|
Mỹ học
trong cấu trúc nano: bề mặt lá sen
và hoa hồng
Trương Văn
Tân
"God made
solids, but surfaces were made by devils"
Wolfgang Pauli (Nobel Laureate in Physics, 1945)
1. Bức tranh
đồng quê
Ao sen trong
một ngôi đình làng bình dị hay một ngôi chùa tôn nghiêm là một hình
ảnh vô cùng thân thiết của làng xóm Việt Nam. Thấp thoáng trong đó
cái tĩnh lặng của ao sen, cái lung linh của những giọt sương mai đọng
trên thảm cỏ xanh, vo ve tiếng của những loài côn trùng bay qua lại, thỉnh
thoảng nhẹ nhàng đáp xuống mặt nước làm dao động mặt hồ yên tĩnh.
Đằng kia bờ ao, con vịt mẹ dẫn một đàn con mới nở luồn lạch vào
những khóm sen tìm mồi. Tất cả là những nét chấm phá thiên nhiên tạo
thành một bức tranh mộc mạc đồng quê.
Vài năm
trước, người viết có dịp ghé thăm Tây Hồ thuộc thành phố Hàng Châu (tỉnh
Chiết Giang, Trung Quốc). Một góc của Tây Hồ là hồ sen đẹp nổi tiếng
từ xưa. Một nhà thơ đời Tống khi dừng chân ở chốn này tức cảnh sinh
tình viết lên một bài Đường thi tuyệt cú:
Tất cánh Tây
Hồ lục nguyệt trung
Phong quang
bất dữ tứ thời đồng
Tiếp thiên
liên diệp vô cùng bích
Ánh nhật hà
hoa biệt dạng hồng
(Dương Vạn Lý)
Tạm dịch:
Cuối cùng
Tây hồ đi vào tháng sáu
Cảnh vật
không như bốn mùa trong năm
Lá sen xanh
biếc tiếp nối đến chân trời
Hoa sen phản
ánh mặt trời khoe dáng hồng đặc biệt
Đại văn hào
Nguyễn Du cũng có lúc thả hồn nhớ thương cho một bóng hồng của một
chân trời cũ, gởi gấm lòng mình vào bài thơ "Mộng đắc thái liên"
(Nằm mộng thấy hái sen). "Liên diệp hà thanh thanh. Liên hoa
kiều doanh doanh" (Lá sen, ôi, xanh xanh. Hoa mơn mởn xinh xinh).
Nhà thơ cũng khuyên có hái thì hái nhẹ nhàng, chớ có xô bồ bẻ hoa
ngắt lá; "Thái chi vật thương ngẫu. Minh niên bất phục sinh"
(Hái hoa đừng hại ngó. Sang năm hoa chẳng sinh).
Câu ca dao
"Trong đầm gì đẹp bằng sen. Lá xanh bông trắng lại chen nhụy vàng…"
nói lên loài sen khiêm tốn không những góp phần vào việc mỹ hóa
cảnh vật trong thi ca, nhưng cũng là một biểu tượng của Phật giáo
tượng trưng cho sự tinh khiết. Đức Phật
ngồi trên tòa sen, hoa sen nở theo từng bước chân đi của Đức Phật,
những đóa hoa sen "gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn", là hình ảnh của
sự tinh khiết trong Phật tánh, căn bản gọt dũa được những nỗi đau
trần thế, gắn liền với niềm tin trong đạo Phật. Thật ra, "gần
bùn mà không hôi bùn" của hoa sen chỉ là cách nói dân gian hơi cường
điệu vì từ sự quan sát khách quan sự tinh khiết trong tinh thần Phật
giáo không những nhìn thấy ở hoa sen mà còn ở lá sen.
Sen biểu
hiện sự trong sạch trong phạm trù tôn giáo và điều này cũng đúng
theo các định luật khoa học chi phối bề mặt lá sen. Những giọt nước
lăn tròn trên lá sen đồng thời cũng cuốn trôi đi những chất bẩn, bụi
bặm trên lá. Trong hai thập niên gần đây, đã có nhiều quyển sách và
các bài tham luận nói về sự tương hợp giữa khoa học và Phật học trên
phương pháp luận và lề lối tư duy. Loài sen khiêm tốn và trong sạch ngẫu
nhiên trở thành một giao điểm khác của Phật học và khoa học trong đó
lá sen là một đối tượng nghiên cứu quan trọng về "bề mặt tự làm sạch" trong
công nghệ nano. Ngoài lá sen, những gì kề cận với nước trong bức
tranh đồng quê như lông vịt và chân các loài côn trùng như con muỗi
nước (water strider) đều có bề mặt ghét nước (hydrophobic), đẩy nước
(water repellent) để tránh sự thấm ướt. Câu nói "Nước đổ lá sen"
(hay là: lá môn, lá khoai) hay "Nước đổ đầu vịt" là một tục ngữ dân
gian quen thuộc biểu hiện sự quan sát mang tính khoa học và đem
chúng ta đến rất gần cái "mỹ học thực dụng". Nhưng người ta phải đợi đến
năm 1997 mới hiểu rõ được hiệu ứng "nước đổ lá sen" từ bề mặt cấu
trúc nano của lá sen [1].
