|

Transistor:
Nhân tố của một cuộc cách mạng
(phần 2)
Trương Văn Tân
"Hạt
bụi nào hóa kiếp thân tôi
Để một mai vươn h́nh hài lớn dậy"
Trịnh Công
Sơn
Tóm tắt
Transistor
silicon hiện tại sẽ tiến đến mức cực nhỏ và không thể thu nhỏ hơn.
Định luật Moore sẽ sụp đổ. Công nghiệp sản xuất máy tính sẽ chết dần.
Đây là niềm lo âu đối với công nghiệp điện tử và kinh tế toàn cầu.
Các vật liệu hữu cơ như polymer bán dẫn, hợp chất acene, ống than
nano và graphene được dùng để chế tạo transistor hữu cơ nhằm thay
thế transistor silicon trong chip vi tính. Sau hơn 20 năm, nghiên
cứu transistor hữu cơ vẫn c̣n nhiều vướng mắc kỹ thuật trong việc
gia tăng tốc độ xử lư dữ liệu và khả năng làm chip vi tính. Tuy
nhiên, transistor hữu cơ đă khai sáng ra nền công nghiệp "điện tử
mềm" (flexible electronics) trong đó các vi mạch được in lên những
chất nền polymer hay cao su mềm, trong suốt. Một trong những ứng
dụng lớn là màn h́nh mềm cho tivi hay laptop cuốn tṛn, thậm chí có
thể dán tường. Mặt khác, cuộc chạy đua t́m kiếm transistor cho máy
tính tương lai vẫn tiếp diễn. Người ta nghĩ đến việc dùng transistor
siêu phân tử biến máy tính thành hạt bụi rồi nối mạng các "hạt bụi"
này thành máy tính cực siêu như bộ năo con người. Nhưng, sản phẩm
này vượt ra ngoài khả năng của khoa học hiện tại. Thực tế hơn, những
nguyên lư "kỳ quặc" của cơ học lượng tử đang được tận dụng để chế
tạo máy tính lượng tử. Máy tính lượng tử có tốc độ xử lư siêu việt.
Những ǵ máy thông thường cần 100 năm để t́m giải đáp th́ máy lượng
tử chỉ cần vài phút. Lạ lùng thay, vi khuẩn quang hợp cũng hành xử
như một máy tính lượng tử trong quá tŕnh quang hợp. Mẹ thiên nhiên
dường như có câu trả lời cho tất cả!
1. Silicon
hay carbon?
Bộ vi xử
lư hay c̣n gọi là chip vi tính giống như chiếc đũa thần. Khi
được cài vào máy tính, nó làm máy càng mỏng xử lư càng nhanh; nó đă
biến bộ môn nhiếp ảnh thành kỹ thuật số, cũng như đă biến chiếc điện
thoại di động nhỏ bé càng mang nhiều chức năng thuận tiện; nó đă làm
cho một màn h́nh trở thành bộ sách chứa hàng trăm quyển sách (e-book
reader); nó biến robot mang những cử động và biểu hiện cảm xúc giống
như con người, Pinocchio cơ hồ trở thành người thật. Chưa hết. Khi
chip hiện diện trong máy bay, nó sẽ biến máy bay trở nên
không người lái. "Phi công" ngồi trong một căn pḥng thoải mái ở một
nơi bí mật nào đó cách xa chiến trường điều khiển những chiếc máy
bay tiềm kích không người lái (drone) truy t́m đối phương ẩn nấp
trong rừng núi, khởi động tên lửa vào những mục tiêu bằng những cái
nhấn trên bàn phím.
Ngoài máy
bay không người lái, các nhà khoa học đang nghiên cứu việc dùng
chip để điều khiển một hệ thống định vị GPS và các radar đặt
trong xe hơi để tạo những chiếc xe không tài xế. Con người rồi đây
chỉ là hành khách ngồi ung dung đọc báo, tṛ chuyện. Xe sẽ biết dừng
hay chạy trước tín hiệu giao thông, biết gia giảm tốc độ, biết tránh
hay nhường đường với những chiếc xe xung quanh. Những từ như "tài xế"
hay "tai nạn giao thông" sẽ tan biến vào quá khứ và không c̣n nằm
trong ngôn ngữ giao tiếp đời thường. Con nguời sẽ hành xử văn minh
hơn, không c̣n những tiếng quát tháo, cử chỉ dung tục giữa các tay
lái trên đường phố, hay những lời càm ràm của người ngồi bên cạnh
đại loại như "Sao anh chạy nhanh quá", "Anh sao rồi? Làm
ǵ mà chạy như rùa vậy", "Sao bỗng dưng anh thắng gấp làm mẹ
con tui giựt ḿnh" v.v...
Tuy rằng chip
c̣n cần những phần mềm tin học điều khiển rất đa dạng và những công
nghệ đặc dụng khác dùng làm "tai, mắt, chân, tay" cho nó để tạo ra
những tiện nghi như vừa kể trên, có thể nói chip đă làm thay
đổi bộ mặt của xă hội loài người hơn nửa thế kỷ qua và sẽ tiếp tục
tạo những kỳ tích trong vài thập niên kế tiếp. Theo chuyên gia, nếu
chip của máy tính vẫn tiếp tục phô diễn sức mạnh xử lư theo
định luật Moore th́ có lẽ 50 năm sau máy tính sẽ vượt qua bộ óc con
người. Nhưng, như đă tŕnh bày trong bài viết trước [1] định luật
Moore sẽ sụp đổ theo quy luật vật lư. Mười năm trước đây, giới tiêu
thụ có khuynh hướng thay máy tính hay laptop mới mỗi năm v́ tốc độ
xử lư và sức chứa của bộ nhớ không ngừng gia tăng. Giờ đây, thời
gian sử dụng máy tính hay laptop có thể kéo dài hơn 3 năm v́ sức
mạnh của chip không c̣n gia tăng nhanh như trước. Măi lực yếu
của người tiêu dùng cho thấy cái khởi đầu của tiến tŕnh đi đến sự
sụp đổ của định luật Moore. Nhưng người ta vẫn chưa biết định luật
Moore sẽ sụp đổ như thế nào và linh kiện ǵ sẽ thay thế transistor
silicon của chip. Và nếu không có ǵ để thay thế th́ cuộc
cách mạng tin học
sẽ ngừng lại. Đây là một điều thực sự lo âu cho nền
kinh tế toàn cầu.
Một câu
hỏi thường xuyên được đặt ra là có một vật liệu nào có thể thay thế
được silicon để tạo ra một thời đại hậu-silicon (post-silicon) vừa
tiếp tục sự thu nhỏ của transistor vừa khắc phục được các nhược điểm
của silicon. Carbon và silicon là hai nguyên tố anh em trong cùng
Nhóm IV của bảng phân loại tuần hoàn. Mặc dù cùng ở Nhóm IV, silicon
là đại diện của vật chất vô cơ trong khi carbon là nguyên tố chính
của vật chất hữu cơ và sự sống. Silicon nổi bật trong thế giới chất
rắn v́ người ta có thể tinh chế được silicon đến độ nguyên chất gần
như tuyệt đối (độ tinh khiết 99.999999999 %, 11 con số 9). Tinh thể
silicon là một trong những tinh thể có ít khuyết tật nhất. Trong
công nghiệp điện tử người ta biết đến silicon như là một vật liệu
toàn bích cho transistor. Trong vật lư nó là một chất bán dẫn tiêu
biểu làm sáng tỏ những hiện tượng cơ bản của vật lư chất rắn. Carbon
lại là một nguyên tố nổi bật trong bảng phân loại tuần hoàn, nguyên
tố chính của hằng trăm triệu hợp chất hữu cơ nhân tạo và toàn thể
phân tử của sinh thực vật trên quả đất.
Trong ba
thập niên qua, những vật liệu hữu cơ dẫn điện hay bán dẫn như hợp
chất họ acene (hợp chất do các nhân benzene nối kết với nhau),
polymer bán dẫn, ống than nano và gần đây graphene là những vật liệu
được tổng hợp và nghiên cứu cho những ứng dụng điện tử. Cụm từ
"transistor hữu cơ" trong bài viết chỉ toàn thể transistor làm từ
các vật liệu hữu cơ vừa đề cập, nghĩa là các chất chứa nguyên tố
carbon. Trong khi silicon là một trong những chất bán dẫn vô cơ tiêu
biểu, vật liệu hữu cơ có độ dẫn điện có thể được điều chỉnh từ mức
bán dẫn đến mức dẫn điện của đồng. Ngoài ra, hợp chất hữu cơ hay
polymer có thể ḥa tan trong dung môi rất tiện lợi cho hóa tŕnh chế
tạo linh kiện và vật liệu h́nh thành là một thể mềm (thí dụ, plastic
hay cao su) có thể uốn cong, gấp nhỏ. Sự khác biệt giữa carbon và
silicon không chỉ dừng ở đây. Transistor dùng nguyên tố silicon là
một thí dụ điển h́nh của nền công nghệ "từ trên xuống", trong khi
polymer bán dẫn, ống than nano và graphene là vật liệu nano mang
tiềm năng sáng tạo các công cụ điện tử chế tạo bằng phương pháp "từ
dưới lên".
