|

"Ưu điểm của Đại học
Nghiên-cứu-tập-trung - Đại học của thế kỷ 21"
Gerhard Casper
(Hiệu
trưởng thứ chín của Đại học Stanford 1992 - 2000)
Lời giới thiệu:
Nhân ngày kỷ niệm 100 năm của trường Đại
học Bắc kinh (1998), giáo sư Gerhard Casper, Hiệu trưởng trường Đại
học Stanford, đă đọc bài diễn văn này tại Đại học Bắc kinh. Đây
không phải là một bài diễn văn ngoại giao thông thường, mà là một
bài phân tích và nhận xét về vai tṛ của một "đại học
nghiên-cứu-tập-trung" (research-intensive university) dựa trên tinh
thần Humboldt. Theo ông, giá trị của tinh thần Humboldt đặt trên căn
bản của tự do hàn lâm và sự tương tác giữa nghiên cứu và giảng dạy
vẫn c̣n có giá trị cho đến ngày hôm nay và cho cả thế kỷ 21. Ông
tŕnh bày những kinh nghiệm nghiên cứu và giảng dạy tại Đại học
Stanford và giải thích các nguyên nhân đưa đến sự thành công vượt
bậc của sự hợp tác khoa học và công nghệ giữa Stanford và Thung lũng
Silicon như là một áp dụng thành công của tinh thần Humboldt . Mười
hai năm sau đến ngày hôm nay (2010), bài diễn văn hơn bao giờ hết
càng làm sáng tỏ vai tṛ của đại học như một định chế của sự "trác
việt hàn lâm" và nguồn đóng góp tri thức và phúc lợi cho xă hội, và
cũng là những lời nhắn nhủ đến những người có trách nhiệm trước dấu
hiệu suy thoái gây ra bởi việc "doanh nghiệp hóa" và tiêu cực trong
giáo dục đại học.
Dịch giả
***
Kỷ niệm 100 năm của Cải cách 1898 tại Trung Quốc và của Đại học Bắc
kinh là một sự kiện đặc biệt. Nó xứng đáng để có một cuộc tụ họp của
các hiệu trưởng đại học từ khắp nơi trên thế giới. Sự thành lập của
trường đại học này đă đánh dấu sự cam kết của Trung Quốc tạo ra một
đại học phục vụ cho quốc gia cũng như cho thế giới và thỏa măn những
tiêu chuẩn quốc tế của tính trác việt hàn lâm.
Nhiều thành quả của Đại học Bắc kinh của thời gian qua – cũng như
những năm tháng tuyệt vọng của nó – đều được mọi người biết đến
trên toàn thế giới. Ở buổi b́nh minh của một thế kỷ mới, những ư
tưởng ban đầu được đề ra bởi các bậc lănh đạo tiền bối giờ đây đang
ở trong tầm tay. Tôi tự tin điều đó: rằng tất cả sẽ mang đến nhiều
lợi ích v́ Đại học Bắc kinh đang thu hút những tài năng kiệt xuất
của đất nước này để trở thành một trung tâm hàng đầu của sự sáng tạo
và đổi mới ở thế kỷ 21.
Nhưng, cũng như đại học của tôi và các đại học khác trên toàn thế
giới, Đại học Bắc kinh đang đối mặt với một câu hỏi lớn: Những phẩm
chất nào cần thiết để phục vụ xă hội bằng sự ưu việt? Đây là đề tài
của bài nói chuyện của tôi. Tôi thường xuyên được người ta yêu cầu
giải thích về những "bí mật" tạo nên của sự liên hệ giữa Đại học
Stanford và Thung lũng Silicon. Thung lũng Silicon đă trở thành một
ẩn dụ cho một sự liên hệ hiệu quả giữa một đại học và vùng phụ cận.
Và những quan khách thăm viếng Stanford mong muốn được biết những
nguyên nhân của sự thành công đó.
Câu trả lời không phải nằm ở những bí mật mà Stanford đă khám phá,
mà nó nằm ở sự tôn trọng triệt để một số mục đích căn bản nhưng bao
quát và những đặc điểm của một Đại học Nghiên-cứu-tập-trung.
Trong việc sử dụng cụm từ "Đại học Nghiên-cứu-tập-trung", tôi hiểu
một cái ǵ rất đặc trưng. Những hệ thống của giáo dục đại học đă trở
nên cực kỳ đa dạng và đáp ứng nhiều nhu cầu khác nhau, nhất là các
nhu cầu xă hội về một lực lượng lao động kỹ năng. Những định chế
xuất hiện để chấp nhận những thách thức này thường được gọi là "đại
học". Không có ǵ sai về việc này ngoài sự lẫn lộn định nghĩa. Nhưng
cái định chế mà tôi nghĩ trong đầu cần phải thỏa măn ba tiêu chuẩn:
tuyển chọn sinh viên; sự chuyên tâm vào việc t́m kiếm tri thức và
biểu hiện một tinh thần khảo cứu với óc phê phán. Một cách đơn giản,
tôi gọi đây là một "đại học nghiên-cứu-tập-trung". Tôi không dùng
cách gọi "đại học nghiên cứu" như thông thường trong tiếng Mỹ là v́,
cũng như sẽ nói rơ hơn ở phần sau, tôi không nghĩ đại học là một cơ
sở nghiên cứu, nhưng là một định chế mà trong đó cường độ của việc
nghiên cứu là một phần khắng khít của các chức năng truyền thống
giáo huấn và học hỏi của đại học.