Đối nghịch với hoa sen chơn chất, hoa
hồng thuộc về trường phái yểu điệu "quyến rũ". Có
tiếng oanh ca bên bờ tường vi...
[2]. Như Nguyễn Du nằm mộng thấy hoa sen trong niềm nhớ nhung của ngày
tháng cũ, Song Ngọc mênh mang tìm về ký ức của chốn xưa một thời,
có dáng em tôi áo trắng
nghiêng nghiêng đường chiều. Tường
vi là tên tiếng Hán của hoa hồng. "Giọt mưa trên cánh hoa hồng"
(raindrops on roses) là một cụm từ lãng mạn vượt thời gian trong thi
ca phương Tây và cũng là một đề tài ưa chuộng của nghệ thuật nhiếp
ảnh. Một điều đặc biệt khác tương phản với lá sen là giọt nước đọng
trên hoa hồng tròn trĩnh, lung linh trong ánh nắng nhưng không di
động. Lấm tấm những giọt mưa như làm hoa đẫm lệ. Giọt nước bám
chặt, dù lật ngược đóa hoa giọt
nước cũng không màng rơi xuống đất. Có phải cái "quyến rũ" là đây?
Đem một cánh hoa hồng đến tặng người yêu cũng đừng quên rắc nước lên
hoa làm tăng cái vẻ đài các và nói lên cái tình "gắn bó" như nước với
hoa!
Trở lại thực
tế khoa học, tuy cùng là thực vật nhưng nguyên nhân nào làm giọt
nước di động trên lá sen nhưng lại bất động trên hoa hồng? Chúng ta
hãy tìm sự khác biệt giữa cấu trúc vi mô của hai loài thực vật này
và khám phá một loại bề mặt với cái tên khoa học lạ tai: bề mặt "cực
ghét" nước (superhydrophobic surface).
2. Bề mặt và
khoa học bề mặt
Trước khi nói đến bề mặt lá sen ta hãy
bàn sơ lược về các khái niệm tổng quát về bề mặt. Trong tiếng Nhật
thuật ngữ "bề mặt" được gọi là
hyomen
(biểu diện), diễn Nôm là "mặt bên ngoài". Người ta bảo "xem mặt mà
bắt hình dong", nhưng ít khi ta có thể "xem mặt để đoán lòng người".
Một anh chàng điển trai ăn mặc bảnh bao, nói năng lưu loát, cũng có
thể là chàng sở khanh gạt tình lẫn tiền. Một ông lái chiếc xe hơi cà
tàng, ăn mặc xuề xòa trông hơi ngu, nhưng có thể là một bậc trí giả
lại có bạc triệu đô la trong tay! Đó là những bất ngờ không thể tiên
liệu nhưng lại thường gặp trong giao tế hàng ngày. Sự tương quan
giữa tính chất bề mặt và tính chất khối (bulk properties) của vật
liệu cũng có một sự tương tự. Đặc tính muôn vẻ của bề mặt không
những tùy thuộc vào tính chất khối cố hữu mà còn tùy vào mô dạng của
mặt. Cái kỳ lạ và bất thường của bề mặt làm giáo sư Wolfgang Pauli (giải
Nobel Vật lý, 1945) có lần phải thốt lên:
"God made solids, but
surfaces were made by devils"
(Chúa tạo ra chất rắn, nhưng bề mặt được ma quỷ làm nên). Dù có thể
là do ma quỷ nhưng con người chế ngự được ma quỷ một cách tài tình
và tận dụng những đặc tính bề mặt tạo ra nhiều ứng dụng trong sinh
hoạt thường nhật.
Bề mặt chi
phối đặc tính của vật thể ở tất cả mọi kích cỡ. Ở cấp độ vĩ mô (kích
thước m, cm), hình dạng bề mặt của xe hơi, máy bay, tàu thủy điều
chỉnh khí lưu và thủy lưu làm giảm sức cản của không khí hay nước;
phân tán sóng radar gia tăng hiệu quả "tàng hình". Ở cấp độ trung mô
(kích thước mm, micromét), mô dạng của bề mặt ảnh hưởng đến sự phản
chiếu ánh sáng, âm thanh, truyền nhiệt, ma xát, mài mòn (wear), ăn
mòn (corrosion). Ở cấp độ vi mô nanomét, sự tương tác giữa phân tử
của hai môi trường khác nhau dẫn đến sức căng bề mặt, sự thấm ướt,
sự bám dính (adhesion), tính ghét nước (hydrophobicity) và thích
nước (hydrophilicity).
