|
Những
Phương Tŕnh Vĩ Đại Trương Văn Tân - Exryu Úc Châu Trong một cuộc thăm ḍ ư kiến độc
giả trong tạp chí "Physics World", Ban Biên
Tập đưa ra một câu hỏi "Theo ư
bạn phương tŕnh nào là phương tŕnh vĩ
đại nhất trong khoa học". Độc
giả đưa ra 20 phương tŕnh. Trong số
nầy công thức diễn tả bản chất sóng
điện từ của Maxwell và phương tŕnh toán
của Euler được xem là hai công thức vĩ
đại nhất từ trước đến nay.
Những phương tŕnh c̣n lại là những công
thức nổi tiếng của Pythagoras, Newton, Einstein,
Schrödinger v.v… và thậm chí phương tŕnh 1 + 1 = 2.
Khi bắt đầu bài viết nầy nói về sóng
điện từ, tôi bất giác nh́n qua cửa
sổ vào khu vườn sau nhà tôi. Bây giờ là mùa
Xuân. Ánh nắng b́nh minh của mùa Xuân nhẹ nhàng và
tràn ngập làm ấm không gian đẩy lùi cái
ảm đạm u ám của mùa Đông. Lộc xanh trên
cành cây trụi lá bắt đầu ló dạng cùng
với những nụ hoa thủy tiên, hoa hồng, hoa
tulip thi đua nhau nở trong những khóm hoa dọc
theo hàng dậu. "Khách xá thanh thanh liễu sắc
tân"…Vạn vật như sống lại
với muôn vàn màu sắc trong tiếng chim hót líu lo
sau những tháng dài mùa Đông lạnh lẽo. Từ
một khung cảnh hài hoà đầy tính chất văn
học, tôi muốn đưa các bạn đến
một cách nh́n khác; một cách nh́n khoa học kém lăng
mạn hơn, trần tục hơn nhưng đi sâu
vào bản chất sự vật. Cái hoạt cảnh mùa
Xuân tràn đầy ư thơ vừa được mô
tả sẽ tức khắc biến mất trên
quả địa cầu nầy nếu không có sự
hiện hữu của sóng điện từ. Ánh sáng và nhiệt là một phần của phổ
sóng điện từ. Như
định nghĩa, sóng điện từ là do sự
kết hợp của điện trường và
từ trường. Những làn sóng nầy tràn
ngập không gian nơi ta ở. Nó có thể là sóng
thiên nhiên có sẵn trong vũ trụ hay sóng nhân
tạo. Người ta dùng độ dài sóng để
phân biệt các loại sóng khác nhau. Sóng radio có độ
dài sóng dài nhất đến hàng chục km và tia
gamma có độ dài sóng ngắn nhất 10-12
m. Vùng ánh sáng thấy được (từ màu đỏ
đến màu tím) có độ dài sóng trong khoảng
0.4 µm (màu tím, µm = 10-6 m) đến 0.8 µm (màu
đỏ). Theo thứ tự của độ dài sóng,
người ta phân loại các loại sóng như sau: Sóng radio (km – m)> vi ba (microwave) (cm – mm) > tia
hồng ngoại (infrared) (µm) > ánh sáng thấy
được (10-7 m)> tia tử ngoại
(ultraviolet) (10-8 m)> tia X (10-9 – 10-11
m)> tia gamma (10-12 m). Sóng điện từ có tác dụng không nhỏ vào
đời sống thường nhật của con người.
