|

Tri
thức và thực tiễn trong nghiên cứu khoa học
Trương Văn Tân
"Sự
quan tâm về con người và số phận của con người lúc nào cũng phải
là
một mục tiêu trong tất cả mọi nỗ lực của khoa học kỹ thuật."
Albert Einstein
Nghiên cứu cơ bản và
nghiên cứu ứng dụng
Trong nghiên cứu khoa học thường có hai khuynh hướng, "nghiên cứu cơ
bản" và "nghiên cứu ứng dụng". Từ lâu đây là một đề tài thường xuyên
tranh căi trong cộng đồng nghiên cứu khoa học và cũng là một đối
tượng được phân tích, khảo sát kỹ lưỡng bởi các nhà lập pháp và các
cơ quan chính phủ để đưa ra một chính sách hợp lư trong việc phát
triển khoa học công nghệ và cung cấp kinh phí nghiên cứu.
Định nghĩa giữa hai trường phái này th́ rất mông lung, đường ranh
cũng không rơ ràng. Hiểu theo cách của tôi th́ "nghiên cứu cơ bản"
mang tính cách hiếu kỳ hàn lâm không hướng đến một ứng dụng thực
tiễn nào, trong khi "nghiên cứu ứng dụng" ngay từ đầu đă có một mục
đích cụ thể. "Nghiên cứu cơ bản" là một nghiên cứu về đề tài thuần
lư, và thành quả của nó có thể là những ứng dụng có ảnh hưởng trực
tiếp hay gián tiếp vào sinh hoạt con người vài chục năm hoặc vài
trăm năm sau. Thuyết lượng tử là một thí dụ. Là một lư thuyết thành
h́nh và phát triển ở đầu thế kỷ 20, một sân chơi của các nhà toán
học và vật lư lư thuyết, diễn tả những đặc tính thế giới vi mô cuả
vật chất cực nhỏ như nguyên tử, phân tử, cơ học lượng tử cơ hồ như
không dính líu vào cuộc sống đời thường. Nhưng bây giờ nó đă trở
thành một cột trụ trong việc phát triển những linh kiện, dụng cụ và
hệ thống điện tử, quang điện tử, thậm chí trong một tương lai rất
gần, vi tính lượng tử, không thể thiếu trong cuộc sống của một xă
hội văn minh.
Lịch sử khoa học đă cho thấy một số thành quả của nghiên cứu cơ bản
không sớm th́ muộn sẽ có một tác động cụ thể vào sinh hoạt con người.
Tuy nhiên, đây là những việc mang tính ngẫu nhiên theo bước đưa đẩy
của nhu cầu xă hội loài người được phát triển theo ḍng chảy của
thời gian bởi tính sáng tạo, thích ứng của các nhà khoa học. Ngày
hôm nay, trong cơn lốc của những khám phá khoa học vĩ đại, con người
không thể chờ đợi vài trăm năm hay chục năm dựa vào sự đưa đẩy ngẫu
nhiên mà cần có một cơ chế quản lư năng động sao cho trong một thời
gian ngắn nhất ta có thể đem các phát minh khoa học từ pḥng nghiên
cứu biến thành vật chất, dụng cụ hữu ích cho xă hội đời thường.
Tại Nhật Bản nơi mà tôi đă từng học tập và nghiên cứu, trong những
thập niên 70 và kéo dài đến thập niên 90, các nghiên cứu tại đại học
phần lớn có mục đích đi t́m chân lư khoa học và xa rời thực tế. Nói
đúng hơn là để thỏa măn nhu cầu "sản xuất" những bài viết trên các
tạp chí chuyên ngành. Giáo sư Nhật không thật sự quan tâm đến những
ứng dụng thực tiễn. Các nghiên cứu ứng dụng để tạo ra sản phẩm
thường được triển khai tại các cơ quan nghiên cứu của doanh nghiệp
tư nhân và rất hiếm có sự cộng tác nghiên cứu giữa đại học và doanh
nghiệp. Nhưng điều này không có ǵ ngạc nhiên khi một trong những
mục tiêu cuả đại học là "nâng cao tri thức và sáng tạo tri thức mới".
Dưới danh nghĩa này, các nhà nghiên cứu và giáo sư đại học có nhiều
tự do trong việc nghiên cứu cơ bản như giải một định đề toán học,
tiên đoán sự hiện hữu của một vi hạt, khám phá ra một thiên hà mới,
bản chất của lỗ đen vũ trụ, tổng hợp một hợp chất hóa học có cấu
trúc tuyệt đẹp v.v..., với một cứu cánh là phổ biến những khám phá
của ḿnh trên các tạp chí chuyên ngành được phân hạng cao thấp bằng
các loại "chỉ số ảnh hưởng" (impact factor) [1].