Đây là
những ưu điểm của vật liệu hữu cơ nhưng làm thế nào để các ưu điểm
này được tận dụng tối đa và liệu các chất này có thể thay thế
silicon trong cuộc cách mạng thu nhỏ transistor? Có khả năng nào để
ta thiết kế chip chứa hàng trăm triệu hay hàng tỷ transistor
hữu cơ bằng phương pháp "từ dưới lên" mô phỏng theo bộ năo sinh vật
chứa hàng trăm tỷ tế bào năo? Một khuynh hướng nghiên cứu khác để
cứu văn sự sụp đổ của định luật Moore là máy tính lượng tử, sử dụng
nguyên tử như một transistor. Có khả năng nào máy tính lượng tử sẽ
là máy tính của tương lai? Trong nghiên cứu khoa học, mỗi thành quả
là một lời giải đáp nhưng cũng ẩn tàng nhiều câu hỏi khác. Dường như
Mẹ thiên nhiên nh́n thấy tất cả và đă có câu trả lời cho mọi t́nh
huống. Bài viết này nhằm t́m kiếm câu trả lời cho các câu hỏi trên
dựa trên theo các công tŕnh nghiên cứu gần đây trong lĩnh vực
transistor hữu cơ và những tiến triển trong vi tính lượng tử hay
những câu trả lời của Mẹ thiên nhiên đă có sẵn đâu đó ở xung quanh
ta.
2. Transistor carbon: ống than nano và graphene
Kể từ năm
1991 khi tiến sĩ Sumio Iijima tái phát hiện ống than nano và khẳng
định vai tṛ quan trọng của vật liệu này trong khoa học và công nghệ,
những phương pháp tổng hợp ống nano đă đạt đến một tŕnh độ tinh vi
để h́nh thành được các loại ống theo yêu cầu của một ứng dụng được
định trước. Từ một sản phẩm đầu tiên tạp nhạp chứa những ống than
kích thước, đường kính khác nhau, những lớp vỏ nhiều ít khác nhau,
các nhà khoa học đă minh định được những yếu tố để kiểm soát phẩm
chất của ống theo nhu cầu. Đây cũng là điều kiện tiên quyết trong
việc chế tạo transistor ống than nano.
Ống than
nano đặc biệt gây được sự chú ư đến các nhà nghiên cứu vật lư chất
rắn và kỹ sư thiết kế transistor. Đường kính vài nanomét và tính
chất truyền điện đạn đạo (ballistic electrical conduction) là hai
điều kiện lư tưởng cho việc chế tạo transistor. Điều kiện thứ nhất
cho thấy khả năng thu nhỏ transistor đến kích cỡ vài nanomét. Điều
kiện thứ hai mở ra tiềm năng chế tạo một transistor không phát nhiệt
hay rất ít phát nhiệt [2-3]. V́ có h́nh dạng ống, sự di động qua lại
của electron trong ống như ra vào ở chỗ không người, không bị vướng
mắc va chạm như trong dây đồng hay silicon. Đó là sự truyền điện đạn
đạo không gây nhiệt.
Thay thế
vật liệu vô cơ bán dẫn silicon bằng vật liệu hữu cơ carbon có thể
xem là một bước ngoặt quan trọng trong việc triển khai và thu nhỏ
transisitor. Từ hơn một thập niên qua đă có nhiều nỗ lực đơn lẻ
[4-6] nhưng công ty IBM vẫn dẫn đầu trong việc đầu tư nghiên cứu
transistor ống than nano với mục đích vi mạch hóa và thay thế
transistor "cổ điển" silicon [7-10] (H́nh 1). Là một công ty hàng
đầu làm chip vi tính, việc dấn thân vào nghiên cứu chế tạo
transisitor ống than nano cho thấy tiềm năng rộng lớn của ống than
nano trong lĩnh vực điện tử. Các kết quả thí nghiệm cho thấy tác
động đóng mở của transistor ống than nano có tốc độ nhanh không kém
transistor silicon và cho nhiều tiềm năng. Sự thành công của
transistor dùng ống than nano sẽ là bước đầu nhiều hứa hẹn dẫn đến
ngành điện tử học nano trong đó người ta có thể làm toàn thể mạch
điện và các linh kiện điện tử ở cấp nanomét.
|
|
 |
|
H́nh 1:
Transistor ống than nano.
(a) Cấu trúc, S:
cực nguồn (source), D: cực máng (drain), Si back gate: cổng
silicon.
(b): Mặt trên của mẫu transistor với cực S và D là hợp kim
Au/Ti được nối với một SWNT bắc ngang. |
|
Ống than
nano vỏ đơn (single-wall carbon nanotube, SWNT) có đường kính 1 – 5
nm (nanomét) là một vật liệu chính được dùng để thiết kết cổng
transistor có tiềm năng chế tạo transitor thu nhỏ ít phát nhiệt.
Nhưng phần lớn trong các bài báo cáo gần đây, các nhà nghiên cứu
dường như không nói đến khả năng transistor ống than nano thay thế
transistor silicon truyền thống trong quá tŕnh tiếp tục thu nhỏ.
Điều này dễ hiểu. Gần một tỷ transistor silicon được cài đặt trong
mạch tích hợp làm nên chip của các máy vi tính hiện đại được sản
xuất đại trà bằng phương pháp li-tô quang của công nghệ cao. Ngoài
việc nâng cao kỹ năng chế tạo chip, bản thân nguyên tố silicon là
một vật liệu kết tinh với những mạng tinh thể có độ chính xác đến
mức nguyên tử với chất lượng gần như tuyệt đối. Khó có một nguyên tố
nào khác có thể b́ kịp. Transistor từ ống than nano hay các vật liệu
hữu cơ khác chưa có hai ưu điểm này.
Hiện nay
IBM vẫn tiếp tục đầu tư vào các nghiên cứu dùng ống than nano vỏ đơn
(SWNT). Đối với một công ty như IBM mà mục tiêu kinh doanh là lợi
nhuận, việc duy tŕ các công tŕnh nghiên cứu transisitor SWNT mang
một ư nghĩa đặc biệt. Trong bài tổng quan của Appenzeller [9], tiêu
điểm nghiên cứu không c̣n là việc thu nhỏ transistor mà là phát huy
triệt để các đặc tính điện tử của ống nano. Ngoài hiện tượng di
chuyển đạn đạo của electron trong ống, một đặc trưng khác của
transistor ống nano là hiệu ứng đường hầm của ống. Cổng transistor
như cái ṿi nước điều khiển ḍng electron chảy (on) hay ngừng (off).
Điện thế của cổng to hay nhỏ sẽ làm cho ḍng chảy nhiều hay ít hay
hoàn toàn ngưng lại. Hiệu ứng đường hầm trong ống than nano sẽ giúp
cho transitor chỉ cần một điện thế rất nhỏ so với transistor silicon
cho việc đóng mở (on/off). Hệ quả là độ nhạy của transistor sẽ gia
tăng và sự tiêu thụ năng lượng sẽ giảm đi rất nhiều.
Từ những
ưu điểm này, ống than nano giải quyết được vấn đề giảm sự phát nhiệt
qua đặc tính di chuyển đạn đạo và độ nhạy của cổng qua hiệu ứng
đường hầm. Tuy nhiên, để tiến đến việc chế tạo vi mạch và dụng cụ
điện tử chứa transistor SWNT các nhà khoa học cần phải tổng hợp SWNT
thuần chất gần như tuyệt đối, đồng nhất đến mức phân tử: đường kính,
chiều dài, cấu trúc và độ dẫn điện. Phương pháp tổng hợp SWNT hiện
nay thường sản xuất những ống có đường kính khác nhau hay ống nhiều
vỏ (multi-wall carbon nanotubes, MWNT) lẫn vào như một chất tạp. Mặc
dù đă có hàng trăm báo cáo và đăng kư phát minh về phương pháp tổng
hợp ống than nano, chưa có một phương pháp nào có thể sản xuất đại
trà SWNT đạt được yêu cầu khắt khe cho quá tŕnh chế tạo transitor.
Một bài báo cáo mới đây [10] cho biết việc tinh lọc SWNT bán dẫn đă
đạt đến độ tinh kiết 99 % với đường kính 1 nm thích hợp cho việc chế
tạo transistor. Một tia sáng ở cuối đường hầm, nhưng đây là một quá
tŕnh tốn kém.
Graphene
là người anh em của ống than nano trong ḍng họ carbon. Tháng 12 năm
2010, Viện Hàn lâm Khoa học Thụy Điển trao giải Nobel Vật lư cho
công tŕnh nghiên cứu graphene của hai nhà khoa học người Anh gốc
Nga, Andre Geim và Konstantin Novoselov (Đại học Manchester, Anh
quốc). Graphene là một lớp của than ch́ (graphite). Từ lâu, người ta
đă biết rơ cấu trúc lớp (layered structure) của than ch́, v́ giá rẻ
nên không biết làm ǵ hơn là dùng làm lơi bút ch́. Geim và Novoselov
dùng một thao tác nano đơn giản bằng cách áp băng keo lên than ch́
để tách ra một mảng graphene. Từ đó than ch́ từ một "phó thường dân"
được thăng hoa trở thành hoàng tử. Việc tách rời từng lớp graphene
từ than ch́ lần đầu tiên đă cho ngành vật liệu học một vật liệu nano
thuần carbon hai thứ nguyên với độ dày của một nguyên tử. Nó có h́nh
dạng của mạng lưới giây ch́ làm chuồng gà (H́nh 2). Tầm quan trọng
trong ứng dụng của graphene và việc mở rộng chân trời nghiên cứu vật
lư lư thuyết có lẽ là hai nguyên nhân chính trong việc trao giải
Nobel cho Geim và Novoselov, dù rằng hai ông chỉ mới chế tạo
graphene vào năm 2004.
|
|
 |
|
 |
|
(a) (b)
H́nh 2:
(a) Một mảng graphene.