Sóng radio được áp dụng trong vô tuyến
viễn thông. Vi ba (microwave) được dùng trong
radar, viễn thông với vệ tinh, điện
thoại di động hoặc để làm một
buổi ăn ngon với ḷ vi ba (microwave oven). Tia
hồng ngoại là nhiệt cho ta sự ấm áp. Ánh
sáng thấy được rất cần thiết cho
sự sống vạn vật, nó tác động
với diệp lục tố của thực vật
trong quang hợp (photo synthesis), cho sự sống c̣n
của cây cỏ và cũng là môi trường vận
chuyển thông tin cho dây cáp quang học (optical cable). Tia
tử ngoại là tia kích động phản ứng trùng
hợp polymer, đặc biệt là những composite nha
khoa (dental composite) dùng để trám răng. Tia X quan
trọng trong nhiều áp dụng y khoa. Tia gamma là tia phóng
xạ có năng lượng cao nhất trong các
loại sóng được dùng để trị
liệu ung thư. Bản chất của sóng điện từ
được diễn tả bởi 4 công thức
ngắn gọn của nhà vật lư học James Clerk
Maxwell người Scotland vào năm 1873. Ông đă
kết hợp điện trường và từ trường
vào một hệ thống chung là sóng điện
từ, mà trước đây người ta cứ
ngỡ là hai khái niệm riêng lẻ. Một công
thức được viết ra từ thế kỷ
19 nhưng vẫn c̣n ảnh hưởng cực kỳ
sâu rộng cho đến ngày hôm nay trong lư luận
điện từ trường cũng như trong áp
dụng của ngành viễn thông như thiết
kế ăng ten cho điện thoại di động
hoặc ăng ten cho radar "chân trời" (over
horizon radar) để theo dơi sự di động
của một vật thể cách xa 5000 – 10000 km. Độc giả của tạp chí cũng cho định
luật thứ 2 của Newton, F = ma, là một công
thức tuyệt vời. Định luật nầy cho
biết sự liên hệ giữa lực F,
khối lượng của một vật m và
hằng số gia tốc a. Dù với một công
thức đơn giản như vậy người ta
vẫn có thể dùng để thiết kế một
chiếc xe hơi thế nào để có thể gia
tốc từ 0 đến 100 km/h trong 10 giây hoặc có
thể tính được một lực cần
thiết để đẩy hỏa tiển ra
khỏi sức hút của quả đất bay vào vũ
trụ. Định luật nầy cũng cho biết tác
động của trái đất lên người
của bạn: lực hấp dẫn của trọng
trường. Bạn cân nặng 70 kg có nghĩa là trái
đất tác động lên bạn một lực F
= 70 kg mà hằng số a là gia tốc trọng trường
có con số là 9.8 m/s2. Nếu bạn bay vào không
gian nơi không c̣n ảnh hưởng của trọng
trường (a = 0) bạn sẽ mất trọng
lượng, người bạn nhẹ tợ hồng
mao bay lơ lửng. Giả dụ sau đó bạn
sẽ đáp xuống một hành tinh nặng gấp
10 lần trái đất, lúc bấy giờ trọng lượng
của bạn sẽ là 700 kg! Lúc đó bạn sẽ
đi đứng rất khó khăn, người
bạn sẽ lùn xuống, xương sẽ bị găy
dễ dàng bởi lẽ những khúc xương
chỉ được thiết kế để có
thể chịu được một sức nặng
70 kg. Định luật thứ 2 của Newton được
phát hiện từ quan sát thí nghiệm nhưng có
một ư nghĩa vật lư sâu xa. Nó mô tả tác
dụng hổ tương của những vật
(object) có khối lượng. Lực nầy hiện rơ
giữa những vật thể có khối lượng
thật lớn chẳng hạn như các hành tinh. Ánh
sáng truyền theo đường thẳng, nhưng khi
ánh sáng "du hành" trong vũ trụ đường
đi bị bẻ cong do lực hút F khi đi
gần các hành tinh có khối lượng rất
lớn. Nếu hành tinh nầy là một lỗ đen
(black hole) cực kỳ đặc với khối lượng
cực to, ánh sáng sẽ bị hút vào lỗ đen.