Việc mà đại học nghiên-cứu-tập-trung cần ngay bây giờ, trong khi thế
kỷ 21 đang dần dần tiến đến, là suy nghĩ vắt óc hơn về các yếu tố
phân biệt nó như một định chế với các định chế xă hội khác liên quan
đến việc giảng dạy nhằm làm nổi bật lên đâu là nhiệm vụ độc đáo và
lâu dài đối với bản thân đại học và cho xă hội xung quanh. Và cùng
lúc với những suy tư liên quan đến những "bật mí" mà tôi đề cập hôm
nay, mục đích cốt lơi hơn của tôi là làm sáng tỏ vai tṛ của đại học
cho thế kỷ sắp tới đă được phác họa rơ nét nhất gần 200 năm trước.
Để bắt đầu, tôi muốn trở lại thập niên cuối cùng của thế kỷ 19, thời
kỳ khi hai truờng Đại học Bắc kinh và Stanford cùng được thành lập.
Chỉ tại Mỹ không thôi, ba trường đại học lớn đă được thành lập gần
như cùng lúc là: Johns Hopkins, Stanford và Đại học Chicago. Như
chúng ta biết, Đại học Bắc kinh là kết quả của cuộc Cải cách Một
Trăm Ngày vào năm 1898 và đă được xem là đỉnh cao của một hệ thống
giáo dục đa tầng với mục đích hiện đại hóa nền giáo dục và đào tạo
quan chức [1].
Hiệu trưởng của một trường đại học Mỹ đến thăm viếng Bắc kinh vào
năm 1910 đă quan sát một cách phê phán rằng trường Đại học Bắc kinh
ở thời điểm đó "không phải là một kế hoạch quy củ được cảm hứng
từ một mục đích cao quư, mà cũng không phải là một mục đích tầm cao
được hỗ trợ từ kế hoạch quy củ. Đúng hơn nó là một tiến tŕnh, một
cái ǵ đang thành h́nh, một thứ ǵ đó ra đời, mà thứ ǵ th́ cũng rất
khó định nghĩa." [2]
Đương nhiên, lúc nào cũng đúng đối với tất cả đại học, rằng đại học
là một sự "đang thành h́nh mới", hay như tôi thường thích nói, mọi
ngày ở đại học đều là những ngày "đầu tiên". Trong trường hợp của
trường Đại học Bắc kinh, người ta thấy rơ từ năm 1917 tiến tŕnh
phát triển đă có một định hướng. Ở tại thời điểm này, những nét
tương tự giữa Đại học Bắc kinh và Đại học Stanford xuất hiện. Việc
bổ nhiệm ông Thái Nguyên Bồi (Cai Yuanpei) vào chức vụ Hiệu trưởng
Đại học Bắc kinh đă khiến ông trở nên một người sáng lập thật sự của
một đại học đúng với ư nghĩa của nó, một đại học nhanh chóng trở nên
trung tâm tri thức hàng đầu của đất nước [3]. Được ảnh hưởng sâu sắc
bởi hai lần sống trên đất Pháp và Đức (tại Berlin và Leipzig) với số
thời gian tổng cộng gần mười năm, Hiệu trưởng Thái đi t́m một sự
tổng hợp những nhân tố châu Âu và Trung Quốc cho nền giáo dục đại
học.
Chủ trương của ông Thái về tự trị đại học và tự do hàn lâm phản ánh
ảnh hưởng trực tiếp của mô h́nh Đức quốc lên ông [4]. Mô h́nh này
cũng đă ảnh hưởng sâu sắc đến việc thành lập trường Stanford cũng
như Johns Hopkins và Chicago. David Starr Jordan, Hiệu trưởng đầu
tiên của Stanford, là một nhà ngư loại học thông triệt tiếng Đức,
được thôi thúc bởi tinh thần khảo cứu khoa học như đă được thể hiện
bởi Louis Agassiz, một nhân vật gương mẫu của ông. Agassiz lại là
“đệ tử” của Alexander von Humboldt. Bức tượng của Alexander von
Humboldt và Louis Agassiz hiện vẫn c̣n đặt trong sân chính của
trường Stanford. C̣n một mối liên hệ khác, Alexander là người em nổi
tiếng của Wilhelm von Humboldt, người đă đảm nhận trách nhiệm tư duy
lại các trường đại học Phổ ở đầu thế kỷ 19 và triển khai một mô h́nh
được biết đến là mô h́nh Humboldt.
Cả ông Thái và ngài Jordan không những cùng chia sẻ một di sản tri
thức trong tư duy về đại học và sự cam kết của họ cho những giá trị
của cách tư duy phân tích theo lư tính và tính hiệu quả của phương
pháp khoa học [5], mà c̣n có một thái độ, thoạt nghe như không thật,
khá giống nhau về những nhiệm vụ hàn lâm của cá nhân. Như Louis
Lubot đă từng viết, xét về tính khí và giáo dục ông Thái là một nhà
đạo đức. Ông đă thường nhấn mạnh tác động của các giá trị tân Khổng
giáo, như sự tự vấn và tự tu dưỡng, lên cuộc đời của ông [6].
Tương tự, các giá trị của sự tự vấn và tự tu dưỡng cũng đă được
David Starr Jordan nhấn mạnh liên tục. Ông xem chúng như thuộc về
những mục đích chính của nền giáo dục đại học, dù rằng, trong trường
hợp của ông, những giá trị này hiển nhiên không phải bắt nguồn từ
Khổng học, mà từ tư tưởng thế tục của đạo Tin lành với sự nhấn mạnh
tầm quan trọng về sự độc lập của cá nhân.
