|
Trăm
Năm Vật Lư: 1905 - 2005
Trương
Văn Tân - Exryu 70 Úc
Năm
2005 được các nhà vật lư trên thế
giới chọn làm Năm Thế Giới Vật Lư
(World Year of Physics) để kỷ niệm 100 năm
những thành tựu vĩ đại của Albert
Einstein. Các tạp chí khoa học như Scientific
American [1], Nature [2] đă phát hành đặc
san kỷ niệm Năm Thế Giới Vật lư
mà cũng là Năm Einstein (Einstein's Year). Vào năm
1905, khi Einstein vừa tṛn 26 tuổi ông là một
nhân viên b́nh thường của "Văn Pḥng
Kiểm Tra Bằng Phát Minh" (Patent Office) tại
Bern (Thụy Sĩ), tại đây ông đă liên
tiếp viết năm bài báo cáo khoa học
với ba đề tài khác nhau để
đăng lên tạp chí vật lư nổi
tiếng của Đức lúc bấy giờ, Annalen
der Physik. Những bài báo nầy đă làm
một cuộc cách mạng trong khoa học và
ảnh hưởng của nó trong lĩnh vực lư
thuyết cũng như áp dụng vẫn c̣n
lớn mạnh cho đến ngày hôm nay.
Một
vài năm trước đó (1901), Einstein đă
bị trường Đại Học Zurich đánh
rớt học vị tiến sĩ và bác bỏ
luận án của ông về một nghiên cứu
xuất sắc liên quan đến động
học của thể khí (kinetic theory of gas).
Mặc dù bị đánh rớt, ông vẫn kiên tŕ
tiếp tục nghiên cứu trong khoảng thời
gian rảnh rỗi khi làm việc tại "Văn
Pḥng Kiểm Tra" và bằng khả năng thiên
tài của ḿnh qua năm bài báo cáo trong Annalen
der Physik Einstein đă thành h́nh ba lư thuyết
vật lư mang tính đột phá và cách mạng hóa
tư duy khoa học con người. Ba lư thuyết
nầy là: (1) Thuyết tương đối
hẹp (Special theory of relativity), (2) Hiệu ứng
quang điện (Photoelectric effect) và (3) Chuyển
động Brown (Brownian motion). Ba lư thuyết nói
đến ba hiện tượng khác nhau không có
liên hệ trên mặt lư luận nhưng có
ảnh hưởng sâu xa đến nền
tảng của khoa học. Người ta thường
xem "Thuyết tương đối" như
là một biểu tượng của Einstein,
mặc dù hai lư thuyết kia cũng là những
đóng góp thiên tài của ông. Thật vậy,
khi Hàn Lâm Viện Thụy Điển trao cho ông
giải Nobel Vật Lư vào năm 1921, ông đă
được tuyên dương là đă có
những đóng góp ưu việt cho "lư
luận trong vật lư, nhất là sự khám phá
về qui luật của hiệu ứng quang điện".
Bộ
óc thiên tài của Einstein lúc nào cũng đi trước
thiên hạ, tiên đoán những sự kiện mà
hằng chục năm sau người ta mới
kiểm chứng được. Ông cũng cho chúng
ta biết những sự việc vượt qua
những cảm nhận thông thường cơ
hồ chỉ xuất hiện trong những
truyện khoa học giả tưởng hay cổ
tích thần thoại. Thuyết tương đối
của Einstein đă làm thay đổi lối suy
nghĩ cổ điển về thời gian và không
gian dựa trên những cảm giác b́nh thường
mà cơ học Newton đă dùng làm cơ sở.
Không phải Newton sai nhưng qui luật Newton
chỉ đúng khi chúng ta di chuyển ở tốc
độ b́nh thường. Lúc đó 1 giây là 1
giây, 1 mét là 1 mét. Tuy nhiên, khi chúng ta di chuyển
với một tốc độ gần tốc
độ ánh sáng thời gian và không gian sẽ
bị co lại. Khi thành h́nh xong thuyết tương
đối, Einstein vui miệng thốt lên "Ông
Newton ơi! Hăy tha thứ cho tôi".... Có người
hỏi Einstein thế nào là khái niệm thời
gian trong thuyết tương đối và xin ông
giải thích một cách đơn giản
nhất. Ông hóm hỉnh trả lời "Khi anh
ngồi trên đống lửa 1 giây anh cảm
thấy như 1 giờ, nhưng khi một cô gái
trẻ đẹp ngồi trên đùi anh 1 giờ
anh có cảm giác như 1 giây!".