(b) Phim graphene
do các mảng graphene chồng chập tạo nên
(Credit: Dr. Dan Li,
Monash University, Australia).
Năm 2008,
nhóm Manchester của Geim và Novoselov đă chế tạo transistor graphene
ở kích cỡ 1 nanomét [11]. Có thể đây là kích cỡ nhỏ tận cùng của một
transistor. Rơ ràng là một đột phá nhưng chỉ mang tính hàn lâm. Cũng
như ống than nano, để làm transistor graphene cần phải được chế tạo
với một chất lượng đồng nhất tuyệt đối và giá rẻ. Theo giá năm 2009,
một mảng graphene 30 x 30 cm có giá bán là vài triệu đô la. Sẽ c̣n
rất lâu transistor ống nano hay graphene mới có thể thay thế
transistor silicon v́ vấn đề kỹ thuật sản xuất và giá cả.
Một trở
ngại khác là việc chế tạo vi mạch. Phương pháp li-tô quang là một
phương pháp truyền thống tạo mẫu cho cho các mạch tích hợp chứa hàng
trăm triệu và đang tiến đến một tỷ transitor silicon. Bằng phương
thức này từ một mảng silicon vĩ mô người ta thiết kế vi mạch chi
chít những linh kiện ở mức nanomét. Li-tô quang càng lúc càng tinh
vi và tốn kém, bao gồm nhiều công đoạn như dùng tia năng lượng cao
như tia tử ngoại, nhiệt và hoá chất để tẩy rửa. Những yếu tố này làm
biến chất hay phân hủy các hợp chất hữu cơ kể cả ống than nano và
graphene. Do đó, đây không phải phương pháp thích hợp chế tạo vi
mạch cho các transistor hữu cơ. Các nhà khoa học vẫn c̣n đang loay
hoay t́m một phương pháp tương đương với li-tô quang để sản xuất vi
mạch có thể chứa một số lớn transistor và các phụ kiện hữu cơ hay
nói rộng hơn một hệ thống tích hợp cấp nano giống như vi mạch
silicon.
3. Phương
pháp tự lắp ghép
Để chế tạo
một linh kiện như transistor, vấn đề cơ bản cho trường hợp của vật
liệu hữu cơ là làm sao có một sự sắp xếp thứ tự ở cấp độ phân tử.
Người ta liên tưỏng đến cơ chế "tự lắp ghép" (self-assemble) của các
phân tử sinh học tạo ra những bộ phận trong sinh thực vật có chức
năng khác nhau. "Trật tự" là một đặc trưng của các các cơ quan sinh
học được h́nh thành qua quá tŕnh tự lắp ghép. Nó là một kết quả của
sự tiến hóa qua hàng tỷ năm, xuất phát từ các đơn bào đơn giản cho
đến các loài sinh thực vật phức tạp biết tư duy mà đỉnh cao là con
người. Sinh học là một thí dụ điển h́nh của phương pháp "từ dưới lên".
Cơ chế tự lắp ghép quán xuyến toàn bộ các quá tŕnh sinh học theo
một tôn ti (hierarchy) từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp và
phức tạp hơn nữa, tạo ra như đơn vị, bộ phận, cơ quan có chức năng
nhất định, biết ứng đối với hoàn cảnh xung quanh, có khả năng tự
sinh sản, tự bảo vệ và tự tu sửa (self-repair). Trải qua hàng tỷ năm,
phương pháp "từ dưới lên" trong sinh học mang cơ chế tự lắp ghép
cũng đă trải qua một quá tŕnh tiến hóa hàng tỷ năm theo sự chọn lọc
tự nhiên đă được nhà khoa học vĩ đại Darwin đề xướng.
Ta có thể
so sánh transistor như tế bào của một dụng cụ điện tử và chip
là tập hợp của các tế bào điều khiển sự vận hành của máy vi tính.
Trong việc chế tạo mạch tích hợp chứa transistor hữu cơ, nếu ta có
thể mô phỏng thiên nhiên th́ phương pháp "từ dưới lên" sẽ là một con
đường sản xuất lư tưởng. Như đă nói ở trên, cơ chế tự lắp ghép của
phân tử là bước đầu tiên của quá tŕnh "từ dưới lên". Khả năng tự
lắp ghép của các phân tử sinh học quả thật nhiệm mầu, nhưng ta cũng
có thể nh́n thấy hiện tượng này ở mức độ đơn giản nhất trong nhà bếp.
Ai có kinh nghiệm rửa chén bát đều thấy một giọt mỡ lan rất nhanh
trên mặt nước tạo thành một màng cực mỏng do sự tự lắp ghép các phân
tử mỡ trên bề mặt của nước. Một muỗng dầu có thể tích khoảng 2 ml (mililít)
lan trên mặt hồ có thể phủ kín một diện tích rộng 2.000 m2.
Ta có thể tính được độ dày của lớp phủ khoảng 1 nm (nanomét) hay là
kích thước trung b́nh của một phân tử. Như vậy, màng dầu lan tỏa
trên mặt hồ là màng cực mỏng hai thứ nguyên có độ dày của một phân
tử. Tương tự, chất hoạt tính bề mặt (surfactant) trong bột giặt tự
lắp ghép sao cho đầu thích nước sẽ nằm trong nước và đuôi
ghét nước
chĩa ra ngoài (H́nh 3).
|
|
 |
|
H́nh 3: Sự tự lắp ghép đơn
giản của các phân tử hoạt tính bề mặt ở mặt tiếp giáp nước và không
khí.
|
|
Cụm từ "tự
lắp ghép" mang ư nghĩa của một quá tŕnh xảy ra tự nhiên, nhưng nó
không phải là một quá tŕnh "từ trên trời rơi xuống" mà ta chỉ ngồi
đó chờ sung rụng… Nếu ta không tạo điều kiện và môi trường thích hợp
th́ sự tự lắp ghép sẽ không xảy ra. Sự lắp ghép của các phân tử là
do sự kết hợp của các loại nối liên phân tử như nối hydrogen, nối
van der Waals hay nối ion. Ta phải chọn lọc nhiệt độ, áp suất, độ pH
thích hợp để sự lắp ghép của một tập hợp của phân tử hay vật liệu
nano có cơ hội xảy ra theo ư muốn của ḿnh. Sự kỳ diệu trong các
sinh thực vật là tất cả mọi quá tŕnh lắp ghép đi từ vi mô đến vĩ mô
đều ở một nhiệt độ b́nh thường của môi trường xung quanh, áp suất
không khí và môi trường nước có độ pH trung tính (pH ~ 7). Mô phỏng
thiên nhiên quả là một việc không dễ khi thiên nhiên đă có một bề
dày lịch sử tiến hóa hơn 4 tỷ năm so với kinh nghiệm nghiên cứu khoa
học của con người chỉ hơn 400 năm.
Ngay từ
thập niên 90 của thế kỷ trước, nhiều nhóm nghiên cứu đă chú ư đến
tầm quan trọng của cơ cấu tự lắp ghép của các phân tử trên một diện
rộng cho việc thực hiện mạch tích hợp với các vật liệu hữu cơ. Cho
đến nay thành quả của các nỗ lực này vẫn c̣n một giới hạn. Nếu so
với hệ thống sinh học với cấu trúc tự lắp ghép đa tầng từ vi mô đến
vĩ mô, từ phân tử đến con người, càng to càng tinh vi, th́ khả năng
hiện tại của con người tạo ra điều kiện tự lắp ghép của các vật liệu
chỉ vỏn vẹn từ một tầng phân tử đến đa tầng phân tử. Tuy nhiên, phải
nói rằng phương pháp tự lắp ghép của polymer bán dẫn để h́nh thành
dây nano (nanowire) cho transistor là một tiến bộ đáng kể của cơ chế
này.
Việc sử
dụng các loại polymer bán dẫn như polypyrrole, polyaniline và
polythiophene thay cho silicon trong transistor đă được đề xuất từ
ba thập niên trước, ngay sau khi lúc các vật liệu này được phát hiện
bởi Alan MacDiarmid, Alan Heeger và Hideki Shirakawa (Nobel Hóa học
2000) [12]. Kể từ khi transistor polymer bán dẫn polythiophene đầu
tiên được báo cáo vào năm 1987 (H́nh 4), transistor polymer tạo ra
những đột phá trong hai thập niên phát triển nhờ vào cơ chế tự lắp
ghép và trở nên thông dụng dưới dạng transistor phim (thin film
transitor). Như ta đă biết trong silicon, sự di động của electron
trong transistor đ̣i hỏi một con đường thông thoáng được thành h́nh
bởi độ trật tự của tinh thể silicon. Tương tự, vật liệu polymer cần
phải có cấu trúc tinh thể với độ trật tự thật cao. Để thực hiện điều
này, ta phải tạo điều kiện để các phân tử polymer có thể tự lắp ghép
tạo thành một dây nano có một trật tự nhất định (H́nh 5) [13].

H́nh 4: Cấu trúc hóa học
của
poly(3-hexylthiophene),
một polymer bán dẫn thông dụng dùng trong transistor.
|
|

(a) |
|

(b)
H́nh 5:
(a) Các phân tử poly(3-hexylthiophene) tự lắp ghép bằng cách chồng
chập theo chiều vân đạo
p và cũng
là trục của dây nano. Dây nano vắt ngang hai điện cực nguồn và máng
của transistor.