Tôi đang nói về những nguồn cội chung đă được chia sẻ, bởi lẽ câu
chuyện Stanford (và v́ vậy cuối cùng dẫn đến sự liên hệ giữa
Stanford và Thung lũng Silicon) không phải là câu chuyện của một đại
học rắp tâm muốn trở thành đầu tàu cho sự thay đổi kinh tế trong một
vùng hay cả nước. Mà là câu chuyện của một đại học, nhất là trong
khoảng thời gian sau Thế chiến thứ 2, đă được xây dựng trên sự cam
kết và sự cam kết được tăng cường cho việc giảng dạy và nghiên cứu
với chất lưọng cao nhất, và sự theo đuổi đổi mới.
Yếu tố thứ nhất của sự "bật mí" liên quan đến mối quan hệ hữu ích
giữa Stanford và Thung lũng Silicon là sự cam kết cơ bản của trường
trong việc xây dựng một "tháp chuông uyên bác của sự trác việt" cho
nghiên cứu, học hỏi và giảng dạy, nhưng không cho việc đào tạo, tự
nó, các kỹ sư hay quản lư kinh doanh.
Sự cam kết này có thể được truy nguyên đến một cội nguồn cùng được
chia sẻ bởi Đại học Bắc kinh và Stanford – đó là Wilhelm von
Hunboldt và các trường đại học của Đức ở thế kỷ 19. Năm 1810,
Humboldt đă viết một bản ghi nhớ có nhan đề "Về tinh thần và cơ
cấu tổ chức của định chế tri thức tại Berlin" đưa đến việc thành
lập trường Đại học Berlin. Bản ghi nhớ chỉ dài mười trang giấy,
nhưng chứa đựng những suy nghĩ thật hàm súc dường như chưa bao giờ
được nói về đại học như là một định chế. Những suy tư này nhất định
không bao giờ mất đi ư nghĩa thích đáng của nó, mặc dù từ đó đến nay
đă có nhiều thay đổi về quan điểm học thuật cũng như những vấn đề mà
đại học đă phải trải nghiệm trong hai thế kỷ qua.
Ngược lại, trước t́nh trạng các trường đại học dường như đang cực kỳ
bối rối về sứ mạng của ḿnh trước khi bước vào thế kỷ 21, thật là
một việc khẩn cấp khiến chúng ta phải nh́n lại nhiệm vụ cốt lơi của
đại học và không bị lệch hướng bởi những người muốn biến đại học trở
thành mọi thứ cho tất cả mọi người. Để tiếp tục, tôi xin phép qúy vị
cho tôi trích dẫn Humboldt về các vấn đề này.
Yếu tố thứ hai của cái bật mí Stanford là mặc dù có vô số những cám
dỗ, trường vẫn duy tŕ một định chế bảo đảm sự kết hợp giữa giảng
dạy và nghiên cứu, những ǵ mà nhà trường vốn xem là chủ yếu. Đó
cũng là lợi thế của trường. Trung thành với những khái niệm của
Humboldt cùng chia sẻ với Đại học Bắc kinh trong giai đoạn thành lập,
Stanford đă triển khai một đặc tính định chế bền vững và bất biến ở
phần cốt lơi.
Humboldt nhận thức rơ rệt quan hệ biện chứng của giữa nghiên cứu và
giảng dạy. Ông tŕnh bày quan hệ này bằng một sự diễn tả thẳng thừng
như sau: Giảng viên đại học không hiện hữu chỉ v́ lợi ích của
sinh viên.
Cả thầy và tṛ đều có những lư do chính đáng trong việc cùng truy
t́m tri thức. Thành tựu của thầy tùy thuộc vào sự hiện diện và quan
tâm của tṛ – không có điều này th́ khoa học và sự uyên bác sẽ không
nẩy mầm. Nếu tṛ không tự nguyện tập hợp nghe bài giảng, th́ người
thầy phải t́m cách để thu hút tṛ trong quá tŕnh truy t́m tri thức.
Mục tiêu của khoa học và sự uyên bác chỉ được phát huy hiệu quả khi
có sự tổng hợp đồng điệu giữa thầy và tṛ. Trí tuệ của người thầy có
phần trưởng thành hơn nhưng cũng có phần phiến diện trong quá tŕnh
phát triển; ngược lại, trí tuệ của tṛ tuy kém khả năng hơn, ít tận
tụy hơn nhưng nó lại mở rộng và nhạy cảm trước mọi khả năng [7].
Dù Humboldt đă bỏ ra nhiều công sức để củng cố việc định chế hóa
giữa nghiên cứu và giảng dạy trong đại học và nối kết hai khía cạnh
này trở thành điều thiết yếu của đại học, nhưng việc nối kết giữa
hai lĩnh vực này không thể thực hiện được ở nhiều đại học trên toàn
thế giới [8]. Trong những đại học khác, hai việc này đă bị chia cách
bởi sự giảm thiểu tài trợ không thương tiếc hay bởi việc di dời bộ
phận nghiên cứu đến các tổ chức không phải là đại học (như trong
trường hợp của Liên Xô cũ). Sự nối kết cũng tan biến khi việc giảng
dạy ở đại học phần lớn được đảm nhận bởi những người không có mối
liên hệ trực tiếp đến nghiên cứu.
Sinh viên không những được hưởng lợi ích khi được giảng dạy bởi các
học giả dấn thân vào niềm đam mê khám phá, mà sự uyên bác học thuật
c̣n được làm giàu thêm khi thế hệ trẻ biết đặt câu hỏi cho nó một
cách có ư thức hay thậm chí một cách thật thà. Điều này đương nhiên
đ̣i hỏi những cuộc thảo luận với sự nhiệt tâm trong các buổi học,
xemina hay pḥng thí nghiệm.