Muốn
trẻ măi không già theo thuyết tương đối
của Einstein, ta phải di chuyển thật nhanh
để tận hưởng tuổi thanh xuân
được kéo dài nhờ vào vận tốc.
Tốc độ ánh sáng là 300 000 km/giây; trong
một giây ánh sáng có thể đi ṿng quanh
thế giới 7.5 lần. Nếu ta ngồi trên
một phi thuyền bay với tốc độ
bằng 99% tốc độ ánh sáng ta sẽ làm
chậm quá tŕnh lăo hóa 7 lần; ta đi chơi
10 năm trên phi thuyền th́ trên trần thế
70 năm đă trôi qua. Khi ta tăng tốc độ
của phi thuyền đến 99.9% của tốc
độ ánh sáng th́ sau 10 năm chu du 280 năm
đă trôi qua [3]. Lúc trở về quả đất
ta chỉ gặp chắt chít của những người
bạn 280 năm trước đó! Thuyết tương
đối của Einstein đúng là trái đào tiên
"cải lăo hoàn đồng". Ta sẽ thành
một Từ Thức hay một Urashima Taro hiện
đại. Chỉ khác Từ Thức của Trung
Quốc là ta phải ở măi trong phi thuyền nên
không có màn vui chơi phè phởn thâu đêm
suốt sáng với các nàng tiên nữ ở đỉnh
Vu Sơn hay với các nàng long nữ Thủy Cung
như chú Urashima Taro của Nhật Bản. Nhà thơ
Hàn Mặc Tử của Việt Nam cũng có
lần mơ mộng:
Tây
Thi nàng hỡi bao nhiêu tuổi
Vẻ đẹp mê tơi đến nơn nà
Tôi lạy muôn v́ tinh tú nhé
Xin đừng lay chuyển để thời gian
Chậm đi cho kẻ tôi yêu dấu
Vẫn giữ màu tươi một mỹ nhân
[4]
Hàn
Mặc Tử sẽ không phải khẩn cầu
muôn v́ tinh tú nếu vài ngàn năm trước
đó
Tây Thi bước lên một chiếc phi thuyền
bay với một tốc độ cỡ 99.99%
tốc độ ánh sáng th́ có lẽ nhà thơ
đă gặp người trong mộng!
Hiệu
ứng quang điện được xem là
một trong những thành tựu to lớn của
Einstein. Hiệu ứng nầy mô tả khả năng
của ánh sáng (quang) khi được chiếu trên
bề mặt kim loại có thể đánh bật
(dislodge) electron (điện) ra khỏi bề
mặt nầy. Hiện tượng nầy đă
được ghi nhận bởi các nhà khoa
học Pháp vào năm 1839 nhưng phải đợi
măi đến năm 1905 mới được
Einstein giải thích rơ ràng dựa trên đặc
tính lượng tử của ánh sáng (quantum
properties of light). Nếu dựa vào lư luận
của vật lư cổ điển theo đó
"ánh sáng là luồng sóng liên tục mà năng
lượng của nó phân bố trên mặt sóng",
th́ ánh sáng không bao giờ đủ sức để
đẩy electron ra khỏi bề mặt kim
loại. Để giải thích hiệu ứng
quang điện Einstein đưa ra khái niệm
hạt photon (quang tử) mà ánh sáng lúc nầy không
phải là sóng nữa mà là những hạt photon
mang những bó năng lượng bắn lên
bề mặt kim loại để tống electron
của kim loại ra ngoài. Đặc tính nhị
nguyên của ánh sáng vừa là sóng vừa là
hạt nói lên hai mặt của sự vật
"đi với thầy chùa mặc áo cà sa,
đi với ma mặc áo giấy"! Năm 1923,
de Broglie đă đưa ra một giả
thuyết ngược lại nhưng cũng không
kém phần táo bạo. Theo ông hạt vật
chất (thí dụ: electron) cũng có những
đặc tính của sóng như hiện tượng
nhiễu xạ (diffraction) hoặc giao thoa
(interference). Như vậy, sóng có thể là
hạt mà hạt cũng có thể là sóng. Tính
chất nhị nguyên của sóng và hạt cho
thấy sự hài ḥa và cân bằng của sự
vật; hai biểu hiện tưởng chừng như
riêng lẻ mà thật ra là hai mặt của
một thể thống nhất. Hiệu ứng
quang điện đưa đến sự khám phá
laser và ngày hôm nay có những áp dụng quan
trọng như chế tạo pin mặt trời
(solar cell), những bộ cảm biến (sensor)
gắn vào cửa đóng mở tự động
ở các văn pḥng hoặc những linh kiện
quang học dùng trong video camera.