Trong các cơ quan
nghiên cứu chính phủ hoặc tư nhân, các nhà khoa học cũng có một
khoảng không gian tự do để thực hiện nghiên cứu cơ bản có định
hướng theo chức năng của cơ quan đó (thí dụ: quốc pḥng, công
nghiệp, năng lượng, nông nghiệp, y học). Kinh phí cho việc này co
giăn từ 5 đến 20 % tổng kinh phí, tùy theo ngân sách giàu nghèo hằng
năm và thời thế chính trị. Các loại nghiên cứu này có biệt hiệu là "nghiên
cứu trời xanh" (blue-sky research) hay "nghiên cứu tầm xa"
(long-range research), hàm ư chưa mang đến một lợi ích thiết thực
nhưng cần thiết cho sự phát triển tương lai các chức năng của cơ
quan. Nhưng nghiên cứu cơ bản có định hướng không phải là cái
thùng rỗng đáy kéo dài măi măi. Nếu không có kết quả, kinh phí sẽ bị
cắt đứt trong ṿng vài năm. Nếu có kết quả tốt đẹp, đề án sẽ được
triển khai cho đến giai đoạn chế tạo ra sản phẩm.
Sự thành bại của các ứng dụng đưa đến sản phẩm tùy thuộc vào sự am
tường, bén nhạy, cập nhật và biết chọn lọc của các nghiên cứu viên
đối với kho tàng các thành tựu của nghiên cứu cơ bản. Sự giao lưu và
hợp tác đôi bên đều có lợi với các đại học là chiến lược hàng đầu
của những cơ quan này. Qua sự hợp tác, đại học là nơi phần lớn các
nghiên cứu cơ bản được thực hiện sẽ có một hướng đi thực tiễn. Đồng
thời, cơ quan nghiên cứu chính phủ và doanh nghiệp sẽ là nơi tiếp
tục phát huy thành quả hàn lâm của đại học, tránh được trường hợp
những thành quả này rơi vào thung lũng chết (valley of death).
Chính phủ Úc có rất nhiều sáng kiến trong việc nối kết nghiên cứu cơ
bản và nghiên cứu ứng dụng. Kể từ thập niên 90 của thế kỷ trước, Hội
đồng Nghiên cứu Úc (Australian Research Council, ARC), cơ quan cung
cấp kinh phí nghiên cứu khoa học, tạo ra hạng mục "Các ưu tiên
nghiên cứu cho quốc gia" (National research priorities) và "Lợi ích
quốc gia" (National benefits) đ̣i hỏi các ứng viên cần minh định
trong những đề án nghiên cứu xin kinh phí của ḿnh phải phù hợp với những
tiêu chí về việc nâng cao kinh tế làm giàu đất nước, an ninh quốc
pḥng kể cả việc bảo vệ lănh thổ và chống khủng bố. Hằng năm, ARC có
một ngân sách hơn 700 triệu đô-la cho các công tŕnh nghiên cứu và
chính phủ Úc muốn cho người dân thấy rằng đây là những công tŕnh
hữu ích không phí phạm tiền thuế nhân dân.
Trên một quy mô lớn hơn, để tạo một môi trường nghiên cứu mang lại
kết quả thiết thực cho người dân và đất nước, từ năm 1991 dựa trên ư
tưởng của thủ tướng Bob Hawke và các cố vấn của ông, chính phủ Úc
cung cấp kinh phí thiết lập ra những Trung tâm Hợp tác Nghiên cứu
(Cooperative Research Centre) tập hợp các đại học, cơ quan nghiên
cứu chính phủ và doanh nghiệp tư nhân vừa thực thi công tác giáo dục
đào tạo Thạc sĩ, Tiến sĩ, vừa tiến hành các mục tiêu nghiên cứu đi
từ cơ bản đến ứng dụng và cuối cùng phải đưa đến lợi ích thực tiễn (sản
phẩm, phương pháp) trong ṿng 7 năm. Các ứng viên là tập thể giáo sư, khoa
học gia của các công ty, cơ quan nghiên cứu, cùng đệ tŕnh lên ARC
đề án thành lập trung tâm với những mục tiêu rơ rệt. Đề án sẽ được
gởi đến các chuyên gia phản biện và thẩm định. Các ứng viên phải qua
một cuộc phỏng vấn nghiêm túc và gắt gao. Quyết định cung cấp kinh
phí lập trung tâm sẽ dựa vào ư kiến của chuyên gia và kết quả phỏng
vấn. Hiện nay, có 49 Trung tâm đang hoạt động với các công tŕnh to
lớn về môi trường, nông nghiệp, khoáng sản, vật liệu học, tin học,
viễn thông, khoa học và công nghệ y học. Với một mô h́nh tương tự,
gần đây chính phủ Úc thiết lập những Trung tâm Ưu việt (Centre of
Excellence) cung cấp kinh phí từ 5 đến 10 năm cho việc nghiên cứu và
triển khai chuyên sâu những bộ môn mũi nhọn (công nghệ nano, công
nghệ sinh học, vật liệu và cấu trúc thông minh, tin học lượng tử) đào
tạo nhân tài và sản phẩm hóa những phát minh.