Khoa học bề
mặt (surface science) là một bộ môn quan trọng mà cơ sở của nó dựa
trên năng lượng bề mặt (surface energy), sức căng bề mặt, lực mao
quản, độ thấm ướt (wettability), sự bám dính và phức tạp hơn nữa là
nhiệt động học bề mặt và sự tương tác giữa các phân tử ở bề mặt. Tất
cả những yếu tố này gần như quán xuyến tất cả mọi sinh hoạt thường
nhật của chúng ta. Hãy lấy sự thấm ướt làm thí dụ. Mỗi buổi sáng sau
khi thức dậy, ta phải rửa mặt, đánh răng, cạo râu (cho phe mày râu),
trang điểm, đánh son (cho phe tóc dài). Chiều về vo gạo, nấu cơm,
sau đó rửa chén bát, giặt quần áo, tắm rửa, gội đầu v.v... Tất cả
những hoạt động này đều liên hệ đến sự thấm ướt. Nhớ lại những ngày
ở thập niên 50, 60 của thế kỷ trước khi những thỏi xà bông "72 phần
dầu" là một phương tiện duy nhất làm sạch các vết nhơ, việc giặt giũ cần
sức mạnh cơ bắp đã đè nặng trên đôi vai của những người vợ hiền...
Sự ra đời của bột giặt làm giảm sức căng bề mặt của nước, gia tăng
sự thấm ướt trên mặt đồ giặt và chỉ cần tác động nhẹ của máy giặt đủ
tẩy các vết nhơ, đã làm nhẹ gánh nội trợ của người phụ nữ trong sinh
hoạt gia đình.
Tuy nhiên, không phải lúc nào ta cũng cần sự thấm ướt. Sự thấm ướt
liên quan đến sự dính (adhesion) và bề mặt "thích" nước (hydrophylic).
Có những ứng dụng cần sự không thấm ướt và ta phải nhờ đến những bề
mặt "ghét" nước (hydrophobic). Bề mặt thích nước như kim loại, thủy
tinh sẽ làm nước chảy loang ra làm thành một vũng nhỏ dính vào bề
mặt. Bề mặt ghét nước làm cho nước co lại thành hạt tròn giống như
viên bi có thể di động qua lại. Chảo rán phủ lớp Teflon [3] không
dính là bề mặt ghét nước thông dụng trong nhà bếp. Hình dạng một
giọt nước trên bề mặt thích nước và ghét nước được phác họa trong
Hình 1.

Hình 1:
(a) Giọt nước trên bề mặt ghét nước (hydrophobic) và
(b) giọt nước
trên bề mặt thích nước (hydrophilic).
Góc tiếp xúc (contact angle)
q mà ta có thể quan sát dễ dàng từ các giọt nước
trên các loại bề mặt là một lượng dễ đo đạc nhưng cũng là một biến
số vĩ mô cực kỳ quan trọng biểu hiện những tương tác giữa các phân
tử nước và phân tử của bề mặt chất rắn. Góc tiếp xúc là một biến số
cho biết độ ghét/thích nước của bề mặt. Khi góc tiếp xúc nhỏ hơn
90°, ta có bề mặt thích nước, lớn hơn 90° là bề mặt ghét nước (Hình
1). Nếu có sự tương thích giữa phân tử nước và phân tử chất rắn ta
có bề mặt thích nước, càng tương thích góc tiếp xúc càng nhỏ tiến
đến trị số zero. Ngược lại, nếu chúng "ghét" nhau ta sẽ có hiện
tượng "đèn nhà ai nấy sáng", các phân tử nước không giao thiệp với
anh láng giềng chất rắn; giọt nước sẽ co tròn và góc tiếp xúc trở
thành góc tù. Khi góc tiếp xúc lớn hơn 150°, bề mặt trở nên "cực
ghét" nước (superhydrophobic). Giọt nước co lại thành hình cầu như
ta thường thấy trên chảo rán phủ Teflon, góc tiếp xúc tiến đến 180°.
Do diện tích tiếp xúc giữa giọt nước và bề mặt rất nhỏ, sự bám dính
không xảy ra, giọt nước di động khi bề mặt bị nghiêng.
Sự khảo sát
hình dạng của giọt nước trên bề mặt có lịch sử hơn 200 năm. Năm
1805, Young đã đưa ra một công thức nổi tiếng nhưng đơn giản dựa vào
sự cân bằng lực tại mặt tiếp giáp,
gSV
=
gLV
cos
q
+
gSL
Ở đây, góc tiếp xúc
q là góc ở trạng thái cân bằng trên một mặt
phẳng;
gSV
là năng lượng bề mặt của chất nền;
gLV
là năng lượng bề mặt của chất lỏng (còn gọi là sức căng bề mặt) và
gSL
là năng lượng giữa mặt tiếp giáp giữa chất nền và giọt chất lỏng.