Theo tôi, dường như tại các đại học bị tràn ngập bởi chỉ số lượng
của sinh viên hay bởi cấu trúc tôn ti, hay tại các quốc gia ở đó
việc nghiên cứu bị tách rời toàn bộ hay một phần ra khỏi việc giảng
dạy, các động lực sáng tạo tại đó hầu như trở nên hoang phế. Quan
điểm Humboldt của tôi về vấn đề này xem chừng có phần triệt để hơn.
Việc giảng dạy đại học được đặt trên cơ sở của nghiên cứu đại học –
là điều mà mọi nguời đă biết; quan điểm của tôi c̣n xem việc nghiên
cứu đại học hưởng được lợi ích từ công tác giảng dạy, không những từ
việc giảng dạy nghiên cứu sinh mà c̣n cả các sinh viên năm thứ nhất
nữa.
Phương thức chuyển giao tri thức và công nghệ thành công nhất của
đại học nằm ở việc giáo dục những sinh viên ưu tú, những người tự họ
dấn thân vào sự truy t́m tri thức – để sau này sẽ nắm giữ những vị
trí lănh đạo trong công nghiệp và kinh doanh. Có thể nói những sinh
viên được đào tạo với những trải nghiệm nghiên cứu xuất phát từ nền
tảng đại học chắc chắn sẽ tác động lên nền kinh tế hữu hiệu hơn cả
những phát minh có bằng sáng chế của các nhà khoa học. V́ vậy, thu
hút và tương tác với các sinh viên tài năng bằng phong cách không
tôn ti là yếu tố quyết định của sự thành công.
Về phương diện này, tôi muốn trích dẫn ra đây câu nói của nguyên
Trưởng khoa của Khoa Công nghệ Đại học Stanford, Giáo sư James
Gibbons. Theo ông, những ǵ mà sinh viên học hỏi qua việc tham gia
nghiên cứu trong quá tŕnh giáo dục đại học, chẳng qua chỉ là "cái
năng lực suy nghĩ biết dùng những nguyên tắc cơ bản, và bằng cách đó,
sản xuất ra những thành quả mang tính sáng tạo."
Quả thật, qua việc tham gia tập trung vào công việc nghiên cứu đại
học các nghiên cứu sinh phát triển được phong cách phóng khoáng và
tính hiếu kỳ, điều khiến cho họ sau này có khả năng biến những kiến
thức mới nhất thành những sản phẩm đầy sáng tạo. Những sinh viên
được đào tạo một cách xuất sắc là một cống hiến mang nhiều ư nghĩa
nhất mà nghiên cứu đại học có thể làm được cho việc chuyển giao công
nghệ. Tôi sẽ trở lại đề tài này trong giây lát.
Trong khung cảnh này, khía cạnh quan trọng thứ ba của sự bật mí
Stanford cần phải đề cập đến là: quyền tự do của đại học trong việc
đề ra chương tŕnh hành động. Tự do hàn lâm là điều kiện tuyệt đối,
sine qua non, của đại học.
Cũng như Humboldt đă nhận xét một cách tinh tế: "Nét độc đáo của
những định chế tri thức cao cấp là quan niệm khoa học và sự uyên bác
như là một nhiệm vụ vô cùng tận: điều này có nghĩa các định chế dấn
thân vào một quá tŕnh t́m ṭi không ngừng nghỉ" [9]. Liên quan
đến chính phủ, ông viết: "Nhà nước phải hiểu rằng các công việc
tri thức sẽ diễn ra măi măi tốt đẹp hơn mà không cần sự hiện diện
của nó" [10]. Tuy nhiên, câu nói này rơ ràng không đề cập ǵ đến
tài chính [11].
Tự do hàn lâm có ư nghĩa, trên tất cả, là sự tự do khỏi các ràng
buộc chính trị. Và cũng trong ư nghĩa rằng đó cũng là sự tự do khỏi
ảnh hưởng của chính trị gia, th́ nh́n chung, t́nh huống này ngày hôm
nay đă khá hơn ở thế kỷ 19. Chắn chắn là nhà nước và bộ máy quan
liêu của nó ở bất cứ nơi nào cũng sẵn sàng bóp nghẹt mọi sáng kiến
và xua đuổi những luồng không khí tươi mát thổi vào.
Tự do hàn lâm cũng c̣n mang ư nghĩa là sự tự do khỏi cái áp lực phải
tuân theo của chính bản thân trường đại học. Ngay Humboldt cũng đă
từng nhấn mạnh: "Tự do trí tuệ không những có thể bị đe dọa từ
chính quyền mà c̣n từ chính bản thân các định chế trí tuệ vốn tự tạo
cho nó một quan điểm nhât định vừa lúc h́nh thành, rồi sẵn sàng bóp
nghẹt sự xuất hiện của các quan điểm khác" [12].
Tuy nhiên, cũng hoàn toàn vô lư nếu tự do hàn lâm được giải thích
theo chiều hướng rằng không ai có quyền hoặc bổn phận bắt các giáo
sư phải chịu trách nhiệm về những khiếm khuyết trong công tác giảng
dạy. Thật ra đây là trách nhiệm của chính bản thân trường đại học.
Đại học phải liên tục quan tâm đến việc cải thiện chất lượng của
trường. Đây là một công việc khó khăn, nhiều lúc cũng không phải thú
vị nhưng nó cần đến các nỗ lực của con người, nếu không th́ sự toàn
thiện sẽ không bao giờ có thể đạt tới. Chúng ta nên mở đầu với ư
niệm toàn thiện. Có quá nhiều đại học trên thế giới dường như đă từ
bỏ ư tưởng làm việc để tiến đến sự toàn thiện.