Người
ta chỉ biết Einstein nổi tiếng với
những chuyện có "tầm vóc" như:
vận tốc của ánh sáng, vận mạng
của vũ trụ hay bản chất của
thời gian. Thật ra, những "chuyện
nhỏ" như sự chuyển động
của hạt bụi cũng không lọt ra ngoài
sự quan sát của Einstein. Công tŕnh của
Einstein về việc định lượng hóa
chuyển động Brown có lẽ ít được
người ta biết đến. Chuyển động
được mang tên Brown là v́ do nhà thực
vật học Robert Brown quan sát đầu tiên
ở thế kỷ thứ 19. Dưới ống kính
hiển vi, Brown nh́n thấy những hạt bông
phấn vừa lơ lửng trong nước
vừa nhảy loạn xạ (random). Thoạt
đầu Brown tin rằng v́ là thực vật nên
bông phấn là một vật "sống"
(alive) tự nó có thể tùy tiện di động!
Tuy nhiên khi Brown dùng bột mài từ đá,
những hạt bột đá cho một hiện tượng
tương tự. Đây là một hiện tượng
chung cho hệ thống colloids, tức là những
dung dịch mang những hạt nhỏ (~ 1 mm)
lơ lửng nhưng không trầm hiện (thí
dụ: nước sơn, nước bùn, nước
phù sa). Phân tích dựa trên lư luận động
học của phân tử (molecular kinetics) Einstein [5]
đă cho chúng ta biết được một cách
chính xác rằng sự di động xem chừng
như là "vô nguyên tắc" của hạt
bụi, bông phấn hay hạt bùn trong nước
chẳng qua là do sự xô đẩy va chạm
của những phân tử nước di động.
H́nh ảnh nầy cũng giống như một
ông khổng lồ (hạt bụi hay hạt bông
phấn) bị bao vây và xô đẩy giữa
một rừng người tí hon (phân tử nước)
[6]. Những phân tử nầy di động
được là do sự kích động
nhiệt. V́ vậy, nhiệt độ càng cao
sự xô đẩy càng nhiều và sự di
chuyển càng nhanh. Những hạt nhỏ luôn luôn
di động được nhờ nhiệt
của môi trường xung quanh nên sự trầm
hiện và ngưng tụ giữa các hạt không
bao giờ xảy ra. Đó là đặc tính
của những dung dịch colloids. Nhưng câu
chuyện của chuyển động Brown không
chỉ hạn chế ở khoa học tự nhiên.
Phương pháp toán học dùng để dự
đoán những bước "túy quyền"
(vơ của người say) của Einstein được
các nhà phân tích kinh tế hiện đại áp
dụng để phân tích sự lên xuống
thị trường chứng khoán và chỉ
số của các cổ phiếu.