Hình 2: Sự liên hệ giữa góc tiếp xúc theta và năng lượng bề mặt
theo công thức Young
(Nguồn: http://lotus- shower.isunet.edu).
Giản lược những chứng minh toán học rườm rà, năng lượng bề mặt
được dùng để phỏng đoán bề mặt đó thích hay ghét nước. Theo định
nghĩa, năng lượng bề mặt là năng lượng dùng để "bẻ đôi" một vật liệu.
Như vậy, vật liệu cứng như kim cương sẽ đứng đầu bảng, kế đến là gốm
sứ, kim loại và sau cùng là các loại polymer (Bảng 1). Một vật liệu
có năng lượng bề mặt càng cao thì bề mặt của nó lại càng thích nước.
Ngược lại, các vật liệu polymer như polyethylene (bọc nhựa gia dụng)
và Teflon có trị số ở cuối bảng nên là các vật liệu ghét nước.
Bảng 1:
Năng lượng bề mặt của các vật liệu thông dụng [4-5]
|
Vật liệu |
Năng lượng bề mặt (mJ/m2) |
|
Kim cương |
9820 |
|
Bạch kim |
2340 |
|
Đồng |
1670 |
|
Vàng |
1410 |
|
Sắt |
1360 |
|
Silicon |
1240 |
|
Bạc |
1140 |
|
Kẽm |
830 |
|
Silica (thành phần chính của
thủy tinh) |
290 |
|
Sáp paraffin |
50 |
|
Polyethylene |
32 |
|
Teflon |
16 |
Một quan sát quan trọng khác là khi giọt nước (hay giọt chất lỏng)
nhỏ lên bề mặt lồi lõm hay bề mặt rỗ của một thể xốp (porous) có
nhiều lỗ thủng, góc tiếp xúc sẽ biến đổi. Như vậy, góc tiếp xúc
không những tùy thuộc vào năng lượng bề mặt của chất nền mà còn bị
ảnh hưởng bởi mô dạng của bề mặt (Hình 3). Nói một cách dễ hiểu, sự
lồi lõm làm bề mặt thích nước càng thích nước (góc tiếp xúc nhỏ hơn)
và bề mặt ghét nước càng ghét nước (góc tiếp xúc to hơn). Lý thuyết
của Wenzel, Kossen và Cassie (xem Phụ lục) đã dự đoán được điều này
và thí nghiệm đã thực chứng được lý thuyết. Những lý thuyết này xuất
hiện khoảng 70 năm trước dựa trên những lý luận khá đơn giản, thậm
chí công thức của Wenzel chỉ là một đề nghị mang tính trực giác
nhưng được bổ sung một cách hợp lý qua lý luận của Kossen (Phụ lục).
Công thức Cassie được dùng cho trường hợp bọt không khí bị kẹt dưới
đáy giọt nước (Hình 3b). Theo công thức này bọt không khí càng nhiều
thì góc tiếp xúc càng to, tức là làm bề mặt càng ghét nước hơn. Ta
sẽ thấy công thức Cassie giải thích một cách tài tình những thí dụ
thực tế được đề cập bên dưới.

Hình 3: Giọt nước trên bề mặt lồi lõm: (a) dạng Wenzel và (b)
dạng Cassie.
3. Bề mặt lá sen
Có một điều làm ta ngạc nhiên là mặc dù những công thức cơ bản về
khoa học bề mặt có một lịch sử lâu dài và rất nhiều công trình thực
nghiệm cũng như lý thuyết đã được công bố trong nhiều năm qua, nhưng
cộng đồng khoa học phải đợi đến năm 1997 mới biết đến "hiệu ứng lá
sen" (lotus effect) (Hình 4) được phát hiện không phải bởi các nhà
vật lý học hay hóa học mà bởi hai nhà thực vật học người Đức,
Barthlott và Neinhuis (University of Bonn, Đức) [1]. Có lẽ đây cũng
do ảnh hưởng của nền công nghệ nano đã làm thay đổi tư duy và lề lối
nghiên cứu ở mức độ nano tinh tế hơn.

Hình 4: Hiệu ứng lá sen
(Nguồn: http://www.stocorp.com)
Dưới kính hiển vi điện tử người ta quan sát được những khối u ở
kích thước micromét (một phần ngàn mm), trên những khối u này dày
đặc những khối u nhỏ hơn được phủ bởi một loại sáp [6] (Hình 5).