Trong ư nghĩa này, đại học và các chính trị gia phải quan ngại về sự
mất cân bằng tồn tại khắp thế giới giữa năng lực của các đại học
nghiên-cứu-tập-trung và số lượng sinh viên. Chất lượng và qui mô có
một quan hệ phức tạp. Chắc chắn là việc đem quan điểm về giáo dục
như là một h́nh thức tự học cũng như một h́nh thức thông hiểu đến
đại đa số quần chúng trở nên càng lúc càng cấp bách. Đối với một
người của hành động, năng lực tiếp tục đeo đuổi học tập quan trọng
hơn việc tích lũy các dữ kiện chỉ để cho việc tham khảo tương lai.
Duy chỉ có một vấn đề, đại học không phải lúc nào cũng là một định
chế hữu hiệu nhất để hoàn thành tất cả mọi thứ này.
Cuối cùng, xă hội sẽ bị thiệt hại bởi khi một đại học
nghiên-cứu-tập-trung có quá nhiều sinh viên, việc đầu tư vào cái mà
các nhà kinh tế gọi là vốn con người rất khó có thể được xem là tối
ưu. Gánh nặng số lượng thường làm giảm đi khả năng đại học nâng đỡ
các sinh viên ưu tú và như vậy cản trở việc đ̣i hỏi khả năng cao
nhất từ họ.
Đồng thời, đại học xao lăng việc đào tạo những người kém năng khiếu
hơn v́ đại học không được chuẩn bị ǵ cho việc này, hay không muốn
chuẩn bị nó. Như thế, môi trường văn hóa của sự trác tuyệt không thể
xuất hiện một khi đại học bị quá tải.
Humboldt cũng chủ trương rằng đại học cần phải có một không gian
tĩnh mịch (solitude). Edward Shils, nhà xă hội học vĩ đại của giáo
dục đại học, định nghĩa "sự tĩnh mịch" mà Humboldt đă đề xướng là
"sự tự do khỏi sự lôi kéo" (freedom from distraction) [13].
Trong thế giới hiện đại, giáo sư, sinh viên và cả trường đại học
thường xuyên bị lôi kéo, tự để ḿnh bị lôi kéo, và thậm chí c̣n đi
t́m những cái lôi kéo.
Cám dỗ là vô cùng tận. Đại học và những người cộng tác được kỳ vọng
thực hiện việc nghiên cứu, giáo dục, hướng dẫn, đóng góp cho xă hội,
cống hiến chuyên môn cho doanh nghiệp, tăng tốc sự sáng tạo, trở
thành đầu máy của kinh tế, tham gia vào việc cải thiện những điều
kiện xă hội dân sinh, đóng góp vào một cuộc sống chất lượng cao hơn
và t́m kiếm nguồn tài trợ từ bên ngoài cho nghiên cứu. Không có ǵ
phải ngạc nhiên, rằng đại học đang trở thành một định chế đáng nghi
vấn cao độ.
T́nh trạng hiện nay không phải chỉ là hệ quả của những yêu sách bên
ngoài được áp đặt lên trên đại học. Mà thực ra, thường là những
trường hợp đại học bị lôi kéo bởi cám dỗ để rồi đầu hàng nó. Đối với
nhiều giáo sư, với trường đại học và thỉnh thoảng với cả sinh viên,
nhượng bộ trước cám dỗ sẽ đem lại tên tuổi hay lợi lộc, hoặc cả hai.
Điều này thật dễ hiểu. Thí dụ, nếu số phận của một nước – và đứng
trước sự toàn cầu hóa ta có thể nói là số phận của bất kỳ nước nào –
tùy thuộc vào sự phán xét chuyên môn được thù lao hậu hĩnh của một
giáo sư, th́ giờ tiếp sinh viên của ông tại văn pḥng sẽ chấm dứt,
và đấy là cái giá mà chúng ta phải chuẩn bị để trả.
Nếu chúng ta không đặt ra giới hạn cho việc này, thậm chí c̣n mong
chờ nó, th́ chúng ta cũng đừng phàn nàn rằng đại học đang mất đi
những đặc tính định chế hay rằng nó xao lăng những nhiệm vụ chủ yếu.
Những "cám dỗ" là một hiện tượng toàn cầu.
Lĩnh vực chuyển giao công nghệ là một trong những nguồn (thu nhập)
chủ yếu (của đại học). Hiện có một nhu cầu mang tính toàn cầu là sự
nối kết chặt chẽ hơn và sự hợp tác đối tác to lớn hơn giữa đại học
và công nghiệp. Như tôi đă đề cập ngay từ đầu, Đại học Stanford và
Thung lũng Silicon được xem là mô h́nh cho những sự hợp tác này.
Không có ǵ phải tranh căi khi nói đến sự phát triển miền Bắc
California là nhờ rất nhiều vào sự hiện diện của các trường đại học,
kể cả trường Đại học California vĩ đại, và thiện chí hợp tác của các
trường với giới công nghiệp. Thí dụ như việc quen biết giữa Đại học
Stanford và doanh nghiệp vào những năm 1950 đă được thực hiện dễ
dàng hơn nhờ việc thành lập Công viên Nghiên cứu Stanford nằm cạnh
khuôn viên của trường. Chúng tôi đă làm việc tích cực để đăng kư
cũng như cho thuê các phát minh. Chỉ riêng những công ty công nghệ
cao tại Thung lũng Silicon cũng đă có doanh thu 85 tỉ đô la trong
năm 1995, và theo một ước lượng th́ 62% doanh thu này có nguồn gốc
từ các công ty mà các nhà sáng lập có mối liên hệ với Stanford.