Khi hai người khác phái đi ngang nhau, có thể
họ bị hấp dẫn với nhau nhưng lực
nầy chỉ là lực "tâm lư". Chúng ta không nên
đổ lỗi cho Newton, bởi v́ khối lượng
con người rất nhỏ so với hành tinh nên
lực hút "vật lư" F tác động lên
nhau giữa hai nhân vật có thể xem như zero… Một phương tŕnh vĩ đại khác có
ảnh hưởng sâu xa đến đời
sống con người là công thức của Einstein E
= mc2. Ở đây, E là năng lượng, m
là khối lượng một vật và c là
vận tốc ánh sáng (300 000 km/s). Một công thức
rất đơn giản nhưng nó kết hợp 3
yếu tố hoàn toàn xa lạ với nhau. Lần
đầu tiên trong lịch sử khoa học người
ta biết được vật chất cũng là
một dạng năng lượng. Bằng một phương
pháp nào đó, phản ứng hach nhân chẳng
hạn, khối lượng nhỏ của một
vật chất bị hủy diệt sẽ chuyển
sang một lượng năng lượng cực
lớn v́ hằng số c2 rất
lớn. Một quả bom nguyên tử nặng vài trăm
kư lô có thể hủy diệt cả một thành
phố như lịch sử đă chứng kiến
độ tàn khốc đă xảy ra tại Hiroshima và
Nagasaki ở những ngày cuối cùng của Thế
Chiến thứ 2. Mặt khác, nhà máy phát điện
nguyên tử sẽ cho chúng ta một nguồn năng lượng
vô biên nếu các nhà khoa học có phương
tiện xử lư những vật liệu phế
thải phóng xạ một cách an toàn. Phương tŕnh Schrödinger là khởi điểm
của cơ học lượng tử ở đầu
thế kỷ 20. Phương tŕnh nầy được
diễn tả dưới một dạng đơn
giản, HY
= EY,
mà Y
là một hàm số để tính xác suất t́m
thấy một hạt nhỏ trong thế giới vi mô
(micro). Có lẽ khi khám phá ra phương tŕnh nầy
Erwin Schrödinger c̣n cao hứng hơn cả Archimede khi phát
hiện được sức đẩy của nước
lúc ngâm trong bồn tắm; Archimede nhảy ra khỏi
bồn chạy ra ngoài đường trần
truồng như nhộng la lớn "Eureka!". Schrödinger
người Áo đă viết ra phương tŕnh
nầy trong một chuyến đi chơi vui vẻ
với cô bạn gái của ḿnh trong vùng rừng núi
Alps…. Sau cuộc đóng góp to tát nầy, Schrödinger
từ giă ngành vật lư để nghiên cứu sinh
học. Nơi đây ông cũng đă để
lại nhiều dấu ấn quan trọng. Trong thế giới vi mô của các vật cực
nhỏ như phân tử, nguyên tử, hạt sơ
cấp (proton, neutron, electron) những định
luật của cơ học cổ điển Newton cho
các vật to của thế giới vĩ mô (macro)
trở nên vô hiệu. Trong thế giới vĩ mô, khi
tôi nói "Quê tôi cách Sài G̣n 142 km về phía Tây"
th́ đây là một câu nói khẳng định chính
xác 100 % vị trí của quê tôi. Các bạn có thể
nhắm mắt ngồi đúng chuyến xe khách về
miền Tây th́ chỉ trong vài tiếng lái từ Sài G̣n
bạn sẽ đến quê tôi. Nhưng trong thế
giới của các hạt nhỏ, ta không thể xác
định vị trí của hạt chính xác 100 %.
Hạt lúc ẩn lúc hiện "có có không không".
Hàm số Y
của phương tŕnh Schrödinger định lượng
hóa xác suất hiện hữu của hạt ở
một vị trí nào đó của một khoảng không
gian. Một cột trụ thứ hai của cơ học
lượng tử là nguyên lư bất xác định
của Heisenberg. Werner Heisenberg người Đức
đă từng được Hitler tham vấn khả năng
làm bom nguyên tử cho Đức Quốc Xă. Nguyên lư
của ông cho biết trong thế giới vi mô chúng ta
không thể xác định chính xác cùng một lúc
vị trí và vận tốc của một hạt như
electron chẳng hạn. Đây là hiện tượng
"nḥe lượng tử". Trở lại
chuyến xe khách đi về quê cũ của tôi.
Từ Sài G̣n chiếc xe đi với vận tốc 70
km/h trên Quốc Lộ số 4. Điều nầy có
nghĩa là sau một tiếng đồng hồ,
chiếc xe khách của tôi sẽ đến Ngă Ba Trung
Lương trên đường về quê….