Cùng
với các nhà vật lư lỗi lạc khác Einstein
đă có những đóng góp to lớn để
tạo ra môn cơ học lượng tử
(quantum mechanics) và cơ học thống kê
(statistical mechanics) ở đầu thế kỷ
thứ 20. Tiếc thay, mặc dù ông là một
trong những người tiên phong đưa ra khái
niệm lượng tử ông phủ nhận tính
xác suất của cơ học lượng
tử và nguyên lư bất định của
Heisenberg. Bộ óc dù thiên tài nhưng mang tính
cố chấp chỉ đưa đến sai
lầm. Trong những năm c̣n lại của
cuộc đời ông sự cố chấp đă
cô lập ông với những người bạn
đồng nghiệp. Cũng trong khoảng
thời gian nầy ông đă cố gắng nhưng
không thành công trong việc đưa ra một
khung lư luận để thành h́nh lư thuyết trường
thống nhất (unified field theory) trong đó ông
muốn chứng minh trọng trường
(gravitation field) và điện từ trường
(electromagnetic field) chỉ là hai mặt của
một vấn đề. Những người
đi sau tiếp tục công tŕnh nầy với
một thái độ phóng khoáng hơn, họ không
mang thiên kiến của Einstein mà c̣n chấp
nhận thuyết lượng tử là một lư
luận không thể thiếu trong việc thành h́nh
lư thuyết trường thống nhất mà bây
giờ được gọi là thuyết của
tất cả mọi lực (theory of everything).
Giải Nobel Vật Lư năm 2004 đă trao cho
Gross, Politzer và Wilczek đánh dấu một bước
ngoặc lớn trên con đường đi đến
việc hoàn chỉnh của lư thuyết nầy.
Nguyên
lư bất định của Heisenberg đă cho chúng
ta h́nh dung được vũ trụ khi c̣n trong
trứng nước và đưa chúng ta đến
thời điểm 10-43 giây (0.000000…….1
giây, 42 con số không sau dấu chấm) sau Big Bang
(tức là thời điểm zero). Thời điểm
10-43 giây rất gần zero nhưng vẫn
chưa phải zero. Thời điểm nầy
được gọi là thời gian Planck hay
"bức tường" Planck. Bức tường
nầy nói lên giới hạn của vật lư
hiện đại, nhưng nó không phải là chướng
ngại vật tồn tại vĩnh viễn ngăn
chận sự tiến hóa của tư duy con người.
Người ta tin rằng sau khi thuyết của
tất mọi lực (theory of everything) được
thành lập, bức tường Planck sẽ
sụp đổ. Lúc đó, vật lư không
những sẽ đưa chúng ta đến
thời điểm zero của Big Bang mà c̣n có
thể cho biết những hiện tượng
xảy ra trước đó.
Trong
việc truy t́m nguồn gốc của vũ
trụ, mười năm trước đây
một câu hỏi táo bạo được đặt
ra "Trước Big Bang là ǵ?". Để
trả lời câu hỏi nầy hai lư thuyết
quan trọng mà người ta cho một cái tên
chung là "pre-Big Bang theory" (lư thuyết trước-Big-Bang)
ra đời. Đó là lư thuyết dây (string
theory) [7] và thuyết "loop quantum gravity" [8].
Hai lư thuyết nầy cũng dựa trên cơ
sở lượng tử cho rằng Big Bang không
phải là khởi điểm của vũ
trụ mà chỉ là kết quả của một
trạng thái có trước đó (pre-existing
state). Như một thói quen, ta thường có
khuynh hướng áp đặt điểm
khởi đầu cho mọi sự việc như
vẽ một đường thẳng với
một khởi điểm. Đây có thể là
một "thiên đường mù" mà người
ta ùa vào tranh nhau giải thích cái khởi điểm
không bao giờ hiện hữu. Mặt khác, ta có
thể vẽ một ṿng tṛn mà trong đó
một chuỗi sự kiện xảy ra liên
tục tuần tự "vô sinh vô diệt" không
bao giờ dứt.
Cho
đến đầu thế kỷ 20 chưa bao
giờ trong lịch sử nhân loại và khoa
học người ta thấy một "thiên hà"
qui tụ đông đảo những ngôi sao khoa
học sáng chói như Bohr, Planck, Heisenberg, de Broglie,
Curie, Rutherford, Nerst, Langevin v.v... mà trong đó
Einstein là một ngôi sao đầu đàn. Một
trăm năm kỷ niệm những thành tựu
siêu việt của một thiên tài cũng là
một trăm năm tôn vinh môn cơ học lượng
tử đă được xem như thành quả
của một công tŕnh nghiên cứu tập
thể qua nhiều thế hệ. Công tŕnh nầy
đă định thức hóa và thăng hoa tư
duy suy luận con người để giải thích
từ những cái to nhất như vũ trụ
cho đến những cái nhỏ nhất như
hạt sơ cấp. Những công tŕnh đó
đă được xác nhận bằng thực
nghiệm và quan sát. Trên cơ sở cơ học
lượng tử, những sự kiện vật
lư đă được mô tả bằng
những phương tŕnh toán học chính xác và
cũng từ đó con người đă biết
lợi dụng những định luật khoa
học vào cuộc sống đời thường.