Chúng đă tạo ra hàng trăm ngàn công ăn việc làm cho người dân [14].
Ở đây tôi chưa nói đến các doanh nghiệp trên toàn nước Mỹ hay toàn
thế giới nơi mà những người tốt nghiệp tại Stanford hay tại các đại
học nghiên-cứu-tập-trung khác đă và đang đóng góp.
Với các đơn vị như Trung tâm-hệ-thống-tích-hợp Stanford, chúng tôi
đă tạo ra sự hợp tác chớp nhoáng giữa đại học và công nghiệp. Tuy
nhiên, việc hợp tác theo thể loại này đ̣i hỏi việc đầu tư tương đối
lớn về tiền bạc lẫn thời gian. Trung tâm-hệ-thống-tích-hợp là cơ sở
thuộc về đại học Stanford và sở hữu hệ thống các ṭa nhà trong khuôn
viên đại học, có nhiệm vụ tích hợp lại phần cứng và phần mềm. Trung
tâm có 40 giáo sư 200 sinh viên (phần lớn nghiên cứu sinh Tiến sĩ)
và có khoảng 10 lĩnh vực hàn lâm và cả 15 công ty thuộc ngành công
nghiệp điện tử thế giới có mặt tại đây. Những ưu tiên nghiên cứu của
Trung tâm đuợc triển khai từ những buổi họp giữa các nhà nghiên cứu
của đại học và công nghiệp: các nhà nghiên cứu của công nghiệp thu
thập được những hiểu biết chuyên sâu trong thời gian làm việc tại
Trung tâm, và ngược lại các nghiên cứu sinh Tiến sĩ hoàn tất quá
tŕnh thực tập tại các công ty đối tác.
Loại hợp tác đối tác này không phải là cái "cám dỗ" nhưng là sự
phong phú hóa, bởi lẽ đại học có cơ hội học hỏi từ các đối tác công
nghiệp – và do đó nó tạo thành yếu tố căn bản thứ tư của sự bật mí
Stanford. Những cuộc tiếp xúc như thế đă củng cố tinh thần doanh
thương và sự hiểu biết sâu rằng công việc chuyển giao công nghệ là
một bộ môn "thể thao tiếp xúc thân thể", có nghĩa là, nó biểu hiện
thiện chí tương tác cá nhân. Sự trao đổi không mang tính tôn ti là
một bộ phận rất tiêu biểu của văn hóa Stanford.
Trong một bài thẩm định thú vị về Thung lũng Silicon, Annalee
Saxenian, giáo sư trường Đại học California tại Berkeley, đă có một
nhận xét tổng quát về điểm này. Tôi xin được trích dẫn như sau:
Thung lũng Silicon có một hệ thống mạng lưới công nghiệp vùng
khuếch trương việc học hỏi tập thể và sự điều chỉnh linh hoạt giữa
các các nhà sản xuất chuyên nghiệp của một liên hợp của những ngành
công nghệ liên đới. Những mạng lưới xă hội dày đặc trong vùng và các
thị trường lao động mở kích thích việc thử nghiệm và tinh thần doanh
nghiệp. Các công ty cạnh tranh gay gắt nhưng đồng thời lại học hỏi
lẫn nhau về các thị trường và công nghệ hay biến động qua những cuộc
trao đổi không chính thức và những sự cộng tác chung. Ngoài ra, cấu
trúc liên kết lỏng lẻo của các tổ làm việc khuyến khích sự trao đổi
hàng ngang giữa các đơn vị trong công ty, hoặc với các công ty cung
cấp bên ngoài hay khách hàng. Lằn ranh hoạt động trong một công ty
như những bức tường mỏng xốp dễ giao lưu của một hệ thống mạng, cũng
giống như các lằn ranh giữa các công ty và tổ chức địa phương như
hiệp hội thương mại hay đại học [15].
Tuy vậy, ta cũng phải cảnh giác trước những kỳ vọng đơn giản hóa.
Trong khi những lằn ranh trong thế giới thương mại phải là những bức
tường mỏng xốp, th́ lợi điểm của một đại học nghiên-cứu-tập-trung
trong việc bồi dưỡng sự sáng tạo nằm trong cái khả năng tạo ra một
chương tŕnh hành động và lúc nào cũng cởi mở trước những cơ hội và
cơ may khám phá trong nghiên cứu.
Stanford liên tục cầu tiến để duy tŕ sự cởi mở này, và tôi tin các
thành quả của việc này chính là yếu tố thứ năm của sự bật mí
Stanford. Nếu một đại học nghiên-cứu-tập-trung phải lệ thuộc vào các
mệnh lệnh của sự triển khai các thương phẩm hay vào chính sách công
nghiệp của nhà nước, th́ nó sẽ đánh mất lợi thế đă giành được từ sự
cam kết cho quá tŕnh khảo cứu bất tận và truy t́m tri thức (the
search to know). Chúng ta cũng nên ghi nhớ rằng sự hỗ trợ từ công
nghiệp có một tầm quan trọng to lớn, nhưng, khi tính các phí tổn
liên quan, th́ nó không thể nào thay thế nguồn tài trợ nghiên cứu
của chính phủ. Nghiên cứu cơ bản là một lợi ích công mà giới doanh
thương, do định hướng lợi nhuận của nó, chỉ có thể đóng góp một số
lượng ít ỏi với phương tiện riêng của ḿnh. Đây là một điều hiển
nhiên nhưng tiếc rằng chính phủ thường xuyên lăng quên, nhất là vào
các thời kỳ khủng hoảng tài chính. Stanford sẽ không có vị thế như
hôm nay nếu không có những tài trợ của chính phủ từ thời kỳ Thế
chiến thứ hai đến nay.