Cũng như bàn chân thạch sùng trong một bài viết trước [7], đây là
một cấu trúc có thứ bậc (hierarchical structure). Thứ nhất là mặt
nền, sau đó là các khối u micromét, kế đến là cấu trúc nanomét và
sau cùng là lớp sáp phủ cực mỏng. Lớp sáp thực vật này là một bề mặt
ghét nước có năng lượng bề mặt thấp như sáp paraffin (Bảng 1). Theo
lý thuyết của Wenzel (hay Kossen), cấu trúc lồi lõm, xù xì gia tăng
tính ghét nước của bề mặt ghét nước. Điều này được thấy rõ trên bề
mặt lá sen. Bề mặt lá sen là một bề mặt cực ghét nước có góc tiếp
xúc là 161°.

Hình 5: Cấu trúc hai thứ bậc của lá sen:
Khối u lớn trên mặt lá (hình
trái) và hình phóng đại của khối u lớn (hình mặt)
cho thấy các khối
u nhỏ nanomét xuất hiện li ti trên mặt khối u lớn [6].
Dựa trên thành quả của Barthlott và Neinhuis, nhóm của giáo sư
Lei Jang (Viện Hàn lâm Khoa học Trung Quốc) tìm hiểu bề mặt lá sen
qua góc nhìn vật lý và vật liệu học [8]. Theo giáo sư Jang và các
cộng sự viên, cấu trúc thứ bậc của bề mặt lá sen trong đó các khối u
nanomét mọc trên các khối u micromét không phải là một việc ngẫu
nhiên. Bề mặt xù xì ở cấp độ micromét như cái chảo rán Teflon cũng
đủ làm gia tăng sự ghét nước của bề mặt. Tạo hóa tạo ra vạn vật với
những chức năng không thừa không thiếu. Như vậy, các khối u nanomét
có tác dụng gì? Khi lá sen là bề mặt phẳng chỉ có chất sáp không
thôi, trị số của góc tiếp xúc là 104°. Chất sáp cho bề mặt tính ghét
nước nhưng chưa phải "cực ghét". Jang và cộng sự viên dùng hình học
fractal để xem ảnh hưởng của khối u. Khi có sự hiện diện của những
khối u nanomét, góc tiếp xúc
q
gia tăng đột biến vượt qua trị số 150° trở thành bề mặt cực ghét
nước (Hình 6). Cũng vì những khối u nanomét, giọt nước chỉ có 3 %
diện tích tiếp xúc với bề mặt lá sen. Điều này đưa đến một kết quả
hiển nhiên là giọt nước có thể di động tự do khi bề mặt nghiêng và
cuốn theo bụi bậm cho lá sen đặc tính tự làm sạch (self-cleaning) (Hình
7).

Hình 6: Cấu trúc micro/nano của khối u làm gia tăng góc tiếp xúc:
(a) bề mặt trơn với chất sáp,
q
= 104°, (b) bề mặt với khối u lớn,
q
= 150° và (c) bề mặt với khối u lớn và khối u nanomét,
q
= 160 – 180° [8].

Hình 7: Cơ chế "tự làm sạch" trên lá sen: giọt nước tròn cuốn
trôi bụi rác
(Nguồn: http://lotus- shower.isunet.edu).
Ngoài lá sen, biểu bì của các loài côn trùng cũng có hiệu ứng
ghét nước. Hãy lấy con muỗi nước làm một thí dụ (Hình 8). Con muỗi
nước nhờ những cái chân không thấm nước không những có thể đứng mà
còn có thể di chuyển rất nhanh trên nước giống như cao thủ võ lâm
phi thân trong truyện chưởng Kim Dung! Ngoài ra, nếu ta chú ý một
chút hai con có thể đậu chồng lên nhau làm cái việc di truyền nòi
giống nhưng vẫn không bị nhấn chìm ngộp nước! Về phương diện này,
tạo hóa quả thật là chu đáo. Có lẽ quan sát này gợi lên sự tò mò của
giáo sư Lei Jang [9]. Kết quả đo lường của ông và cộng sự viên cho
biết một cái chân có thể chịu được 15 lần trọng lượng con muỗi nước.
Thông thường, một con muỗi nước có 6 cái chân, như vậy trên lý
thuyết 90 con có thể đậu chồng lên nhau cùng làm xiếc đi trên mặt
nước.