(b) Ảnh minh họa của transitor dây nano. S: cực
nguồn, D: cực máng, Dielectric: lớp cách điện, Gate: cổng.
|
|
Các loại
transistor với cổng logic làm từ ống than nano, dây nano của polymer
bán dẫn và gần đây graphene đă cho thấy những ưu điểm của vật liệu
một chiều (1D) và hai chiều (2D). Tuy nhiên, việc thu nhỏ vẫn không
vượt qua được kích cỡ của transistor silicon đang có trên thương
trường. Cơ cấu tự lắp ghép có lẽ là một phương pháp hữu hiệu để thực
hiện mạch tích hợp của các linh kiện điện tử hữu cơ nhưng với khả
năng hiện tại người ta chỉ có thể thực hiện cơ cấu này ở mức sơ đẳng
nhất so với hệ thống sinh học.
4. Kỹ
thuật in phun
Lắm lúc
những dụng cụ trong cuộc sống đời thường có thể là một khuôn mẫu cho
một ứng dụng mới trong khoa học. Các nhà nghiên cứu thường nh́n xung
quanh t́m ư tưởng v́ những cái trông rất b́nh thường và đương nhiên
lắm khi lại hàm chứa nhiều ư tưởng thú vị. Chiếc máy in phun (inkjet
printer) để bàn hầu như trở nên một vật dụng cần thiết đi đôi với
chiếc máy tính. Nó lọt vào mắt xanh của các nhà khoa học v́ khả năng
phun mực in ở cấp độ nanolít (1 phần tỷ lít). Sự hoà tan thường thấy
trong dung môi hay dung dịch keo (colloids) của các hợp chất hữu cơ
là một ưu điểm cho quá tŕnh chế tạo vi mạch làm từ các vật liệu hữu
cơ. Với
một vài thao
tác hoá học các
loại dung dịch hay chất keo vật liệu hữu cơ
có thể
biến thành "mực" in.
Ứng dụng
trực tiếp của ưu điểm này là khả năng in phun lên trên một chất nền
mềm và mỏng tạo ra những mô dạng vi mạch cho một ứng dụng điện tử.
Đă có nhiều pḥng nghiên cứu trên thế giới dùng máy in phun văn
pḥng để in dung dịch của các hợp chất hữu cơ, polymer bán dẫn hay
dung dịch keo của ống than nano, graphene, hạt nano kim loại hay bán
dẫn. Chiếc máy in phun được cải biến để in các lằn gạch, chấm có
tính dẫn điện hay bán dẫn ở kích cỡ micromét tạo h́nh các vi mạch
trên chất nền polymer dẻo. Như thế, người ta có thể sản xuất các
dụng cụ điện tử mềm có thể cuốn tṛn hay co dăn (H́nh 6) [14].
H́nh 6:
Mạch tích hợp chứa transistor ống than nano được in trên chất nền
polymer mềm và trong suốt.
Bộ phận
chính của máy in phun là hệ thống điện cơ vi mô (micro
electromechnical system, viết tắt MEMS) điều khiển đầu phun thành
chữ viết theo mệnh lệnh phát ra từ máy tính. Đầu phun có thể tạo ra
dấu chấm, đường thẳng, đường cong ở mọi kích cỡ. Dấu chấm của chữ i là
kích cỡ nhỏ nhất (60 – 70
mm) máy có thể in, tương đương với một
giọt mực có thể tích là 1 nanolít. Ngày nay máy in phun văn pḥng
không được giới tiêu thụ ưa chuộng như máy in laser nhưng các nhà
khoa học và kỹ sư điện tử đang tiếp tục cải thiện máy in phun chuyên
dụng trong việc thiết kế vi mạch của linh kiện điện tử cho nền công
nghiệp "điện tử mềm" (flexible electronics) [15]. Phương pháp in
phun không tinh vi như phương pháp li-tô quang; giới hạn độ nhỏ hiện
nay của in phun là vài mươi micromét trong khi li-tô đă tạo ra vi
mạch ở mức nanomét, vài ngàn lần nhỏ hơn. Nhưng in phun là phương
pháp ít phức tạp, ít tốn kém và sẽ là một trong những công cụ tạo vi
mạch cho các sản phẩm "điện tử mềm" của tương lai.
5. Công
nghiệp "điện tử mềm"
Việc sử
dụng vật liệu hữu cơ bán dẫn thay thế silicon trong transistor trong
20 năm qua mang đến những thành quả rơ rệt với nhiều tiềm năng
thương phẩm hoá cho công nghiệp điện tử. Nhưng, dựa trên cơ sở của
các công tŕnh nghiên cứu mới nhất vật liệu hữu cơ không thể đánh
bại được silicon trong cuộc chạy đua thu nhỏ transistor và chế tạo
mạch tích hợp chứa hàng trăm triệu transistor. Silicon vẫn thống trị
chip vi tính nếu transistor vẫn theo thiết kế cổ điển "nguồn
– cổng – máng" (source – gate – drain) đóng mở ḍng điện [16]. Trong
ư nghĩa này, transistor hữu cơ không đạt được cái kỳ vọng ban đầu
nhằm thay thế transistor silicon, nhưng sự phát triển của transistor
hữu cơ theo ḍng thời gian đă mở màn cho một nền công nghệ mới, đó
là công nghiệp "điện tử mềm" (flexible electronics).
Transistor
hữu cơ hiện tại tuy không có một kích cỡ nhỏ hay tốc độ xử lư nhanh
như transistor silicon, nhưng nó có thể được sử dụng trong những
dụng cụ không có yêu cầu cực nhanh chẳng hạn như điện thoại di động,
máy ảnh kỹ thuật số hay màn h́nh sách điện tử (e-book reader). Các
bộ cảm ứng (sensor) hóa học hay sinh học áp dụng trong công nghiệp
hay y khoa được chế tạo dưới dạng transistor để khuếch đại độ nhạy
của bộ cảm ứng (H́nh 7) [17].
|
|
 |
|
H́nh 7:
Transistor hữu cơ với hệ thống mạng ống nano hay dây nano (Assembly
of NT/NW networks) có ứng dụng trong bộ cảm ứng (Sensors), dụng cụ
điện tử mềm (Flexible devices) và mặt tiếp giáp sinh học
(Bio-interfaces) của bộ cảm ứng sinh học. |
|
Một ứng
dụng của transistor hữu cơ đang có tầm ảnh hưởng lớn trong công
nghiệp điện tử là chức năng hỗ trợ cho các điểm sáng diode (light
emiting diode, LED). LED là loại bóng đèn dựa vào sự kích hoạt
electron lên bực năng lượng cao hơn bởi ḍng điện. Khi electron nhảy
xuống bực năng lượng cũ th́ năng lượng dư thừa được phát ra dưới
dạng photon phát ra ánh sáng. LED là một thương phẩm rất phổ cập v́
vừa túi tiền người mua vừa ít tiêu hao năng lượng so với bóng đèn
giây tóc (điện trở). LED có thể là chiếc đèn nhấp nháy khiêm tốn của
người đi xe đạp nhưng cũng là hàng ngàn, chục ngàn chiếc đèn đủ màu
sắc trang trí trên những cây Giáng Sinh lộng lẫy. Ta không cần phải
đợi đến mùa Giáng Sinh để bị cuốn hút bởi màu sắc của LED. LED là
đơn vị phát quang cơ bản của những màn h́nh quảng cáo hay màn h́nh
tivi khổng lồ đặt trước những quảng trường của các thành phố lớn
trên thế giới. LED trong các màn h́nh này không c̣n nhấp nháy tùy
tiện như chiếc đèn xe đạp hay đèn Giáng Sinh. Mỗi LED được gắn với
transistor hỗ trợ để điều khiển màu và độ sáng cho ta những h́nh ảnh
sống động của một màn h́nh.
Vật liệu
phát quang của LED thường là chất bán dẫn vô cơ, nhưng các chất hữu
cơ và polymer bán dẫn dần dần thay thế chất vô cơ để tạo ra LED hữu
cơ (organic light emitting diode, OLED). Mỗi OLED được thu nhỏ đến
kích thước micromét để tạo những điểm chấm sáng li ti (từ chuyên môn
là pixel) trên màn h́nh tivi, máy tính, máy ảnh và điện thoại di
động. Những điểm sáng được hỗ trợ bởi transistor phía sau màn h́nh.