Ở thời điểm khởi đầu của thế kỷ 21, để có thể đóng góp vào phúc lợi
xă hội, đại học nghiên-cứu-tập-trung vẫn cần phải cố gắng tái tạo
h́nh ảnh gần cái mô h́nh lư tưởng được định nghĩa vào những năm đầu
của thế kỷ 19. Tuy nhiên, đại học như là một định chế đang bị ảnh
hưởng sâu đậm bởi nền công nghệ tin học. Nền công nghệ này đang định
lại vai tṛ của đại học và mối liên hệ giữa đại học và xă hội vượt
qua những ǵ mà Humboldt và những nhà sáng lập Đại học Standfod và
Bắc kinh có thể tưởng tượng.
Công nghệ tin học đang tiến triển quá nhanh đến nỗi tôi không thể
xem sự tinh thông trong lănh vực này như là một trong những yếu tố
bật mí của Stanford. Tuy vậy, tôi có thể nói rằng khả năng của chúng
tôi giải quyết thành công những vấn đề nổi cộm được đặt ra sẽ là yếu
tố quan trọng cho tưong lai của trường, tương đương như bất cứ một
trong năm yếu tố bật mí cho sự phát triển mà tôi đă tŕnh bày ngày
hôm nay.
Tôi muốn tập trung đặc biệt vào bốn lĩnh vực. Thứ nhất,
Mạng-lưới-toàn-cầu (World Wide Web) là một nguồn thông tin bách khoa,
một thư viện và cũng là kho lưu trữ. Ngày nay, ngân hàng dữ liệu với
những thông tin khoa học, nhân khẩu, kinh tế và chính trị có thể
tiếp cận được khắp nơi trên thế giới, kể cả những quyết định luật
pháp cũng như cả báo chí. Các nhà nghiên cứu có thể t́m bản liệt kê
mục lục thư tịch của nhiều thư viện đại học mà không cần phải thực
hiện cuộc hành tŕnh đi đến thư viện đó. Toàn bộ nguyên bản của văn
học thế giới có thể sử dụng được trực tuyến càng lúc càng nhiều,
cũng như các tạp chí học thuật và những bài báo cáo chuyên ngành.
Toàn thể kho lưu trữ cũng được tạo ra khắp thế giới: tư liệu chính
phủ có thể t́m thấy trọn vẹn, h́nh ảnh có thể tái tạo, phim hoặc tài
liệu ghi âm có thể được tải xuống. V́ các cơ sở dữ liệu này có thể
t́m được trên mạng với những chi tiết đặc trưng cao độ, và cũng v́
những nối kết với những mạng và tài liệu quan trọng đều dễ t́m, nó
đă mang lại nhiều khả năng nghiên cứu mà cách đây không lâu ta chỉ
nh́n thấy trong mơ. Mạng-lưới quả thật tuyệt vời, vô hạn, mạnh mẽ và
rộng mở.
Nh́n từ quan điểm của đại học, cái quan trọng là Mạng-lưới-toàn-cầu,
đuợc sử dụng như một nguồn thông tin, một thư viện và kho lưu trữ,
không cần đến một địa điểm cụ thể trong đại học, cho nên chức năng
của đại học như là một người xếp đặt các kiến thức và thông tin hầu
như phải chấm dứt sứ mệnh của nó.
Thứ hai, lĩnh vực giảng dạy gần đây đang chuyển ḿnh theo những thay
đổi gây ra bởi những phương pháp và các phương thức truyền thông mới.
Trong một tương lai gần, "bài giảng" trên bục sẽ được thay thế bằng
lối "tŕnh bày" tương tác trong một "giảng đường" ảo được thực hiện
tại lớp học hay một địa điểm khác.
Khía cạnh thứ ba là quan trọng nhất. Nó vừa giải phóng và cùng lúc
đe dọa sự tồn tại của đại học nghiên-cứu-tập-trung. V́ những hạn chế
về thời gian và không gian không c̣n là chướng ngại, những ǵ gắn
liền với việc giảng dạy đại học bởi những hạn chế này cũng biến mất.
Giảng dạy trực tuyến đang bắt đầu trở thành hiện thực chứ không c̣n
phải là những ức đoán nữa. Thí dụ như tại Stanford, chúng tôi giảng
dạy toán cao cấp cho các học sinh trung học năng khiếu trên toàn thế
giới học tại các trường không cung cấp bộ môn này.
Số lượng tài liệu giảng dạy trên
Mạng-lưới-toàn-cầu tiếp tục gia tăng. Mỗi sinh viên sống tại bất kỳ
quốc gia nào, nếu họ có thể trả học phí th́ có thể được nhận vào học
tại đại học với lối "giảng dạy ảo" (cyber instruction).
Sự cạnh tranh quốc tế sẽ dẫn đến một
cơn hồng thủy mà sự độc quyền thẩm định, trắc nghiệm và cấp bằng
không thể nào bị ngăn chặn nổi. Đặt trong một bối cảnh về
những ǵ tôi đă nói ở phần trên về tầm quan trọng của việc nối kết
giữa nghiên cứu và giảng dạy, chúng ta phải rất thận trọng trước khi
chúng ta chấp nhận diễn biến này có giá trị tương đương với một đại
học với trường sở hẳn hoi hay không.