Từ những chương tŕnh này, chính phủ Úc bắn một mũi tên trúng nhiều
đích, thật sự đầu tư vào giáo dục sau đại học, đồng thời nghiên cứu
và triển khai thương phẩm, xóa nḥa lằn ranh giữa nghiên cứu cơ bản
và nghiên cứu ứng dụng. Chính phủ đă dùng tiền thuế của dân một cách
hiệu quả để đầu tư và tạo dựng một chính sách nghiên cứu khoa học
mang lại sự giàu có cho đất nước và sự tiện ích của người dân.
Cũng nên nói thêm, tại Úc có ba cơ quan nghiên cứu quốc gia chính là
Commonwealth Scientific and Industrial Research Organisation (CSIRO)
với 6.000 khoa học gia, Defence Science and Technology Organisation
(DSTO) với 2.500 khoa học gia và Australian Nuclear Science and
Technology Organisation (ANSTO) với 1.000 khoa học gia. Đây là ba cơ
quan nghiên cứu to nhất nước với chức năng chính là biến những thành
quả của nghiên cứu cơ bản thành các ứng dụng trong công nghiệp, nông
nghiệp (CSIRO), quốc pḥng (DSTO) và công nghiệp y học hạch nhân (ANSTO).
Các bài báo cáo khoa
học
Một người nào đó đă nói, "Có hai nguồn tri thức: một là do ḿnh
tạo ra, hai là tận dụng tri thức của người khác biến thành của ḿnh".
V́ vậy, trong một bất cứ công tŕnh nghiên cứu nào, viết bài báo cáo
trở thành một thông lệ bắt buộc dù là công bố quốc tế hay công bố
quốc nội, tiếng mẹ đẻ hay tiếng Anh. Bài báo cáo khoa học với một
nội dung nói về quá tŕnh nghiên cứu thí nghiệm, mang nhiều ư nghĩa.
Trước hết đây là một thành tích cá nhân. Đối với cơ quan cung cấp
kinh phí nghiên cứu, bài báo cáo là một bằng cớ chứng tỏ người nhận
kinh phí đạt được kết quả của những điều đă dự kiến hay đă hứa trong
đề án xin kinh phí. Đối với cộng đồng nghiên cứu khoa học, đây là
việc phổ biến tri thức cần thiết mà các đồng nghiệp có thể tham khảo,
so sánh, triển khai, dẫn chứng và kiểm chứng.
Mọi nước trên thế giới cần phải có những chính sách cụ thể phát
triển khoa học và công nghệ tùy theo hoàn cảnh khách quan của ḿnh.
Tuy nhiên, việc truyền đạt và thực dụng hóa tri thức là một mẫu số
chung không phân biệt sự giàu nghèo của một quốc gia. Việc công bố
thành tựu của một công tŕnh là bước đầu trong việc truyền đạt và
thực dụng hóa tri thức. Nó có thể ở dạng một bài báo cáo trong một
tạp chí hàn lâm, tài liệu báo cáo nội bộ, tài liệu mật mang tính
chất thương măi hay quốc pḥng. Dù trong ở dạng nào các bài báo cáo
cần qua một quá tŕnh thẩm định của chuyên gia đồng nghiệp (peer
review). Trong những công tŕnh nghiên cứu ứng dụng, những kết quả
mang tính đột phá, sáng tạo thường đưa đến việc công bố ở dạng "đăng
kư phát minh" (patent). Quá tŕnh thẩm định để chấp nhận đây là một
"phát minh" phải qua nhiều giai đoạn phức tạp liên quan đến luật
pháp, cần nhiều thời gian và phí tổn.
Trong cộng đồng nghiên cứu khoa học người ta thường nghe câu,
"Publish or perish". Một lối chơi chữ trong tiếng Anh;
"publish" và "perish" có phát âm hơi giống nhau. Ư muốn
nói nếu không có "công bố" th́ sẽ "tiêu đời nhà ma". Dù là một câu
nói có sự bông đùa nhưng phản ánh một phần sự thật. Những người
nghiên cứu nhất là các giáo sư đại học đă bỏ phần lớn th́ giờ viết
đề án xin kinh phí để có tiền "nuôi" nhiều nghiên cứu sinh, mua
thiết bị và cuối cùng để sản xuất các bài báo cáo đăng trên các tạp
chí với "chỉ số ảnh hưởng" càng cao càng tốt. Số lượng các bài báo
cáo lại được dùng như một thành tích để tiếp tục xin kinh phí cho
các đề án khác, tạo thành một ṿng luân chuyển trong suốt cuộc đời
nghiên cứu của một số nhà khoa học. Cứ như thế con đường hoạn lộ
càng mở rộng, tăm tiếng càng bay xa.
V́ sức ép kinh phí cộng với một chút "sân si", những người này quay
cuồng trong cái ṿng lẩn quẩn, thậm chí trở thành nô lệ với số lượng
bài báo. Việc này đưa đến những tệ nạn như dùng một kết quả để "biến
hóa" ra nhiều phiên bản khác nhau tăng thêm số lượng bài viết.
