên cứu từ
"Chương tŕnh động cơ vi mô" (Micro-machine Program) của chính phủ
Nhật Bản [6]. Chính phủ Nhật t́m kiếm một công nghệ mới cho actuator
vi mô. Vật liệu phải là chất hữu cơ mềm thay thế cho vật liệu cứng
PZT, biến hoán trực tiếp tự điện năng sang cơ năng, giá rẻ, dễ chế
tạo, và đương nhiên là năng suất dẫn động phải cao mà không qua quá
tŕnh điện hóa phức tạp. V́ số tiền nghiên cứu kếch sù nên SRI dấn
thân! SRI trước hết dùng phim mỏng polyurethane, một loại vật liệu
thường dùng làm nệm giường, ghế sofa. Hai mặt phim được phủ lên một
lớp kim loại để làm điện cực và phim nầy được đặt vào một nguồn điện
với một điện áp hơn 1000 V (H́nh 6). Dưới điện áp, mặt điện cực xuất
hiện điện tích âm, mặt kia điện tích dương, sức hút tĩnh điện xảy
ra; phim tự động bị ép lại và giăn ra như ta dùng hai tay kéo cái
bao plastic. Khi tắt điện, phim trở lại kích thức cũ. Sau đó, SRI
chế biến cao su silicon và acrylic với hiệu quả co giăn cao hơn
polyurethane. Cơ chế dẫn động do sự hút tĩnh điện giữa điện tích âm
và dương tương phản với cơ chế của ống than nano. Sự co giăn của ống
nano là do sự đẩy tĩnh điện của những điện tích giống nhau.

H́nh 6:
Sự co giăn của cao su dưới điện áp (> 1000 V) [7].
Cơ cấu
actuator thật ra là một tụ điện, nhưng là tụ điện có thể co giăn! Để
điện cực có thể co giăn với phim, người ta dùng carbon dẫn điện trộn
với nhựa đàn hồi [7]. Hiệu ứng làm biến dạng những vật liệu cách
điện như polymer/cao su bằng một điện áp do lực tĩnh điện (ứng suất
Maxwell) được biết từ lâu. Hiệu ứng nầy rất phiền toái v́ nó
làm thay đổi h́nh dạng không cần thiết khi dùng polymer/cao su trong
các cơ cấu điện học. Tuy nhiên, trong nhu cầu dùng vật liệu hữu cơ
mềm cho actuator, các nhà khoa học của công ty SRI đă khéo léo biến
nhược điểm thành ưu điểm. Độ biến dạng (co giăn) càng to khi điện áp
và hằng số điện môi (dielectric constant) càng to. V́ tụ điện cũng
có yêu cầu tương tự, vật liệu dùng cho actuator cũng có thể dùng cho
tụ điện. Dùng titanum oxide (TiO2) làm chất phụ gia trong
cao su là một kỹ thuật tăng hằng số điện môi. Ngoài ra, để có độ
biến dạng tối đa, điện cực phải duy tŕ độ đẫn điện và cao su duy
tŕ cường độ điện môi khi co giăn. Đây là những vấn đề kỹ thuật cần
phải giải quyết ở thời điểm hiện tại.
Hiện nay,
SRI đă chế tạo được cao su acrylic với hằng số điện môi to và chịu
được điện áp cao. Sự phát triển vật liệu cho actuator cao su một
năng suất dẫn động rất ấn tượng. Cao su acrylic có độ co giăn lớn
hơn 200 % (cơ bắp sinh học: 50%), ứng suất dẫn động 7 MPa (cơ bắp
sinh học: 0,35 MPa), mật độ công 3000 kJ/m3 (cơ bắp sinh
học: 8 kJ/m3). Một loại cao su silicon có độ co giăn 63
%, ứng suất 3 MPa và thời gian đáp ứng 0,001 giây và năng suất 80 -
90 % (cơ bắp sinh học: 40 %). Nhược điểm lớn của actuator nầy là
điện áp sử dụng phải ở mức vài ngàn volt, quá cao cho những dụng cụ
tinh mật (precision device). Theo các nhà nghiên cứu của SRI, điện
áp cao không nhất thiết phải là một cơ cấu nguy hiểm. Thật ra, ai bị
điện giật bởi sờ vào bu-gi của xe hơi hay xe máy Honda cũng biết
đó là kinh nghiệm không đến nỗi chết người nhưng cũng không lấy làm
ǵ thoải mái! Dù với nhược điểm nầy, SRI cũng đă sản xuất actuator
điều chỉnh dụng cụ quang học thay thế PZT và một số trang cụ khác
(xem
www.artificialmuscle.com).
Khi một cơ
cấu chuyển hoán năng lượng A sang năng lượng B th́ cũng có thể
chuyển B sang A. Vật liệu actuator chuyển điện năng sang cơ năng th́
cũng là vật liệu dùng cho trang cụ chuyển cơ sang điện. Các loại cao
su silicon và acrylic được để dưới gót giày và cứ mỗi bước đi điện
phát sinh và được tích tụ để dùng như nguồn điện cá nhân cho các
dụng cụ điện tử cầm tay [6]. Khả năng chuyển hoán cơ sang điện không
thoát khỏi những cặp mắt hiếu kỳ của các chuyên gia thuộc Bộ Quốc
pḥng Mỹ. Công ty SRI lại nhận thêm một khế ước nghiên cứu béo bở,
lần nầy từ chính phủ Mỹ để thực hiện cơ chế "dẫn động nghịch" chế
tạo trang cụ biến cơ thành điện.