Hăng điện tử Samsung (Hàn Quốc) là một trong những công ty hàng đầu
trong lĩnh vực màn h́nh đang đầu tư rất nhiều vào các công tŕnh
nghiên cứu và thương phẩm hóa màn h́nh OLED. Màn h́nh OLED mang đến
cho giới tiêu thụ nhiều ưu điểm như ít tiêu hao năng lượng, độ sáng
tuyệt vời, màu sắc đậm nét và có khả năng thay thế màn h́nh tinh thể
lỏng (liquid crystal display, LCD) hiện đang rất phổ cập trên thị
trường. Các transistor silicon hỗ trợ đă có đóng góp to lớn vào
những vượt trội này cho màn h́nh OLED. Gần đây transistor hữu cơ dần
dần thay thế transistor silicon trong các màn h́nh OLED kích thước
nhỏ cho điện thoại di động hay máy ảnh (H́nh 8) [18]. Đặc điểm của
transistor hữu cơ là có thể dùng ở điện áp thấp và tiêu hao ít năng
lượng hơn transistor silicon. Đối với những dụng cụ điện tử cầm tay
dùng pin transistor hữu cơ quả là một linh kiện lư tưởng. Công ty
Samsung tiếp tục gia tăng độ lớn màn h́nh OLED cho tivi và máy tính,
nhưng giá thành sản xuất màn h́nh này c̣n quá cao. Tivi với màn h́nh
OLED 15 inch có giá bán $2,300 khi màn h́nh LCD chỉ là $200. DuPont
sử dụng phương pháp in phun chế tạo các điểm sáng OLED giảm giá sản
xuất. Gần đây, nhóm nghiên cứu của tiến sĩ Andrew Rinzler
(University of Florida, Mỹ) sử dụng ống than nano trong transistor
hữu cơ gia tăng tiềm năng sản xuất đại trà màn h́nh OLED kích cỡ lớn
[19-20]. Như vậy, chúng ta sẽ sở hữu màn h́nh "toàn hữu cơ" vừa túi
tiền, chất lượng tốt, có thể cuốn tṛn hay trang trí trên tường vào
một ngày không xa.

H́nh 8:
Mặt trên và
dưới của mạng transistor hữu cơ (16 x 16 đơn vị)
hỗ trợ cho màn h́nh
OLED cỡ nhỏ (8 x 8 cm) được in chất nền polymer.
6. Con thoi siêu phân tử
Kể từ lúc
được phát minh với độ lớn vài cm đến transistor hiện đại có kích cỡ
vài mươi nanomét, mô dạng của một transistor với ba chấu: nguồn,
máng và cổng, vẫn không thay đổi theo thời gian. Những vật liệu bán
dẫn hữu cơ đă được đưa vào transistor để thiết kế cổng logic cho mục
đích thu nhỏ, giảm nhiệt, nhưng vẫn bị đóng khung trong mô dạng cổ
điển. Ngoài những vướng mắc cơ bản của transistor ống nano, graphene
hay polymer bán dẫn đă được đề cập ở trên, dùng vật liệu hữu cơ làm
cổng logic nhưng vẫn duy tŕ mô dạng cũ được kích hoạt bởi ḍng điện
chẳng qua là hội chứng "b́nh cũ rượu mới". Transistor cần phải thoát
ly ra ngoài khuôn khổ này với một cấu trúc mới được vận hành bởi
năng lượng ánh sáng (hay sóng điện từ). Ta hăy xem tiềm năng của con
thoi siêu phân tử như một transistor không có "nguồn – cổng – máng".
Và khi ta thoát ra được cái ṿng kim cô "nguồn - cổng – máng", ta sẽ
không c̣n lo âu về sự phát nhiệt của chip.
Siêu phân tử (supra-molecule) trong hóa học hữu cơ là một mô phỏng
gần nhất của sự tự lắp ghép của phân tử sinh học mang những chức
năng "sống" của một động cơ, biết xoay, biết di động hay biến h́nh
gây ra bởi những kích thích từ ngoài [21]. Siêu phân tử là sản phẩm
do sự tự lắp ghép giữa hai hay nhiều phân tử và chúng được nối kết
bởi các lực liên phân tử. Hai cấu trúc động cơ phân tử quan trọng
là: rotaxane và catenane [22] (H́nh 9). Thuật ngữ rotaxane được phối
hợp từ hai chữ La-tin rota (bánh xe, wheel) và axis (trục, axle); và
catenane từ chữ catena (dây xích, chain).

|
|
|
H́nh 9:
H́nh minh họa rotaxane và catenane
(a): Ṿng rotaxane di động tịnh tiến qua lại như con thoi; (b): Ṿng
rotaxane quay quanh tại một điểm và (c): Hai ṿng của catenane, một
ṿng quay, một ṿng cố định. |
|
|
Ṿng của
rotaxane có thể di chuyển tịnh tiến tới lui đến từng địa điểm trên
cây trục như chiếc xe lửa dừng ở các trạm ga (H́nh 9a). Hai đầu của
cái trục được gắn bởi nhóm phân tử to để chặn ṿng không bị tuột ra
ngoài. Đây là chuyển động con thoi. Với cơ chế con thoi, rotaxane
hành xử như là một công tắc đóng/mở (on/off) hay là 0/1 (không/có)
trong nguyên tắc điều biến nhị phân (binary modulation). Có nghĩa là,
khi chiếc ṿng dừng ở trạm thứ nhất ta có trạng thái "đóng" (hay là
0), ở trạm thứ hai, trạng thái "mở" (hay là 1). Rotaxane cho thấy
tiềm năng sử dụng như một cổng logic đóng/mở của transistor. Có thể
đây là tương lai của transistor ở cấp phân tử, một linh kiện điện tử
lư tưởng cho các nhà thiết kế vi mạch và thiết kế chip vi
tính hằng mơ ước. Hiện tại, các nhà hóa học có thể tổng hợp hàng
triệu phân tử rotaxane trên một bề mặt tạo ra một tác động cơ học
bằng cách cho chiếc ṿng di chuyển qua lại bằng phương pháp điện hóa
[23] hay tia tử ngoại [24]. Transistor siêu phân tử sẽ là một sản
phẩm nhân tạo theo cơ chế tự lắp ghép. Sự phát nhiệt từ transistor
sẽ đi vào lịch sử. Máy tính phân tử sẽ có một bộ nhớ vĩ đại và năng
suất 100 tỷ lần cao hơn máy tính hiện tại. Nếu suy luận qua độ lớn,
ta sẽ có một máy vi tính to bằng hạt cát với năng suất 100 lần nhiều
hơn máy tính mà người viết đang sử dụng.
Mặc dù c̣n
vô số trở ngại kỹ thuật nhưng tham vọng của con người không chỉ dừng
lại ở việc thu nhỏ transistor mà c̣n đi xa hơn một bước là việc thu
nhỏ máy tính. Thu nhỏ đến mức nào? Theo lời của một chuyên gia vi
tính Mỹ th́ "Giấc mơ cuối cùng không phải nhắm đến việc chế tạo
máy tính tương lai có kích thước của một hạt bụi mà là một máy tính
đơn giản có kích thước của một con vi khuẩn. Sau đó bạn có thể kết
hợp lại để có một chiếc máy tính có kích thước một hạt bụi với sức
mạnh tương đương với chiếc máy tính để bàn mà bạn đang sử dụng".
Và xa hơn nữa là liên mạng của các máy tính hạt bụi thành một siêu
máy tính. Đây cũng là một kỳ vọng mà các nhà khoa học đă phác họa
cho máy tính của transistor siêu phân tử. Nó biểu hiện một sản phẩm
của phương pháp tự lắp ghép "từ dưới lên", xuất phát từ việc kết hợp
những đơn vị cơ bản để tạo ra một dụng cụ với chức năng mong muốn.
Nhưng,
hiện nay transistor siêu phân tử chỉ là cấu tưởng hơn là hiện thực.
Việc di chuyển con thoi được kích hoạt bằng phương pháp oxid hóa/khử
(redox) hay thay đổi pH và như thế phải thực hiện trong dung dịch
[23]. Và chip vi tính chất lỏng không phải là loại chip
có nhiều ưu điểm. Ta có thể loại trừ được chất lỏng trong chip
bằng cách dùng tia tử ngoại hay các loại sóng điện từ để kích
hoạt cho sư di chuyển con thoi. Nhưng tốc độ dao động con thoi hay
tốc độ đóng mở vẫn c̣n quá chậm so với nhu cầu của chip vi
tính. Sự thoái hóa (degradation) hay lăo hóa của siêu phân tử dễ xảy
ra khi tiếp cận với không khí hay dưới ảnh hưởng của nguồn sóng điện
từ có năng lượng cao như tia tử ngoại. Một vướng mắc khác vẫn chưa
được giải quyết là làm sao có thể nối kết hàng triệu, hàng tỷ siêu
phân tử theo một trật tự nhất định để biến chúng thành một mạch tích
hợp h́nh thành chip transistor phân tử. Nói cách khác, con
người thành công trong bước thứ nhất của cơ chế tự lắp ghép các phân
tử thành siêu phân tử nhưng phải dừng chân ở bước thứ hai kế tiếp
trong cái tôn ti tự lắp ghép vẫn c̣n cao ngất ngưởng.
Thiên
nhiên có nhiều tài năng hơn con người. Ư tưởng của
vị
chuyên gia người Mỹ không có ǵ mới khi ta quan sát các cơ cấu hành
xử sinh học trong ta, xung quanh ta. Ư tưởng này chẳng qua là sự mô
phỏng của bộ năo dày đặc những nối kết của các tế bào năo (neuron).
Bộ năo con người có thể xem như một "cực siêu" máy tính làm bằng
nguyên tố carbon. Y học ngày nay vẫn chưa hiểu rơ cơ cấu các chức
năng của bộ năo như suy luận, kư ức, ghi nhớ, ư thức, cảm xúc, quyết
định, học tập, tiến hóa, tích trữ kinh nghiệm, những chức năng mà
con người hiện đại chưa dám mơ cho chiếc máy tính silicon của ḿnh.