Trường hợp tệ hại hơn là "đạo văn" kết quả của đồng nghiệp hay ngụy
tạo kết quả. Những điều tối kỵ trong khoa học nhưng vẫn xảy ra. Hai
trường hợp ngụy tạo nổi tiếng xảy ra gần đây làm chấn động cộng đồng
nghiên cứu khoa học là trường hợp của giáo sư Woo Suk Hwang và tiến
sĩ Jan Hendrik Schön [2]. Các hội đồng thẩm định đề án nghiên cứu và
cung cấp kinh phí chú trọng chất lượng hơn số lượng, đă từ lâu phá
bỏ cái ṿng ác nghiệt này bằng cách yêu cầu các ứng viên cung cấp
những bài báo tiêu biểu trong cuộc đời nghiên cứu của ḿnh.
Trường hợp của Hàn
Quốc và Trung Quốc
Hàn Quốc có những chính sách khoa học kỹ thuật mang tầm nh́n chiến
lược và đă hội nhập vào cộng đồng nghiên cứu quốc tế như là một
thành viên trẻ và rất năng động. Những thành công này là kết quả của
chính sách khoa học kỹ thuật được tổng thống Park Chung-hee, một nhà
độc tài quân sự, đặt nền tảng từ thập niên 70 của thế kỷ trước và
được các đời tổng thống sau tiếp tục phát huy. Song song với việc
phát triển các loại công nghệ nặng, đóng tàu, xe hơi, điện tử, hóa
chất, các công tŕnh nghiên cứu khoa học cơ bản lẫn ứng dụng rất ấn
tượng với các tác giả mang họ Kim, Choi, Ahn, Lee... dồn dập xuất
hiện trên các tạp chí chuyên ngành nổi tiếng trong mười năm qua.
Năm 1971, Hàn Quốc lập ra Korea Advanced Institute of Science and
Technology (KAIST, Hàn Quốc Khoa học Kỹ thuật Viện) đầu tàu của nền
khoa học kỹ thuật Hàn Quốc với mục đích đào tạo các nhà khoa học và
kỹ sư, được xem như là một MIT (Massachusett Institute of
Technology) của đất nước "kim chi". Hơn 35 năm qua, KAIST đă tạo một
ảnh hưởng vô cùng sâu rộng trong nền khoa học công nghệ Hàn Quốc và
thế giới. Trên quy mô cả nước, KAIST đă sản sinh 20 % nhà khoa học
và kỹ sư với học vị Tiến sĩ, 10 % giáo sư, phó giáo sư khoa học và
công nghiệp (engineering) và cung cấp 25 % nghiên cứu viên điện tử,
chất bán dẫn, vật liệu học cho tập đoàn Samsung. Gần đây, nhằm quốc
tế hoá nghiên cứu khoa học và giáo dục đại học, chính phủ Hàn Quốc
đă đầu tư trên 12 triệu đô-la vào một chương tŕnh rất quy mô gọi là
"Đại học Đẳng cấp Thế giới" (World Class University) với bước đầu là
mời 81 các học giả, khoa học gia, giáo sư quốc tế trong đó có 9
người đoạt giải Nobel đến giảng dạy và chỉ đạo nghiên cứu tại các
đại học Hàn Quốc.
Cũng như Hàn Quốc, khi nền công nghệ cũ đă trưởng thành và nền công
nghệ mới manh nha xuất hiện, Trung Quốc ào ạt đầu tư vào việc nghiên
cứu khoa học. Bừng tỉnh sau cơn ác mộng "Cách mạng Văn hóa" và mở
cửa giao lưu với thế giới, trong 30 năm qua nền khoa học kỹ thuật
của xứ sở Vạn lư Trường thành đă có những bước đi vĩ đại. Ngoài
những thành tựu mang tính chất "nhất điểm vinh quang", như đưa người
vào không gian, bắn vệ tinh quay quanh mặt trăng, triệt hạ vệ tinh
bằng tên lửa không gian, chế tạo tàu ngầm nguyên tử, sản xuất đầu xe
lửa siêu tốc chạy 350 km/giờ, mang một mục đích chính trị nhằm tăng
cường ḷng tự hào dân tộc, củng cố sự hiện hữu của Đảng và Nhà nước,
khoe mẽ thế giới, Trung Quốc đă có những tiến bộ vượt bậc trong
nghiên cứu cơ bản lẫn ứng dụng bao gồm tất cả mọi ngành khoa học nhờ
vào chính sách đúng đắn, "chiêu hiền đăi sĩ". Sinh viên, nghiên cứu
sinh và khoa học gia Trung Quốc giờ đây tràn ngập thế giới. Nhiều
khoa học gia lỗi lạc đă trở thành giáo sư của các trường đại học hay
nghiên cứu viên cao cấp tại cơ quan nghiên cứu nổi tiếng trên thế
giới.
Bộ Giáo dục Trung Quốc đào tạo những trí tuệ khoa học từ dưới lên.