Không biết đáng vui hay đáng buồn, khi
những phương tŕnh nầy không bao giờ có
những tham số hay biến số đại
diện cho sự can thiệp tùy tiện của
thần linh hay thượng đế.
Đương
nhiên, con người sẽ không bao giờ
hiểu hết thiên nhiên, v́ thiên nhiên c̣n
nhiều bí ẩn th́ mới tiếp tục cung
cấp chất liệu kích thích sự tiến
bộ của khoa học. Thiên nhiên cũng như
một "jigsaw puzzle" mà khoa học cố
gắng làm thành một bức tranh hoàn mỹ. Có
những khoảng trống nơi mà khoa học chưa
giải thích được th́ ở đấy
thần linh xuất hiện. Nhưng khi có ánh sáng
khoa học soi vào những khoảng trống tăm
tối này th́ thần linh sẽ trở thành
những bóng ma cuốn gói ra đi. Dù cho thiên nhiên
được "khai sinh" bởi một
Đấng Tối Cao th́ sẽ có một lúc Khoa
Học khiêm tốn hỏi rằng "Ông ơi!
Ông là ai và ông từ đâu đến?". Và các
nhà khoa học cũng không ngần ngại đặt
Đấng Tối Cao dưới ống kính
hiển vi để quan sát hay "kính nhi viễn
chi" chân dung của Ngài bằng viễn
vọng kính từ xa….
Một
trăm năm vật lư đă giúp con người
rủ bỏ được sự kềm kẹp
của cơ học cổ điển Newton và
để lại cho chúng ta một kho tàng kiến
thức khoa học vĩ đại với
những áp dụng thực tiễn đóng góp vào
sự phong phú và đa dạng của đời
sống con người; những áp dụng mà cách
đây một trăm năm người ta không
bao giờ tưởng tượng nổi dù
ở trong giấc mơ hoang tưởng nhất.
Những nhà khoa học vẫn tiếp tục con
đường vô tận của nghiên cứu
từ thế hệ nầy qua thế hệ khác và
ta có thể loại suy từ những thành công vượt
bực của những nỗ lực nghiên cứu
hiện nay đến một trăm năm kế
tiếp là con người sẽ hiểu rơ hơn
về sự hiện hữu của ḿnh, của
thế giới xung quanh và của vũ trụ. Lúc
đó những khái niệm lâu đời trong
Triết Học phương Đông sẽ ḥa
nhập với những phương tŕnh toán
học của Khoa Học phương Tây và h́nh
ảnh của một Đấng Tối Cao
vạn năng có thể chỉ c̣n là một
huyền thoại của một câu chuyện
thời Trung Cổ.
Xuân
Ất Dậu (2005)
TVT
Ghi
chú và tài liệu đọc thêm:
(1)
Scientific American, Special Issue "Beyond
Einstein", September 2004
(2)
Nature, 20 January 2005
(3)
Trinh Xuan Thuan, "Giai điệu bí ẩn
và con người đă tạo ra vũ
trụ" (Phạm Văn Thiều dịch),
NXB Khoa Học và Kỹ Thuật, Hà Nội 2000
(4)
Cám ơn anh NTQ đă chép lại bài thơ
(5)
Albert Einstein, "Investigations on the theory of the
Brownian movement", Dover Publications, 1956
(6)
Hoạt cảnh "người khổng
lồ và người tí hon" có thể xem
ở website www.phy.ntnu.edu.tw/java/gas2D/gas2D.html
(7)
Scientific American, May 2004, pp 55
(8)
Scientific American, January 2004, pp 66
|