Hình 8: Con muỗi nước
Jang và cộng sự viên đi sâu vào vấn đề bằng cách định tính biểu
bì của chân muỗi nước. Biểu bì tiết ra một loại sáp có góc tiếp xúc
của nước trên biểu bì là 105°. Giống như sáp của lá sen, con số này
cho biết biểu bì có đặc tính ghét nước nhưng vẫn chưa phải là cực
ghét nước (q
>150°); điều kiện cần để muỗi nước có khả năng đi lại
trên mặt nước. Kính hiển vi điện tử cho thấy chân của muỗi nước có
những sợi lông con đầu nhọn có hình dạng cây kim dài với đường kính
vài micromét đến vài trăm nanomét. Khi giọt nước nhỏ lên biểu bì với
những sợi lông con thì góc tiếp xúc tăng đến 168° biểu hiện tính cực
ghét nước. Dùng công thức Cassie (Phụ lục) để tính toán, ta biết
được tỷ suất bọt không khí dưới chân con muỗi nước là 97 %. Vì chân
không thích nước nên bọt không khí xuất hiện; vì là bọt không khí
nên chúng như cái phao làm cái chân nổi phình. Tuy cấu trúc chân của
con muỗi nước không có nhiều thứ bậc và phức tạp như bàn chân thạch
sùng [7], cấu trúc tương đối đơn giản này cũng đủ làm gia tăng đặc
tính ghét nước của chân muỗi. Cũng nên nhắc lại là nhờ hằng triệu
sợi lông con nanomét, bàn chân thạch sùng là bề mặt cực ghét nước và
không bám bụi.
4. Giọt mưa trên cánh hoa hồng
Giọt nước co tròn lại trên bề mặt cực ghét nước như cái chảo rán
phủ Teflon hay lá sen và di động như một viên bi khi bề mặt bị
nghiêng. Có phải đây là một liên hệ nhân quả và liệu ta có thể kết
luận rằng là "cực ghét nước" đồng nghĩa với sự "không bám dính"?
Trước khi đi đến một kết luận, ta hãy thử khoác chiếc áo len đi
trong một chiều mưa phùn gió lạnh... Phải là mưa phùn vì ta không
muốn ướt như con gà mắc nước; phải có gió để ta có thể quan sát sự
di động của giọt mưa. Những giọt mưa nhỏ li ti đọng trên chiếc áo
len tạo thành những giọt nước tròn dính trên mặt áo nhưng không lăn
xuống. Lý do là giữa những sợi lông con của chiếc áo len là một lớp
không khí tạo ra bề mặt ghét nước gia tăng góc tiếp xúc làm cho giọt
nước co tròn lại (Phụ lục). Quan sát chiếc áo len kỹ một chút, ta sẽ
thấy nhiều sợi lông con đâm xuyên qua giọt nước, tác dụng như cái
phanh kiềm chế sự di động. Sương mai trên lá cỏ cũng là một hiện
tượng tương tự (Hình 9). Có lẽ những bọt không khí dưới chân con
muỗi nước cũng bị các sợi lông đầu kim nanomét xuyên qua và ghìm
chặt để con muỗi có thể dễ dàng trượt trên mặt nước mà không sợ bọt
không khí vuột ra ngoài.

Hình 9: Sương mai trên cỏ (Nguồn: Wikipedia).
Bây giờ ta hãy xem "giọt mưa trên cánh hoa hồng". Cánh hoa lả lơi
trong gió, giọt nước tròn lung linh trong ánh nắng như hạt kim cương.
Giọt nước tròn chứng tỏ cánh hoa có bề mặt cực ghét nước. Nhưng sự
bám dính lại cho dấu hiệu sự thích nước. Quả là một điều cực kỳ mâu
thuẫn. Tuy nhiên, khi ta nhớ lại những giọt mưa phùn trên áo len hay
sương mai trên lá cỏ thì sự mâu thuẫn dần dần được giải tỏa. Chỉ
khác là trên hoa hồng không có những sợi lông con như chiếc áo len
hay lá cỏ kiềm chế sự di động. Như vậy, cấu trúc vi mô của hoa hồng
phải có một mô dạng đặc biệt. Dưới kính hiển vi điện tử, bề mặt hoa
hồng xuất hiện một cấu trúc vi mô có hai thứ bậc: (1) những "ngọn
đồi" kích cỡ micromét nằm ngang dọc theo một thứ tự nhất định và (2)
trên đầu những ngọn đồi tí hon này xuất hiện nhiều khe nano (Hình
10).

Hình 10: Những "ngọn đồi" micromét trên cánh hoa hồng (hình trái)
và các khe nano trên đỉnh đồi (hình mặt) [10].
Việc hợp tác nghiên cứu giữa nhóm của giáo sư Lin Feng (Đại học
Thanh hoa, Bắc kinh) và giáo sư Lei Jang (Viện Hàn lâm Khoa học
Trung Quốc) đã giải mã một phần nào sự mâu thuẫn. Đây là một hiện
tượng bình thường nhưng khi đặt trong góc nhìn phân tích khoa học nó
trở thành một đề tài nghiên cứu mới lạ. Khi những giòng chữ này được
viết thì bài báo cáo của Feng, Jang và các cộng sự viên vừa mới được
công bố trên tạp chí nổi tiếng chuyên về bề mặt, Langmuir [10]. Lần
đầu tiên cơ cấu bám dính của trên cánh hoa hồng hay là "hiệu ứng
cánh hoa" (petal effect) được khảo sát và cơ chế vừa ghét nước vừa
thích nước được giải thích.