Họ gầy dựng ngân quỹ dịch thuật những sách giáo khoa kinh điển tiếng
Anh, mua bản quyền, trả tiền cho dịch giả và xuất bản. Những sách
nguyên bản trị giá vài trăm đô-la được dịch lại bán cho sinh viên
năm, mười đô-la một cách hợp pháp. Các tạp chí khoa học quyền uy và
hữu ích như Nature hay Materials Today và một số tạp
chí quan trọng khác có phiên bản tiếng Hoa được phổ biến rộng khắp
cho từ những sinh viên mới chập chững đi vào con đường nghiên cứu
đến các khoa học gia kỳ cựu. Ngoài kinh phí nghiên cứu trong nước,
họ dành một khoản lớn kinh phí cho các nhà khoa học gốc Hoa làm việc
tại nước ngoài, khuyến khích việc về nước giao lưu. Họ tôn vinh các
nhà khoa học hay giáo sư nổi tiếng nước ngoài c̣n tại chức hay đă về
hưu, thậm chí "mua" kiến thức và mạng lưới liên hệ của các vị này;
ban cho họ chức giáo sư danh dự, tiếp đăi ân cần, thù lao hậu hĩnh
để họ trực tiếp tham gia giảng dạy và hướng dẫn nghiên cứu sinh viên
trong nước. Những người làm khoa học phần lớn xuề x̣a, không có
nhiều đ̣i hỏi vật chất, chỉ cần tôn trọng, tâng bốc một chút, tặng
kinh phí mua thiết bị ở dạng "hợp tác nghiên cứu quốc tế", là bao
nhiêu kiến thức họ trút sạch cho không. Các nhà lănh đạo Trung Quốc
hiểu rất rơ điều này, triển khai triệt để và quyết liệt. Hiện nay,
số nhà nghiên cứu, giáo sư nước ngoài chiếm 12,8 % trong ban giảng
dạy của Đại học Thanh hoa (Tsinghua University), trường đại học công
nghiệp hàng đầu Trung Quốc. Trong khi đó, con số này chỉ là 5 % tại
Đại học Tokyo, đại học đứng đầu tại Nhật Bản. Đây là những đầu tư
tri thức ít tốn kém nhưng số lăi thu hoạch trong tương lai th́ quả
thật khổng lồ.
Năm 1995, Trung Quốc đầu tư 0,6 % tổng sản lượng quốc gia (Gross
Domestic Product, GDP) vào việc nghiên cứu và triển khai (R&D). Mười
năm sau (2005), con số này tăng 1,34 %, tức là 140 tỷ đô-la, và sẽ
tăng dần đến 2,5 % vào năm 2020 [3]. Trung Quốc có hơn 1.700 trường
đại học và cao đẳng, nhưng kinh phí nghiên cứu chỉ tập trung vào 100
đại học đứng đầu. Ở các đại học này, Bộ Khoa học và Kỹ Thuật Trung
Quốc lập ra các Viện Thí nghiệm Quốc gia với các đề án đa ngành,
Trung tâm Nghiên cứu Công nghiệp Quốc gia chú trọng đến ứng dụng
thực tiễn và Pḥng Thí nghiệm Trọng điểm Quốc gia liên quan đến
những nghiên cứu cơ sở [4]. Ngoài ra, Viện Hàn lâm Trung Quốc (hay
là Trung Quốc Khoa học Viện, Chinese Academy of Sciences) với 100
viện nghiên cứu từ cơ sở đến ứng dụng phân tán khắp cả nước [5].
Viện có hàng trăm cơ sở kinh doanh khoa học công nghệ với công ty
điện tử vi tính Lenovo nổi tiếng thế giới.
Trên sự quan sát và tiếp xúc cá nhân tại các đại học, cơ quan nghiên
cứu, hội thảo quốc tế, tôi nhận thấy hơn 20 năm qua phong cách giao
lưu, tŕnh bày vấn đề trước công chúng, thái độ nghiên cứu của những
người nghiên cứu khoa học Trung Quốc từ một nghiên cứu sinh cho đến
một giáo sư có sự tiến bộ và tự tin rơ rệt. Từ cái bộ dạng "Hai Lúa
đi Sài G̣n" ngơ ngác quê mùa, tiếng Anh chưa nhuần nhuyễn, kết quả,
biểu đồ tŕnh bày lung tung, tùy tiện 20 năm trước, các nhà khoa học
Trung Quốc ngày hôm nay là những người diễn thuyết chính được mời
(invited speaker, plenary speaker) tại các hội nghị khoa học quốc tế
quan trọng. Tôi không quên được một nữ nghiên cứu sinh ở tuổi đôi
mươi của trường đại học Hàng không Vũ trụ Bắc Kinh trong một hội
thảo khoa học, thao thao bất tuyệt tiếng Anh, hùng hồn giải thích "thuyết
đàn tính" (theory of elasticity) của ḿnh với hàng loạt phương tŕnh
toán học và những áp dụng vào vật liệu máy bay và tàu vũ trụ, trả
lời mạch lạc từng câu hỏi từ thính giả. Tôi cũng không quên cái
nhiệt t́nh và tự tin của một anh giáo sư trẻ của đại học Giao thông
Thượng Hải, khi anh nói về pin nhiên liệu (fuel cell) và ứng dụng
của nó vào xe buưt thành phố làm giảm thiểu ô nhiễm.