Nếu so sánh tế bào năo như một transistor th́ có phần khập khiễng v́
hành xử của tế bào năo vốn đă mang tính chất của một chiếc máy tính
đơn giản. Bộ năo con người có 100 tỷ (11 con số 0 sau số 1) tế bào
và liên thông với nhau bằng con số thiên hà, 100.000 tỷ (14 số 0 sau
số 1) nối kết, tạo nên một mạng lưới sinh học với sức mạnh xử lư
khổng lồ đầy bí ẩn vẫn chưa được y học hiện đại giải mă. Một tế bào
năo không làm được ǵ nhiều, nhưng "ba cây chụm lại nên ḥn núi cao".
Vài trăm tế bào năo kết hợp lại tạo nên một trung khu thần kinh thô
sơ có thể biến một vật có biểu hiện "sống" như điều khiển con giun
ḅ, cảm nhận, sinh sản.
Tiếc rằng,
như đă đề cập ở trên khả năng hiện tại con người nhiều lắm chỉ có
thể tạo ra cơ chế tự lắp ghép ở mức nanomét và
một
tập hợp
hỗn độn
của các siêu phân tử. Không đi xa hơn. Việc mô phỏng
bộ năo làm máy tính cực siêu chỉ là một sản phẩm của trí tưởng tượng
đầy phóng túng của con người.
7. Con cù
nguyên tử
Trong một
hướng thực tế hơn, một số lớn các nhà vật lư tầm cỡ chạy đua trong
công tŕnh nghiên cứu chế tạo máy tính lượng tử dùng nguyên tử như
một "transistor". Trong luồng tư duy "thu nhỏ",
gia tăng tốc
độ xử lư
cũng như khát vọng thoát khỏi cái tṛng "nguồn - cổng
– máng" của thiết kế transistor đương đại, các nhà khoa học nh́n vào
đặc tính của nguyên tử.
Nguyên tử
quay (spin) như con cù. Khi nguyên tử quay theo chiều kim đồng hồ
(spin lên ↑) có thể được dùng để chỉ con số logic 0, và spin khi
quay ngược chiều kim đồng hồ (spin xuống
¯) chỉ số logic 1. Khi spin
lật, chẳng hạn như khi hấp thụ ánh sáng, spin đang quay theo chiều
kim đồng hồ (số logic 0) sẽ chuyển sang spin quay ngược chiều kim
đồng hồ (số logic 1), spin lên thành spin xuống, 0 trở thành 1, và
ngược lại. Đây là một cơ năng của thiên nhiên có từ thuở khai thiên
lập địa nhưng khi ta nh́n theo quan điểm tin học hiện đại, th́ đó
chẳng qua là động tác chuyển hoán nhị phân đóng/mở của một
transistor mà chúng ta dùng để xử lư thông tin khi dàn dựng máy tính.
Tuy nhiên,
ta không thể so sánh sự chuyển hoán lên xuống của spin với động tác
đóng/mở (sự chuyển hoán qua lại giữa 1 và 0) rạch ṛi của transistor
v́ khi chúng ta lạc vào thế giới vi mô của nguyên tử và vi hạt th́
những hiện tượng "kỳ quặc" lượng tử xuất hiện đi ngược với những
trải nghiệm của thế giới vĩ mô đời thường. Tính chất nhị nguyên "vừa
sóng vừa hạt" của vật chất, tính bất định của Heisenberg là hai cột
trụ của cơ học lượng tử thống trị thế giới vi mô. Trong lịch sử vật
lư học, cơ học lượng tử là kẻ sanh sau đẻ muộn nhưng lại có tư duy
cách mạng gần như "nổi loạn". Nó phủ nhận những điều mà người ta đă
chấp nhận và trải nghiệm trong thế giới quan đời thường. Thí dụ, khi
một quyển sách nằm trên bàn th́ nó 100 % trên bàn, không thể nào vừa
trên bàn lại vừa ngoài sân. Nhưng khi quyển sách thu nhỏ đến kích cỡ
của nguyên tử hay nhỏ hơn nó có thể cùng một lúc hiện hữu nhiều nơi
khác nhau theo tính xác xuất, nghĩa là vài phần trăm chỗ này, vài
chục phần trăm chỗ kia. Tương tự, spin của nguyên tử không có trị số
dứt khoát 100 % là 1 hay 0 như ta thường biết trong tác động đóng mở
nhị phân của transistor mà là sự chồng chập giữa hai trạng thái. Trạng
thái spin của nguyên tử có thể là 25 % spin lên và 75 % spin xuống
hoặc vô số những tỷ lệ đóng góp khác nhau của spin lên và spin xuống.
Nhưng cũng nhờ cái "mơ hồ" lượng tử này [H́nh
10]
những con cù nguyên tử có thể tàng trữ một lượng thông tin to lớn và
tốc độ xử lư siêu việt so với máy tính transistor.
|
|
|
H́nh 10:
Chàng: " Em Alice ui... Em chính là người của anh
rồi". Nàng: "Nhưng anh Bob à... trong thế giới lượng tử làm sao ḿnh
biết được chắc chắn, hở anh?". |
|
|
Khi nói đến tốc độ xử lư, người ta thường đưa ra thí
dụ phép phân tích thừa số của một con số, chẳng hạn như thừa số của
số 15 là 3 và 5 (15 = 3 x 5). Thời gian t́m thừa số cho những con số
nhỏ như 15 chỉ là cái tích tắc trên máy tính thông thường nhưng khi
ta phải t́m thừa số của một con số chứa 200 con số th́ thời gian cho
máy tính t́m giải đáp sẽ là 100 năm. Nhưng thời gian 100 năm sẽ thu
ngắn c̣n vài phút khi ta sử dụng máy tính lượng tử. Chip
lượng tử chưa hẳn nhỏ hơn chip transistor silicon nhưng từ
thí dụ này chúng ta thấy ngay sự siêu việt của máy tính lượng tử với
tốc độ xử lư cực nhanh, cho giải đáp vài chục triệu lần nhanh hơn
máy tính thông thường nhờ vào sự chồng chập lượng tử giữa spin lên
và spin xuống.
Tốc độ xử lư nhanh dị thường của máy tính lượng tử
trở thành một vũ khí lợi hại của "chiến tranh thông tin" và "chiến
tranh gián điệp", một loại chiến tranh mà 2,500 năm trước chiến lược
gia Tôn Tử đă đề cập "Đại phàm cái phép dụng binh, làm cho cả
nước địch khuất phục trọn vẹn là thượng sách, đánh nó là kém
hơn. Thế nên bách chiến bách thắng cũng chưa phải cách sáng suốt
trong sự sáng suốt. Không cần đánh mà làm kẻ địch khuất phục mới gọi
là sáng suốt nhất trong sự sáng suốt". Một trong những cách
"không đánh mà thắng" ở thế kỷ 21 nói một cách cụ thể là cách bẻ
khóa vi tính đi vào các kho chứa dữ liệu cực mật làm tê liệt khả
năng chiến đấu của đối phương. Chẳng hạn, cái khóa của đối phương có
thể là 2 thừa số của một số có 200 con số. Như đề cập ở trên, giải
mă 2 thừa số của một số có 200 con số là việc làm trong 100 năm của
máy tính thông thường nhưng chỉ là vài phút trong máy tính lượng tử.
Máy tính điện tử rồi đây sẽ là một công cụ "nóng" của các cơ quan
t́nh báo trên thế giới. Các chuyên gia phản gián và an ninh quốc
pḥng sẽ rón rén đi qua những ngơ ngách "lượng tử" đua nhau nh́n
trộm chôm nhẹ qua khe hở "lượng tử" rồi âm thầm rút lui.
Việc thực hiện cụ thể của máy tính lượng tử là một đề
án táo bạo và hấp dẫn. Đề án đă và đang thu hút rất nhiều kinh phí
từ chính phủ và đầu tư từ doanh nghiệp. Nó sẽ là biểu hiện của sự
thành công tột đỉnh trong ứng dụng đời thường của cơ học lượng tử và
của nền vật lư hiện đại. Người chế tạo không những có nhiều khả năng
đoạt giải Nobel mà c̣n là người giàu nhất hành tinh có tên tuổi vượt
cả Bill Gate lẫn Steve Jobs. Do đó, đây là một cuộc chạy đua thực sự
nghiêm túc mang tính toàn cầu, những trung tâm nghiên cứu vi tính
lượng tử từ lâu đă đi vào hoạt động tại Mỹ, châu Âu, Nhật Bản, Úc,
thậm chí cả Trung Quốc, Ấn Độ và Hàn Quốc.
Năm 2009, nhóm nghiên cứu Schoelkopf tại đại học Yale
tuyên bố chế tạo thành công chip lượng tử chứa vài chục tỷ
nguyên tử nhôm [25]. Các nguyên tử sắp hàng theo một thứ tự và quay
như con cù trong chip. Khi ta kích hoạt bằng một cái chớp
sáng, độ thứ tự thay đổi và có một số nguyên tử chuyển biến trạng
thái quay (spin). Như vậy, chip đă làm cho ta một con tính
hay xử lư một dữ liệu. Giống như Ali Baba đọc câu thần chú "Úm ba
la, Sesame hăy mở cánh cửa đá cho ta", ta gọi các nguyên tử bằng
sự kích hoạt, "Hỡi các nguyên tử thân yêu, các nàng hăy
làm con toán này cho ta", và khi ta kích hoạt đúng chỗ đúng liều
các nàng nguyên tử sẽ thỏ thẻ trả lời và t́m giải đáp bằng con đường
nhanh nhất.