Hình 11 cho thấy cách tiếp xúc của nước với bề mặt lá sen và hoa
hồng hoàn toàn khác nhau. Trong khi những khối u của lá sen "đội"
giọt nước tạo ra một lớp không khí bị kẹt lại bên dưới, nước thấm
vào chỗ trũng giữa các "ngọn đồi" trên mặt hoa hồng nhưng không thấm
vào những khe nano ở đỉnh và sườn đồi. Lớp không khí này làm cho bề
mặt hoa hồng ghét nước theo đúng như công thức Cassie. Góc tiếp xúc
của giọt nước là
152° chứng tỏ bề mặt cánh hoa là cực ghét nước,
nhưng sự tiếp xúc giữa nước và bề mặt ở các chỗ trũng tạo ra lực van
der Waals làm nước bám dính vào bề mặt cánh hoa. Sự bám dính do lực
van der Waals giống như bàn chân thạch sùng bám vào trần nhà [7].

Hình 11: Sự khác biệt giữa giọt nước trên cánh hoa hồng và lá sen
[10].
Hoa hồng không phải là loại hoa độc nhất có hiệu ứng đặc biệt này.
Nếu ta quan sát xung quanh và lướt trang nhiếp ảnh Flickr với chủ đề
"giọt nước trên hoa", ta sẽ thấy một số hoa khác cũng có đặc tính
tương tự nhưng cấu trúc vi mô của cánh hoa sẽ khác theo từng loại
hoa. Điều này cho nhà khoa học nhiều lựa chọn và mô phỏng cấu trúc
cánh hoa trong việc tạo bề mặt nhân tạo có "hiệu ứng cánh hoa" tối
ưu với cấu trúc vi mô giản tiện nhất.
5. Những tiềm năng ứng dụng và triển khai tương lai
Năm 1994, bằng sáng chế (patent) liên quan đến "hiệu ứng lá sen"
của Barthlott được đăng ký và chấp thuận. Sau đó, ông làm việc với
một công ty sơn để chế tạo sơn Lotusan với "hiệu ứng lá sen". Giống
như lá sen, bề mặt được phủ loại sơn này là bề mặt ghét nước. Nước
chảy dễ dàng cuốn theo bụi bám trên mặt, tức là có khả năng tự làm
sạch [11].
Đương nhiên, sản phẩm đại trà này không có một cấu trúc thứ bậc
trật tự như lá sen. Theo sự suy luận của người viết bản chất của
loại sơn này có tính ghét nước, sau khi phun hoặc phủ lên, một lớp
phim được thành hình có bề mặt lồi lõm với những mô dạng ngẫu nhiên
(random) ở kích cỡ micromét. Như đã đề cập bên trên, sự lồi lõm xù
xì gia tăng tính ghét nước của bề mặt ghét nước. Vì vậy, hai yếu tố
ghét nước và bề mặt lồi lõm của sơn Lotusan - dù được thành hình với
cấu trúc ngẫu nhiên, vô thứ tự - đủ để tạo một bề mặt tự làm sạch.
Sơn này có thể phủ lên mái nhà để tránh sự đóng tuyết vào mùa đông ở
những xứ lạnh hoặc dùng để sơn các bức tường công cộng để tránh vẽ
bậy, loạn bút.
Lotusan có thể phát triển thành sơn xe hơi cho những kẻ lười
biếng rửa xe (trong đó có cả người viết!). Khả năng áp dụng sơn cực
ghét nước vào ngành hàng hải sẽ giải quyết được nhiều vấn đề bảo trì
thân tàu và làm giảm chi phí vận hành. Thứ nhất, sơn có cơ năng
chống sự đóng bám (anti-fouling) của rong rêu, vi sinh vật ở đáy tàu.
Thứ hai, sơn làm giảm sức cản (drag) của nước khiến tàu chạy nhanh
hơn và tiết kiệm nhiên liệu. Nếu được phủ lên tàu ngầm, sức cản của
nước sẽ giảm và nhờ vậy âm thanh do sự trượt của nước dọc theo mặt
tàu bớt đi tiếng ồn - đây là một yếu tố tối quan trọng cho sự thao
tác và sống còn của chiếc tàu ngầm. Tuy nhiên, từ Lotusan sơn tường
đến việc áp dụng cho công nghệ ô tô, tàu thủy và tàu ngầm, người ta
cần phát triển nhiều khía cạnh kỹ thuật khác để sơn có độ bóng cho
xe hơi và duy trì chức năng chống lão hoá và "tự làm sạch" trong
nước biển.