Các nhà khoa học Trung Quốc mang một tham vọng giành giải Nobel khoa
học trong vài thập niên tới. Họ rất nhạy cảm với những đột phá khoa
học trên toàn thế giới. Tháng ba năm 2008, một nhóm khoa học gia
Nhật Bản tuyên bố lần đầu tiên đă khám phá một hợp chất sắt trở nên
siêu dẫn ở nhiệt độ 26 K (- 247 ºC).
Chỉ trong ṿng một tháng, các nhà khoa học Trung Quốc sửa đổi cấu
trúc hợp chất này đẩy nhiệt độ lên 52 K (- 221
ºC).
Đây là một kỳ tích khoa học được thực hiện trong một thời gian cực
ngắn. Hợp chất siêu dẫn có ứng dụng càng nhiều khi nhiệt độ chuyển
hóa siêu dẫn càng cao. Mặt khác, tinh thần thực dụng buôn bán không
những thấy ở một tập đoàn mà c̣n ở mỗi cá nhân người Hoa bao gồm tất
cả mọi ngành nghề kể cả khoa học. Shi Zhengrong (Thi Chính Vinh) lấy
học vị Tiến sĩ tại đại học New South Wales
(University of New South Wales, Úc) dưới sự hướng dẫn của giáo sư
Green Martins nổi tiếng thế giới về pin mặt trời (solar cell). Ông
trở về Trung Quốc lập công ty với sự giúp đỡ vốn của chính quyền địa
phương để chế tạo pin mặt trời "made in China" giá rẻ. Trong ṿng 10
năm, ở số tuổi 45 ông trở thành tỷ phú đô-la, 95 % sản phẩm của ông xuất
khẩu sang châu Âu, chủ yếu là Đức. Hằng năm, ông tặng kinh phí
nghiên cứu cho người thầy cũ để tiếp tục hoàn thiện pin mặt trời.
Thật là một nghĩa cử cao đẹp và một hành động khôn ngoan.
Đi lên từ sự hoang phế, tàn tạ của 10 năm Cách mạng Văn hóa tại Trung
Quốc và trong trường hợp Hàn Quốc từ một dải sơn hà khô cằn, nghèo
khó lại bị chiến tranh Triều Tiên tàn phá biến thành b́nh địa kéo
dài từ sông Yalu (Áp Lục) đến tận Pusan, hai đất nước này bay lên
như con phụng hoàng từ đống tro c̣n ngút khói. Trong khi Bộ Giáo dục
của ta đang loay hoay quyết định "lên giá, xuống giá" học phí đại
học, các quan chức loanh quanh với những tuyên bố, chính sách khoa
học vá víu, "lẩn quẩn cối xay", th́ những bước đi khoa học vĩ đại và
cải cách giáo dục đại học đang rầm rộ xảy ra tại Trung Quốc, Hàn
Quốc, hai đất nước có cùng một bối cảnh lịch sử, chính trị, truyền
thống giống như ta. Nó cho thấy một chính sách phát triển giáo dục
và khoa học kỹ thuật có định hướng rạch ṛi và tầm nh́n chiến lược
của bậc lănh đạo ở các quốc gia này.
Trường hợp của ta
Như Einstein đă từng nói, "Sự quan tâm về con người và số phận
của con người lúc nào cũng phải là một mục tiêu trong tất cả mọi nỗ
lực của khoa học kỹ thuật. Đừng bao giờ quên rằng yếu tố này nằm đâu
đó giữa những biểu đồ và công thức của bạn". Mọi nghiên cứu
không chỉ dừng ở điểm thỏa măn sự hiếu kỳ hàn lâm. Nhà khoa học cũng
không thể đứng ngoài ṿng xă hội, chỉ biết hănh diện với số bài báo
cáo khoa học của ḿnh. Tri thức khoa học chỉ thực sự có giá trị nhân
sinh và xă hội khi được tận dụng để đào tạo ra vật chất, sản phẩm,
đóng góp vào việc kiến thiết hạ tầng cơ sở, nâng cao mức sống người
dân, nền kinh tế quốc dân và an ninh quốc pḥng. Khoa học kỹ thuật
là nguồn vốn tinh thần và vật chất của một dân tộc, là ch́a khóa của
sự hùng mạnh và tương lai xán lạn của một quốc gia. Có thể nói là
không có sự phát triển kinh tế nếu không có tri thức khoa học. Đồng
thời, tri thức khoa học chỉ có giá trị kinh tế khi được phổ biến
rộng răi và tận dụng đúng cách. Nhưng nhà khoa học chỉ có thể tự
giải phóng ra khỏi tháp ngà nghiên cứu khi nào có một môi trường
nghiên cứu thuận lợi cho sự sáng tạo, phổ biến và thực dụng hóa tri
thức. Và đây là trách nhiệm của một chính phủ.