Ta biết được vị trí và vận
tốc chiếc xe một cách chắc chắn và rơ ràng
(trừ trường hợp xe bị x́ lốp
giữa đường!). Ngược lại, chúng ta
không thể theo dơi chuyển động của electron
xác nhận cùng một lúc vị trí và vận tốc
dù ta có dụng cụ quan sát tinh vi đến đâu
đi nữa. Nếu ta biết được chính xác
vận tốc của electron, sai số để định
vị trí electron sẽ vô cùng lớn và ngược
lại. Như vậy, tính ngẫu nhiên từ xác suất
của phương tŕnh Schrödinger và sự nḥe mờ
trong nguyên lư bất xác định Heisenberg ngự
trị thế giới vi mô của cơ học lượng
tử. Cái "có có không không" nầy đă cho
con người một vũ khí suy luận về đặc
tính vật lư của những cái nhỏ nhất nơi
mà những định luật của cơ học
cổ điển phải lùi bước. Dù vậy,
Einstein cho đến lúc những ngày cuối cùng
của đời ông vẫn không tin vào tính xác
suất của cơ học lượng tử và
sự "nḥe lượng tử" của nguyên lư
Heisenberg. Có lần ông thốt lên "Chúa không chơi
tṛ xúc sắc". Thiên tài cũng có lúc phạm sai
lầm! Những phương tŕnh vĩ đại thường
thường được mô tả dưới
một dạng rất đơn giản và dễ
hiểu. Một phương tŕnh càng hoàn mỹ khi nó
có tính tổng quát và tính thống nhất càng cao. Cái
tuyệt vời của phương tŕnh Maxwell là ngoài
việc thống nhất được điện trường
và từ trường mà c̣n tổng quát hóa được
các đặc tính chung của sóng radio có độ dài
sóng dài hàng ngàn mét đến tia gamma với độ
dài sóng tương đương với kích thước
nguyên tử. Sức mạnh của những phương
tŕnh vĩ đại là nó làm thay đổi những
điều ta suy nghĩ về thế giới xung quanh.
Những điều lắm lúc xem chừng như
nghịch lư nhưng hiện hữu. Nó cho ta cái nh́n ḥa
hợp trong một khái niệm thống nhất về
cái mà ta vẫn tưởng là rời rạc, riêng
lẻ. Năng lượng và khối lượng. Sóng
và hạt. Xác suất và hiện hữu. Tất định
và bất định…. Tuy nhiên, các phương tŕnh
nầy không phải chỉ dừng ở chỗ
diễn tả đặc tính của hiện tượng
hoặc giải thích vấn đề mà c̣n thuyết
minh và dự đoán những điều mới khác
xảy trong thiên nhiên. Tính thống nhất của
những mặt đối lập riêng lẻ đă
được đề cập nhiều trong triết
học phương Đông, nhưng chính khoa học phương
Tây đă định thức hóa trong một hệ
thống lư luận hoàn chỉnh.
Trước khi chấm dứt bài viết nầy, tôi
nh́n ra khung cửa một lần nữa. Ánh nắng hoàng
hôn rơi rớt trên băi cỏ dường như
muốn níu kéo những giây phút c̣n lại của
một ngày Chủ Nhật tiết Xuân nắng
tốt. Tiếng chim líu lo của buổi sáng bây
giờ là những tiếng kêu lao xao của đàn
chim gọi nhau về tổ. Sau cái ồn ào hỗn
độn nầy sẽ là cái im lặng hài ḥa khi màn
đêm buông xuống. Tôi chợt nghĩ đến
sự nối tiếp tuần hoàn của hài ḥa và
hỗn độn; hai yếu tố đối lập
cũng đă được con người đưa
vào những phương tŕnh toán học tuyệt
mỹ. Mùa Xuân Nam Bán Cầu Melbourne, October 2004 Trương Văn Tân Cảm tưởng về bài viết của Trương Văn Tân xin gởi về tvtan@erct.com |