Nhưng chip của nhóm Schoelkopf vẫn không phải
là chip lượng tử đầu tiên. Năm 2007, công ty D-Wave Systems
(Canada) tuyên bố với thế giới là họ đă chế tạo thành công máy tính
lượng tử đầu tiên. Gần đây (2011) công ty này đă bán chiếc máy tính
lượng tử đầu tiên cho tập đoàn nổi tiếng Lockheed Martin (Mỹ). Mặc
dù D-Wave đă cho đăng một bài báo cáo hàn lâm trên tạp chí Nature
[26] để chứng minh bản chất lượng tử của chiếc máy, cộng đồng nghiên
cứu vi tính lượng tử vẫn nghi ngờ D-Wave "treo đầu heo bán thịt chó"
(nguyên văn: "peddle snake oil", nghĩa là "bán đồ rởm"). Một trong
những lư do tạo ra sự nghi ngờ và cũng là lư do làm tŕ trệ sự phát
triển và phổ cập của máy tính lượng tử là chip phải đặt trong
hệ thống cô lập cao độ và nhiệt độ hoạt động chỉ ở vài phần ngàn độ
trên zero tuyệt đối (-273
°C).
Ta phải nâng niu các nàng nguyên tử, cưng như trứng, đặt các nàng
trong pḥng the cô lập đầy đủ tiện nghi, không ai quấy rầy. Nếu
không, những tác động của môi trường xung quanh và sự dao động nhiệt
sẽ làm náo động cái trật tự mong manh và phá vỡ trạng thái spin phức
tạp của các nguyên tử. Như vậy chỉ cần môi trường nóng lên một chút,
pḥng thí nghiệm rung nhẹ v́ chiếc xe tải vừa mới chạy qua hay thậm
chí một tia vũ trụ lang thang vô t́nh đi xuyên qua chip, sự
tính toán lượng tử sẽ sụp đổ và trở nên vô nghĩa. D-Wave có thực sự
đă thỏa măn được điều kiện cô lập và nhiệt độ gần như tuyệt đối cho
máy tính của ḿnh hay không? Thông tin này chưa được tiết lộ.
Dù sao đi nữa, theo chiều hướng phát triển hiện nay
không sớm th́ muộn con người sẽ sở hữu máy tính lượng tử với tốc độ
xử lư siêu việt. Nhưng gần đây trong thế giới sinh học người ta phát
hiện ra nhiều bằng chứng cho thấy thiên nhiên từ lúc tạo thiên lập
địa gần 4 tỷ năm trước đă biết làm thuật toán lượng tử [27-28]. Một
thí dụ điển h́nh là phản ứng quang hợp trong khuẩn lưu huỳnh xanh
(green sulphur bacteria) biến năng lượng mặt trời thành hóa năng để
cung cấp năng lượng cho sự trao đổi chất (metabolism) duy tŕ sự
sống [29]. Người ta đo được hiệu suất chuyển hoán từ năng lượng mặt
trời thành hóa năng trong vi khuẩn đạt đến 99 % [27]. Một hiệu suất
kinh ngạc đến sững sờ v́ chưa bao giờ có dụng cụ hay bộ máy chuyển
hoán nhân tạo nào có thể đạt đến con số tương đương. Cũng như máy
tính lượng tử giải mă được 2 thừa số của một số chứa 200 con số
trong vài phút, vi khuẩn "biết" thực hiện phép tính toán lượng tử cơ
bản để vận chuyển năng lượng mặt trời đến các trung tâm phản ứng
trong thời gian nhanh nhất. Đây là nguyên nhân của hiệu suất 99 % và
vi khuẩn hành xử như một máy tính lượng tử.
Ngoài ra, một khảo sát khác khiến cho các nhà vật lư
sửng sốt là trong khi máy lượng tử nhân tạo phải hoạt động trong một
môi trường cô lập và ở nhiệt độ gần zero tuyệt đối th́ "máy tính" vi
khuẩn thoải mái thực hiện thuật toán lượng tử trong một môi trường
nóng và ướt và liên thông với môi trường xung quanh. Khuẩn lưu huỳnh
xanh quả là một máy tính lượng tử lư tưởng đáp ứng mọi yêu cầu về
tốc độ, kích cỡ và sự tiện nghi (hoạt động trong môi trường ẩm nóng)
của người tiêu dùng. Thiên nhiên dường như biết nhiều thủ thuật vật
lư vượt trội hơn những bộ óc thông thái nhất của loài người.
8. Lời kết
Hơn nửa thế kỷ trước (1959), Richard Feynman, một
trong những nhà vật lư tài ba, hào hoa và sáng tạo nhất của thế kỷ
20, đă từng mô tả tiềm năng chế tạo những động cơ phân tử trong bài
thuyết tŕnh nổi tiếng "There's plenty of room at the bottom"
(Có rất nhiều chỗ trống ở miệt dưới). Phương thức chế tạo những động
cơ tí hon chẳng qua là nguyên tắc "từ dưới lên" của công nghệ nano.
Đây là một giấc mơ vĩ đại của các nhà khoa học và nền công nghệ nano
trong tương lai sẽ có cơ may ngạo nghễ đứng trên đỉnh cao của trí
tuệ loài người. Đến năm 1982, Feynman lại đưa ra một ư tưởng táo bạo
khác là khả năng chế tạo máy tính dựa vào những nguyên lư của cơ học
lượng tử. Những dự đoán thiên tài của Feynman không phải là sự tưởng
tượng tùy hứng của nhà văn viết truyện khoa học viễn tưởng mà là
những suy luận được gắn bó chặt chẽ với các định luật vật lư. Tầm
nh́n vượt thời gian của Feynman là một dự phóng cho máy tính và
những công cụ điện tử cho một trăm năm tới.
Đúng như dự đoán của Feynman, công nghệ nano xuất
hiện và phát triển gần 30 mươi năm qua. Việc tổng hợp các chất hữu
cơ bán dẫn càng lúc càng phong phú thúc đẩy việc truy t́m một vật
liệu hữu cơ nhằm thay thế silicon trong transistor đă đạt được một
thành công nhất định. Nhưng các loại transistor hữu cơ hiện tại kể
cả transistor ống than nano và graphene chưa đáp ứng được nhu cầu
vừa thu nhỏ vừa gia tăng tốc độ xử lư của chip để thay thế
transistor silicon và tiếp tục duy tŕ định luật Moore cho máy tính
tương lai. Hơn nữa, phương pháp "từ dưới lên" - một phương pháp của
công nghệ nano - thông qua cơ chế tự lắp ghép vẫn c̣n quá sơ khai để
chế tạo ra mạch tích hợp của transistor hữu cơ có sức mạnh tương
đương với chip silicon hiện tại.
Dù không thay thế được transistor silicon nhưng sự
phát triển của transistor hữu cơ vô t́nh hay cố ư đă mở ra một sân
chơi mới và trở thành nền tảng cho "khu vực nhu ḿ" [30] của công
nghiệp điện tử mà những sản phẩm mềm mại dần dà xuất hiện trên
thương trường và nhẹ nhàng đi vào đời sống của con người. Kỹ thuật
in phun chế tạo vi mạch của các linh kiện hữu cơ là một phương
pháp hiệu quả và ít tốn kém. Dù có thô thiển khi so với li-tô quang
của công nghệ silicon, phương pháp này sẽ thành h́nh các sản phẩm
điện tử hữu cơ mỏng, mềm, nhẹ, gọn và rẻ hơn và thậm chí có thể dùng
một lần (disposable). Trong tương lai điện thoại di động, laptop,
máy ảnh sẽ được cuốn tṛn đeo vai hay gấp lại bỏ túi.
Mặt khác,
theo chiều hướng công nghệ nano các nhà hóa học đă
tổng hợp các con thoi phân tử để thực hiện giấc mơ tạo ra những
chiếc máy tính to bằng hạt cát. Bước xa hơn là nối kết các máy tính
"hạt cát" như thiên nhiên đă chồng chập, nối kết các tế bào năo để
tạo thành các mạng tế bào phức tạp của bộ năo sinh vật. Ôi, con
người thật đầy tham vọng nhưng con người vẫn chưa có một phương pháp
"từ dưới lên" đầy uy lực như thiên nhiên khả dĩ thực hiện giấc mơ
táo bạo của ḿnh. Máy tính với kích cỡ của hạt bụi chỉ là một viễn
tượng mong manh hơn là một hiện thực trong tầm tay. Nó nằm đâu đó
giữa khoa học thật và khoa học viễn tưởng.
Máy tính lượng tử của công ty D-Wave dù thật hay
"rởm" nhưng nó cho thấy những thành quả cụ thể của các công tŕnh
nghiên cứu về vi tính lượng tử trong một thập niên qua và nỗ
lực biến máy tính lượng tử thành một công cụ thực dụng. Dự đoán
thiên tài của Feynman một lần nữa đă được thực chứng. Nhiều ư kiến
cho rằng trong những lư thuyết vật lư được phát hiện trong 100 năm
qua, lượng tử là một hệ thống lư luận "ngớ ngẩn" nhất. Đă có nhiều
khoa học gia kể cả thiên tài Einstein đă ngờ vực những điều "ngớ
ngẩn", phản trực giác của khái niệm lượng tử và công khai thách thức
lư thuyết này trước cộng đồng khoa học. Kể từ lúc được khai sinh cho
đến ngày nay, lượng tử là một đề tài tranh luận liên tục giữa các
nhà khoa học và đă có nhiều lư luận được đưa ra ḥng đánh sập lư
thuyết này. Nhưng cơ học lượng tử vẫn đứng vững trước những phong ba
băo táp và kỳ diệu thay cứ mỗi lần hứng chịu những thử thách th́ nó
lại minh chứng sự chính xác không thể tranh căi của ḿnh và lại tiến
thêm một bước mới trong ứng dụng. Máy tính lượng tử là một chứng cớ
điển h́nh.