T́nh cờ tôi đọc được một bài viết về việc tranh luận "công bố quốc
tế" hay "công bố quốc nội" của các đề án khoa học trong một buổi họp
mặt của các đồng nghiệp trong nước [6]. Nó thoang thoảng cái bệnh
thành tích cố hữu trong cung cách làm việc của ta. Chuyện công bố
với h́nh thức này hay h́nh thức khác là việc đương nhiên phải làm,
không phải để tạo tăm tiếng "uy phong" nhưng v́ những lư do đă được
nêu bên trên. Cuộc tranh luận chỉ nêu ra vấn đề "ngọn", trong khi
những vấn đề "gốc" như chính sách giáo dục, phát triển khoa học và
công nghệ, chế độ cung cấp và sử dụng kinh phí nghiên cứu, thái độ
và môi trường nghiên cứu, phương hướng đào tạo các khoa học gia
tương lai vẫn là những vấn đề nổi cộm chưa được giải quyết. Khi
những đề án tốt nghiệp của sinh viên năm cuối đại học, thậm chí sau
đại học chỉ là những đề án lan man, chung chung lập lại những điều
đă biết, khi viết luận văn th́ có khuynh hướng "cắt và dán", th́ có
lẽ c̣n rất lâu ta mới có thể hội nhập quốc tế.
Chỉ khi nào những vấn đề cơ bản về "trồng" con người khoa học và
thiết lập chính sách được chính phủ quan tâm đúng mức và thi hành
triệt để, việc "công bố quốc tế" sẽ tự nhiên thành, không cần phải
gượng ép. Trên b́nh diện kinh doanh của một doanh nghiệp hay an ninh
quốc pḥng của một quốc gia, một bài báo cáo viết về những bí mật
chế tạo thương phẩm hay cách điều chỉnh đường bay tên lửa, quỹ đạo
tàu vũ trụ, dù là tiếng mẹ đẻ hay tiếng Anh đều có giá trị như nhau.
Để bên ngoài những luận điểm chính trị, những quan điểm đạo đức tốt
xấu, việc Bắc Triều Tiên ngang nhiên thử bom nguyên tử hay bắn tên
lửa tầm xa, tầm gần, thách thức cộng đồng thế giới, gây ra lắm
chuyện đau đầu cho các nước xung quanh và khiến các "đàn anh" Nga,
Trung Quốc phải kiêng dè lắng nghe, phản ánh những thành tựu to lớn
của các nhà khoa học Triều Tiên. Chắc chắn phần lớn các khoa học gia này
chưa bao giờ có "công bố quốc tế".
Tại các nước đang phát triển như Việt Nam, công bố quốc tế của một
công tŕnh khoa học có lẽ không phải là một vấn đề phải đem ra bàn
căi khi tŕnh độ nghiên cứu tại bậc đại học chưa đạt đến một chuẩn
mực, xin được gọi là "đẳng cấp quốc tế". Tuy nhiên, những luận văn
tốt nghiệp Thạc sĩ hay Tiến sĩ cũng như các bài báo cáo cần phải
được phổ biến tích cực trên các tạp chí trong nước sau khi qua một
quá tŕnh thẩm định nghiêm túc, có tóm tắt tiếng Anh để đăng trên
các dịch vụ tóm tắt (abstract services) như Chem Abstract, Scirus,
Scopus Database. Những thẩm định viên có thể là những chuyên gia
trong nước hay chuyên gia Việt kiều.
Một vấn đề cơ bản quan trọng khác nằm trong chính sách phát triển
khoa học công nghệ là việc sử dụng tiền thuế nhân dân để cung cấp
kinh phí nghiên cứu. Những đề án nghiên cứu xin kinh phí trước hết
phải có định hướng ứng dụng theo những ưu tiên được quy định bởi một
Hội đồng Nghiên cứu Quốc gia. Các ứng viên phải là chuyên gia trong
ngành với những thành tích giảng dạy, chỉ đạo, nghiên cứu cụ thể
được đánh giá qua những bài viết, báo cáo, giáo tŕnh hay các sản
phẩm chế tạo. Những đề án cấp quốc gia cần phải có sự thẩm định và
phản biện của các chuyên gia ẩn danh trong và ngoài nước. Quá tŕnh
thẩm định các bài báo cáo hay đề án xin kinh phí là những hoạt động
miễn phí trong cộng đồng nghiên cứu khoa học.