***
Actuator
chẳng qua là một cơ cấu được tự động hóa, bắt chước thiên nhiên để
"thế nhân hành đạo". Các loại vật liệu hữu cơ từ polymer đến ống
than nano dùng trong actuator có thể xem như vật liệu "thông minh"
biết ứng xử theo ư con người. Con cá robot của công ty Eamex là mô
phỏng thành công từ thiên nhiên. Người viết cũng đă từng xem video
con bướm robot biết đập cánh (nhưng chưa bay!) trong một bài báo cáo
tại một hội nghị khoa học quốc tế. Trong kho tàng thi văn Việt Nam,
nữ sĩ Hồ Xuân Hương có lần phóng bút "Mơ thảm không khua mà cũng
cốc. Trống sầu chẳng đánh cũng kêu om". Trong những vần thơ phá
cách và phóng túng của nữ sĩ, ta bỗng thấy bàng bạc h́nh dáng vật
liệu thông minh và dụng cụ "tự động hóa" của thế kỷ 21!
Nguyên lư
dẫn động của actuator tương đối đơn giản. Dù vậy, actuator như một
động cơ yên ắng đă nhẹ nhàng quán xuyến từ thế giới vĩ mô đến thế
giới vi mô, từ con robot to đùng đến máy bôm nhỏ bé (micro pump), từ
những việc cụ thể trên mặt đất đến những linh kiện sử dụng trong
không gian. So với cơ bắp sinh học, cơ bắp nhân tạo được thiết kế
cho ra những năng suất vượt trội. Tuy nhiên, không phải tất cả đều
nằm trong không gian màu hồng với những thành công vĩ đại! Actuator
dùng polymer dẫn điện vẫn c̣n mang nhiều tính hàn lâm. Ống than nano
cho nhiều tiềm năng nhưng c̣n mắc chướng ngại trong việc chế biến.
Người viết và đồng nghiệp [8] đă phân tích ảnh hưởng cơ tính đến độ
co giăn và năng lực dẫn động nhằm t́m kiếm một vật liệu lư tưởng hay
tối ưu hóa một composite trong đó những ưu khuyết điểm có thể bổ
sung cho nhau.
Nhưng Mẹ
thiên nhiên dường như lúc nào cũng muốn thách thức con người; đến
nay vẫn chưa có một vật liệu nào có thể co giăn được 1 tỷ lần như cơ
bắp sinh học. Tiến sĩ Yoseph Bar-Cohen (Jet Propulsion Lab, Mỹ),
người tổ chức hội thảo quốc tế về vật liệu actuator, hằng năm treo
giải thưởng cho cá nhân hay nhóm nghiên cứu tạo ra một cánh tay nhân
tạo để đọ sức với người kéo tay chuyên nghiệp. Cho đến nay (năm
2007) chưa ai giành được giải thưởng "vật thắng nhân". Điều nầy phản
ảnh một hiện thực hơi phũ phàng là ngoài cơ bắp nhân tạo McKibben
[9] dùng khí nén cồng kềnh, bất tiện, đến bây giờ vẫn chưa có một
vật liệu nào có thể mô phỏng và thay thế cơ bắp sinh học để làm chân
tay giả cho người khuyết tật v́ tai nạn, v́ chiến tranh. Cao su
silicon hay acrylic có những đặc tính thích hợp, nhưng không thể
mang vào bệnh nhân một b́nh điện để phóng điện vài ngàn volt cho một
động tác. Đây là một nhu cầu bức thiết, nhưng hiện tại "năo lực" của
các nhà khoa học vẫn "bất ṭng tâm"!
TVT
15 July 2007
Ghi chú và Tài liệu tham khảo
- J. D. W. Madden et al,
IEEE J. Oceanic Eng. 29 (2004) 706.
- R. H. Baughman,
Synth. Met. 78 (1996) 339.
-
http://www.erct.com/2-ThoVan/TruongVTan/Cuaso_Thongminh.htm
-
http://www.erct.com/2-ThoVan/TruongVTan/Fullerene.htm
- R. H. Baughman et al,
Science 284 (1999) 1340.
- S. Aslhley, "Artificial
Muscles", Scientific American (October 2003) 53.
- R. Pelrine, R. Kornbluh
and G. Kopod, Adv. Mater. 12
(2000) 1223.
- G. M. Spinks, V.-T.
Truong, Sensors and Actuators A 119 (2005) 455.
- Do y sĩ McKibben sáng chế vào thập niên 50
của thế kỷ trước. Cơ bắp nầy có quả bóng cao su thon dài có thể
co lại khi bôm khí nén vào và giăn ra khi thả khí ra ngoài. Rất
cồng kềnh và tiêu hao năng lượng (xem Wikipedia: "Pneumatic
artificial muscles").
(*) Anh Trương Văn Tân sinh quán tại tỉnh Sa Đéc,
cựu học sinh trường trung học Sa Đéc và Tống Phước Hiệp (Vĩnh Long).
Anh Tân đến Nhật cuối năm 1969. Anh tốt nghiệp Bachelor Eng.
(1975), Master Eng. (1977) trường Tokodai (Tokyo Institute of
Technology) và PhD (1980, University of Adelaide, Úc).
Anh Tân hiện làm việc tại Viện Khoa Học và Công Nghệ Quốc Pḥng (Defence
Science and Technology Organisation) trực thuộc Chính Phủ Liên Bang
Úc. Anh chuyên về Vật Liệu Học và hiện nghiên cứu về polymers dẫn
điện và ống nano carbon. Anh đă công bố gần 70 bài báo cáo khoa học
trên các tạp chí khoa học quốc tế. Xem thêm
những bài viết của anh Trương Văn Tân trên
ERCT
|
|