Cuối cùng, khía cạnh thứ tư là các nối kết điện tử giữa học giả và
sinh viên trên toàn thế giới đă cho phép sự truyền đạt tức thời
những giả thuyết trong nghiên cứu cũng như kiểm sai (falsification)
và bác bỏ tức khắc, hay xemina được thực hiện ở nhiều địa điểm khác
nhau. Như vậy, những bức tường của tất cả đại học càng lúc càng trở
nên mỏng xốp. Tôi hoan nghênh sự phát triển này v́ nó đang bắt đầu
hiện thức hóa cái giấc mơ cổ đại: nền "cộng hoà kiến thức" (“nền
cộng ḥa uyên bác”) toàn thế giới và một cộng đồng học giả toàn cầu.
Khi tất cả mọi việc đă được bàn luận và thực hiện, sự đo lường cuối
cùng của đại học vẫn là sự cống hiến của những thành quả nghiên cứu
vào phúc lợi con người. Trên phương diên này, đại học của thế kỷ 21
cần phải được cân đo bằng những mẫu mực truyền thống.
Năm 1954, cựu tổng thống Hoa Kỳ Herbert Hoover, một cựu sinh viên
Stanford, bằng những lời lẽ hùng hồn đă khơi dậy những đặc điểm của
đại học và những ǵ chúng có thể đóng góp. Dịp phát biểu đó là lúc
ông được truy tặng học vị danh dự của trường Đại học Tübingen (Đức),
được thành lập năm 1477. Ông nói:
Bằng sự giao lưu tự do của những ư tưởng giữa các đại học, chúng
ta dệt được những tấm thảm vĩ đại của tri thức. Truyền thống học
thuật của chúng ta đă phát triển đuợc một hệ thống đặc biệt hữu hiệu
trong việc phát hiện những tài năng đặc biệt và cho họ hoạt động
trong một môi trường nuôi dưỡng tư duy độc đáo và sáng tạo. Phần lớn
những khám phá vĩ đại t́m ra định luật tự nhiên là thành quả chung
của nhiều phân khoa và pḥng thí nghiệm đă cùng tạo nên môi trường
thích hợp dành cho việc nghiên cứu khoa học trừu tượng. Những ứng
dụng của các khám phá này được thấy qua phát minh và sản xuất là
công lao của kỹ sư và kỹ thuật gia mà chúng ta đă đào tạo. Khoa học
ứng dụng sẽ nhanh chóng cạn kiệt nếu chúng ta không duy tŕ được
những nguồn khám phá của khoa học thuần túy. Từ những hoạt động song
đôi của các nhà khoa học và kỹ thuật gia, một ḍng suối phúc lành vĩ
đại của sức khỏe, tiện nghi và của cuộc sống tốt và thoải mái đang
chảy đến tất cả dân tộc [16].
Hôm nay, tôi muốn nhấn mạnh để giải thích tại sao Stanford, một phần
của ḍng chảy vĩ đại đó, không một chút ǵ bí ẩn nhưng lại rất nhiều
gắn bó với những đặc tính và mục tiêu căn bản của một trường đại học
nghiên-cứu-tập-trung. Cam kết xây dựng "tháp chuông trác việt" trong
nghiên cứu, học hỏi và giảng dạy; đề cao sự kết hợp giữa giảng dạy
và nghiên cứu như chúng ta đang làm mặc cho vô vàn cám dỗ; có tự do
trong việc sắp đặt chương tŕnh hành động; t́m đối tác công nghiệp
không phải như sự phân tâm mà để làm phong phú cho quá tŕnh nghiên
cứu; duy tŕ những lằn ranh thông thoáng để giao lưu; và biết mở
rộng ḷng trước những cơ hội và cơ may trong nghiên cứu – đó là
những bí quyết của Stanford.
Nguồn của chúng chính là ḍng suối chung mà từ đó Đại học Stanford
và Đại học Bắc đă cùng h́nh thành, và cũng từ đó bao phúc lành vẫn
tiếp tục tràn ngập đến hai đất nước của chúng ta và cả toàn thể nhân
loại, trong thế kỷ 21.
Xin cám ơn qúy vị.
Trương Văn Tân - Nguyễn Xuân Xanh
chuyển
ngữ
(Trích
từ "Kỷ yếu đại học Humboldt 200 năm – Kinh nghiệm Thế giới & Việt
Nam")
Tài liệu tham khảo
1. Ruth Hayhoe, China's Universities and Western Academic Models,
in Philip G. Altbach and Viswanathan Selvaratnam (eds.), From
Dependence to Autonomy: The Development of Asian Universities,
Kluwer Academic Publishers (1989), 37.
2. Charles F. Thwing, The Imperial University of Peking, The
Independent 69 (September 1910), 573.
3. Eugene Lubot, Peking University Fifty-Five Years Ago:
Perspectives on Higher Education in China Today, Comparative
Education Review 17 (vol. 1), 48-49.
4. Ruth Hayhoe, China's Universities 1895-1995: A Century of
Cultural Conflict, Garland Publishing, Inc. (1996), 45.
5. As to Cai, see Lubot, 46.
6. Lubot, 45.
7. Wilhelm von Humboldt, On the Spirit and the Organisational
Framework of Intellectual Institutions in Berlin, Minerva
VIII: 2 (April 1970), 243f.
8. See Edward Shils, The Idea of the University: Obstacles and
Opportunities in Contemporary Societies, Minerva XXX: 2
(Summer 1992), 301.
9. Humboldt, 243.
10. op cit., 244.
11. ibid.
12. op cit., 246, with some changes for clarity.
13. Shils, 309.
14. Joan Hamilton, Circuits of Knowledge, Stanford (May/June
1996), 48.
15. Annalee Saxenian, Regional Advantage: Culture and Competition
in Silicon Valley and Route 128, Harvard University Press (1996),
2-3.
16.
Herbert Hoover, Addresses Upon The American Road 1950-1955, Stanford
University Press (1955), 95. |