Ba mươi năm đă trôi qua từ lúc Trung Quốc mở cửa hội nhập vào cộng
đồng thế giới; từ thời đại Park Chung-hee, Hàn Quốc cũng có 30 năm. Kể
từ khi ḥa b́nh thống nhất, ta cũng có ngần đó thời gian nhưng tiếc
thay ta vẫn là ta. Những lời tâm huyết về cải cách giáo dục, hướng
đi của phát triển khoa học công nghệ từ các nhà giáo dục, nhà khoa
học ưu thời mẫn thế trong, ngoài nước như những tiếng gào thét kêu
cứu tan vào cơi không gian vô tận. Chúng ta đang ở một thế kỷ trong
đó nền tảng xă hội, sự hùng mạnh kinh tế, sự an nguy dân tộc tùy
thuộc vào tri thức và thực tiễn hóa tri thức. Chúng ta phải có một
tầng lớp lănh đạo kỹ trị, hiểu rơ sức mạnh của khoa học kỹ thuật. Ta
hăy xuất phát từ cái cơ bản nhất là: nên quên đi đường lối giáo dục
tạo những con gà ṇi Olympic, chỉ tập trung vào một thiểu số ưu tú
có một vài kỹ năng đặc biệt mang cho ta một tự hào nhất thời, mà nên
khám phá tiềm năng của số đông để sản sinh ra những đàn đại bàng
biết bay xa, tung hoành ngang dọc, và những đại thụ làm rợp bóng thế
giới.
Cơ bản hơn, phải có một cuộc cải cách lương bổng cho các khoa học
gia và giáo sư đại học; đánh giá đúng tài năng khoa học không phải
qua móc nối liên hệ hay sự thâm niên. Phải có một cơ cấu phản biện
nghiêm túc, chọn lựa các đề án nghiên cứu để cấp kinh phí, thẩm định
các bài báo cáo và luận văn Thạc sĩ và Tiến sĩ theo đúng chuẩn mực.
Quan trọng hơn hết, phải có cơ cấu pḥng chống sự ṛ rỉ kinh phí và
tham nhũng trong khoa học, ḅn rút của công.
Thiết nghĩ, bây giờ không phải là thời điểm bàn về "công bố quốc tế"
hay "công bố quốc nội", viết tiếng Anh hay tiếng Việt, tạp chí uy
tín hay lá cải, "chỉ số ảnh hưởng" cao hay thấp. Một đồng nghiệp
trong nước đă phải thốt lên, "Nghiên cứu để công bố quốc tế và
nghiên cứu để phục vụ nhu cầu thiết thực cho đất nước cái nào quan
trọng hơn?". Câu trả lời thật quá hiển nhiên.
TVT
May-June 2009
(Nguồn: Diễn Đàn Forum,
www.diendan.org)
Tài liệu tham
khảo và ghi chú
[1] "Impact
factor" tạm dịch là "chỉ số ảnh hưởng", một con số đánh giá chất
lượng của một tạp chí khoa học dựa trên số lần trích dẫn các bài báo
đăng trên tạp chí này.
[2] Ông Woo Suk
Hwang là giáo sư sinh học tại Seoul National University (Hàn Quốc).
Ông nổi tiếng thế giới về các công tŕnh nghiên cứu sinh sản vô tính
(cloning) và đă được dân Hàn Quốc tôn vinh là anh hùng khoa học. Ông
ngụy tạo kết quả thí nghiệm trong việc tạo ra phôi con người, khôn
khéo vượt qua quá tŕnh duyệt xét và công bố "kết quả" trên tạp chí
Science (2005). Ông từ chức vào tháng 12, 2005. Một sự kiện
khác là trường hợp của tiến sĩ Jan Hendrik Schön. Schön là một nhà
nghiên cứu trẻ có nhiều triển vọng nhưng trong khi làm việc tại Bell
Labs (Mỹ) ông ta ngụy tạo kết quả 16 lần trong khoảng thời gian
1998-2001, đăng hơn 40 bài báo cáo trên các tạp chí nổi tiếng như
Nature, Science, Applied Physics Letters và tuyên bố đă chế tạo
ra transistor dưới dạng phân tử. Schön bị đuổi việc lập tức và bị
dẫn ra khỏi Bell Labs như một tội phạm. Hàng triệu đô-la và một số
lớn th́ giờ của các nhà khoa học và nghiên cứu sinh đă bị hoang phí
khi phải làm thực nghiệm để lập lại và xác định những "kết quả" của
Schön.
[3] "Rise of the
dragon", Physics World, 21, August 2008, 14.
[4] "Riding the red
dragon", Physics World, 22, May 2009, 46.
[5]
http://en.wikipedia.org/wiki/Chinese_Academy_of_Sciences
[6]
http://www.tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=76&News=2643&CategoryID=3
(*) Anh Trương Văn Tân sinh quán tại tỉnh Sa Đéc,
cựu học sinh trường trung học Sa Đéc và Tống Phước Hiệp (Vĩnh Long).
Anh Tân đến Nhật cuối năm 1969. Anh tốt nghiệp Bachelor Eng.
(1975), Master Eng. (1977) trường Tokodai (Tokyo Institute of
Technology) và PhD (1980, University of Adelaide, Úc).
Anh Tân hiện làm việc tại Viện Khoa Học và Công Nghệ Quốc Pḥng (Defence
Science and Technology Organisation) trực thuộc Chính Phủ Liên Bang
Úc. Anh chuyên về Vật Liệu Học và hiện nghiên cứu về polymers dẫn
điện và ống nano carbon. Anh đă công bố gần 70 bài báo cáo khoa học
trên các tạp chí khoa học quốc tế. Xem thêm
những bài viết của anh Trương Văn Tân trên
ERCT
|
|