Feynman nếu c̣n sống chắn hẳn sẽ rất cao hứng trước
những hiện thực xảy ra đúng như lời tiên đoán của ḿnh. Einstein nếu
hồi sinh th́ có lẽ ông sẽ rút lại câu nói bất hủ "Thượng đế không
chơi tṛ xí ngầu". Tột đỉnh ứng dụng của cơ học lượng tử sẽ là
chiếc máy tính với những con cù transistor nguyên tử. Con người sẽ
bước sang trang và tiến đến thời đại mới của công nghiệp điện tử với
những công cụ có tiềm năng gần như vô hạn. Nhưng, những tiềm năng đó
không có ǵ lạ đối với Mẹ thiên nhiên. Cả hai thiên tài Einstein và
Feynman sẽ rất ngạc nhiên trước những con vi khuẩn biết tuân thủ các
định luật vật lư và dùng thuật toán lượng tử trong quang hợp. Có lẽ
để hoàn thiện máy tính lượng tử con người phải học hỏi rất nhiều từ
những vi khuẩn quang hợp, thế giới thực vật và đám rong rêu đầm lầy.
Cũng không chừng, cơ cấu hành xử của bộ năo sinh vật kể cả con người
cũng đang bị ảnh hưởng của thuyết lượng tử; các tế bào năo cùng làm
những thuật toán lượng tử để t́m giải đáp và cách ứng xử qua những
hành động thông minh trong tích tắc.
Mẹ thiên nhiên là một khoa học gia siêu phàm vượt
thời gian. Con người chỉ lập lại những điều Mẹ thiên nhiên đă làm
hàng tỷ năm qua và như một Tôn Ngộ Không rắp tâm nhảy qua núi Ngũ
Hành nhưng cuối cùng vẫn rơi tơm vào bàn tay của Phật.
Cuối tháng 6, 2011
(Đă đăng trên diendan.org)
Tài liệu tham khảo và ghi chú
-
Trương Văn Tân, "Transistor:
Nhân tố của một cuộc cách mạng (phần 1)".
-
S. Frank, P. Poncharal,
Z. L. Wang and W. A. de Heer, Science, 280 (1998)
1774.
-
P. Poncharal, C.
Berger, Y. Yi, Z. L. Wang and W. A. de Heer, J. Phys. Chem. B,
106 (2002) 12104.
-
A. Javey, J. Guo, D.
B. Farmer, Q. Wang, D. W. Wang, R. G. Gordon, M. Lundstrom, and H.
J. Dai, Nano Lett., 4 (2004) 447.
-
X. Liang, S. Wang, X.
Wei, L. Ding, Y. Zhu, Z. Zhang, Q. Chen, Y. Li, J. Zhang and L.-M.
Peng, Adv. Mater., 21 (2009) 1339.
-
B. L. Allen, P. D.
Kichambare and A. Star, Adv. Mater., 19 (2007) 1439.
-
Ph. Avouris, Z. Chen
and V. Perebeinos, Nature Nanotechnology, 2 (2007)
605.
-
Ph. Avouris and R.
Martel, MRS Bulletin, 35 (April 2010) 306.
-
J. Appenzeller,
Proceedings of the IEEE, 96 (2008) 201.
-
A. A. Green and M. C.
Hersam, Adv. Mater., 23 (2011) 2185.
-
K. S. Novoselov, A. K.
Geim, S. V. Morozov, D. Jiang, Y. Zhang, S. V. Dubonos, I. V.
Grigorieva and A. A .Firsov, Science, 306 (2004)
666.
-
G. Horowitz, Adv.
Mater., 10 (1998) 365.
-
A. L. Briseno, S. C.
B. Mannsfeld, S. A. Jenekhe, Z. Bao and Y. Xia, Materials Today,
11 (April 2008) 38.
-
D.-M. Sun, M. Y.
Timmermans, Y. Tian, A. G. Nasibulin, E. I. Kauppinen, S.
Kishimoto, T. Mizutani and Y. Ohno, Nature Nanotechnology,
6 (2011) 156.
-
Z. Yin, Y. Huang, N.
Bu, X. Wang and Y. Xiong, Chinese Sci. Bull., 30
(2010) 3383.
-
"The future of
microelectronics – Silicon continues to reign supreme",
Materials Today, 6 (June 2006).
-
B. Y. Lee, M. G. Sung,
H. Lee, S. Namgung, S. Y. Park, D. S. Choi and S. Hong, NGP
Asia Materials, 2 (2010) 103.
-
T. Sekitani and T.
Someya, Adv. Mater., 22 (2010) 2228.
-
M. A. McCarthy, B.
Liu, A. G. Rinzler, Nano Lett., 10 (2010) 3467.
-
B. Liu, M. McCarthy,
Y. Yoon, D. Kim, Z. Wu, F. So, P. H. Holloway, J. R. Reynolds, J.
Guo and A. G. Rinzler, Adv. Mater., 20 (2008) 3605.
-
V. Balzani, A. Credi
and M. Venturi, "Molecular devices and machines" 2nd
edition, Wiley-VCH Verlag, Weinheim, 2008.
-
V. Balzani, A. Credi
and M. Venturi, Nano Today, 2 (April 2007) 18.
-
T. J. Huang et al,
Appl. Phys. Lett., 85 (2004) 5391.
-
J. Berná et al,
Nature Mater., 4 (2005) 704.
-
L. DiCarlo, J. M.
Chow, J. M. Gambetta, Lev S. Bishop, B. R. Johnson, D. I.Schuster,
J. Majer, A. Blais, L.Frunzio, S. M. Girvin, and R. J. Schoelkopf,
Nature, 460 (2009) 240.
-
M . W . Johnson et al,
Nature 473 (2011) 194.
-
S. Lloyd, "A
quantum of natural selection", Nature Physics, 5
(2009) 164.
-
P. Ball, "The dawn
of quantum biology", Nature, 474 (2011) 272.
-
Phản ứng quang hợp là
quá tŕnh chuyển hóa năng lượng mặt trời thành hoá năng (thường ở
dạng đường (sugar)) trong lá thực vật, rong rêu và một số vi khuẩn.
Sự va chạm của tia photon của ánh sáng mặt trời vào lá, rong rêu
hay vi khuẩn, sản sinh ra các hạt exciton. Giống nhưng một ḍng
nước bắn vào mặt đường, sau khi va chạm những hạt nước văng tung
toé. Ḍng nước là tia photon và hạt bắn ra là exciton. Hạt exciton
là cặp kết hợp giữa electron/lỗ (hole), electron mang điện tích âm
và lỗ mang điện tích dương. Hạt exciton có nhiệm vụ tải năng lượng
mặt trời tiến về phía trung tâm phản ứng, nơi này phản ứng sinh
hóa sẽ xảy ra để chuyển hóa năng lượng chứa trong exciton thành
hóa năng. Hóa năng là nguồn năng lượng dùng cho sự biến đổi chất
(metabolism) trong thực vật, rong rêu, vi khuẩn để duy tŕ sự sống.
Trong khuẩn lưu huỳnh xanh, một điều kinh ngạc là 99 % exciton tức
thời t́m ra trung tâm phản ứng, nghĩa là 99 % năng lượng mặt trời
được tải đến trung tâm phản ứng trong tích tắc. Đây là một hiệu
suất chuyển hoán cực kỳ lư tưởng không thể xảy ra trong các bộ máy
nhân tạo. Việc t́m trung tâm phản ứng trong một cấu trúc sinh học
phức tạp như khuẩn lưu huỳnh xanh là việc ṃ kim đáy biển. Tuy
nhiên, dưới tác động "kỳ quặc" lượng tử exciton như bóng ma có thể
chiếm cứ nhiều điểm trong cùng một cấu trúc. Cái khả năng "cảm"
được toàn thể cấu trúc cùng một lúc cho phép exciton t́m con đường
để tiến đến mục tiêu của nó trong thời gian ngắn nhất.
-
"Trăm năm để lại những ǵ.
Ấy là khu vực nhu ḿ của em"
(thơ Bùi Giáng).
(*) Anh Trương Văn Tân sinh quán tại tỉnh Sa Đéc,
cựu học sinh trường trung học Sa Đéc và Tống Phước Hiệp (Vĩnh Long).
Anh Tân đến Nhật cuối năm 1969. Anh tốt nghiệp Bachelor Eng.
(1975), Master Eng. (1977) trường Tokodai (Tokyo Institute of
Technology) và PhD (1980, University of Adelaide, Úc).
Anh Tân hiện làm việc tại Viện Khoa Học và Công Nghệ Quốc Pḥng (Defence
Science and Technology Organisation) trực thuộc Chính Phủ Liên Bang
Úc. Anh chuyên về Vật Liệu Học và hiện nghiên cứu về polymers dẫn
điện và ống nano carbon. Anh đă công bố gần 70 bài báo cáo khoa học
trên các tạp chí khoa học quốc tế. Xem thêm
những bài viết của anh Trương Văn Tân trên
ERCT |
|