Lớp phủ có "hiệu ứng lá sen" còn được áp dụng vào tơ sợi cho các
loại vải chống nước và rất quan trọng trong các dụng cụ y khoa chống
sự kết tập của tế bào trong lúc phẫu thuật. Linh kiện của hệ thống
điện cơ vi mô (micro-electromechanical systems, MEMS) cũng cần đến "hiệu
ứng lá sen". Linh kiện cấu trúc của các hệ thống này ở thứ nguyên
micromét. Ở kích cỡ này, trọng lượng không còn là vấn đề nhưng sự
bám dính giữa các linh kiện sẽ xảy ra làm sự thao tác trong việc lắp
ráp trở nên khó khăn. Lớp phủ cực ghét nước chống bám dính làm quá
trình lắp ráp trở nên dễ dàng. Ngoài ra, bề mặt ghét nước còn có đặc
tính gia tăng tính chống ma xát. Các linh kiện di động, quay tí hon
như bánh răng cưa, piston của MEMS không thể bôi dầu nhờn như các
linh kiện trong động cơ to. Chúng cần một bề mặt cực ghét nước để
gia tăng đặc tính chống mài mòn.
Hiện nay, các nhà khoa học có khả năng tạo ra các bề mặt lồi lõm
từ mực micromét đến nanomét trên nhiều loại bề mặt (kim loại,
polymer, các hợp chất hữu cơ và vô cơ) với kỹ thuật như khắc mòn
(etching), in litô (lithography), kết tủa (deposition), bốc hơi
(vaporization), màng phân tử tự ráp (molecular self-assembled film),
sol - gel v.v... Kỹ thuật tạo hình bề mặt từ ống than nano, ống
oxide vô cơ nano, ống polymer nano với những chức năng khác nhau
cũng đóng góp vào việc tạo ra nhiều loại bề mặt nano. Tất cả những
kỹ năng này giúp nhà khoa học điều chỉnh độ thích/ghét nước của bề
mặt, từ cực ghét nước đến cực thích nước. Ngoài ra, đã có những báo
cáo về bề mặt "thông minh" cảm ứng với sóng điện từ (thí dụ: tia tử
ngoại) tự biến đổi qua lại độ thích/ghét nước.
Bề mặt cánh hoa hồng trở thành một đề tài rất mới. Bài báo của
Feng, Jang và các cộng sự viên [10] chỉ là phát súng đầu tiên của "hiệu
ứng cánh hoa" nhưng cách giải thích của các tác giả này vẫn chưa
phải là một kết luận cuối cùng. Thật là mâu thuẫn khi một loại bề
mặt cực ghét nước lại có tính bám dính của bề mặt thích nước, vẫn
biết rằng trong mâu thuẫn có sự hợp lý hợp tình cũng như trong hỗn
độn có cái trật tự hài hòa. Đúng! cái gì đẹp thì tràn đầy sự mâu
thuẫn. "Tôi ghét anh lắm!" cũng có thể hàm ý "Tôi yêu anh lắm lắm"...
Đời mất vui khi vắng bóng những kinh nghiệm đau thương. Đời cũng mất
vui khi khoa học chỉ là tập hợp của những điều có thể hoàn toàn tiên
liệu.
6. Bề mặt liêu trai
Độ lồi lõm của bề mặt được khảo sát gần 70 năm trước và đã được
đúc kết bằng những công thức cổ điển của Winzel, Kossen và Cassie.
Các công trình nghiên cứu bề mặt trôi nổi theo dòng thời gian, tuy
không có những đột phá lớn về lý thuyết trong một khoảng thời gian
dài nhưng đã có những ứng dụng đầy ấn tượng trong vật lý như thiết
kế bề mặt xe hơi, tàu thủy, máy bay kể cả máy bay "tàng hình", hay
trong hóa học như hoạt chất bề mặt (surfactant), dầu nhờn chống mài
mòn, chất keo bám dính. Khi bề mặt cực ghét nước được phát hiện 10
năm trước đây hoạt động nghiên cứu của lĩnh vực này bùng phát. Trong
những năm gần đây bề mặt nano, bề mặt cực ghét nước trở thành một đề
tài nghiên cứu "nóng" tại các đại học, viện nghiên cứu cũng như
trong giới doanh thương công nghệ. Số lượng các báo cáo công trình
tăng vọt theo cấp lũy thừa. Sự kiện này trùng hợp với những phát
minh các loại thiết bị trong công nghệ micro và nano giúp các nhà
khoa học nhiều phương tiện mới trong việc xử lý và thiết kế bề mặt
chất rắn từ micromét đến nanomét. Ngược lại, những triển khai kỹ
thuật vừa làm phong phú vốn kiến thức của con người về khoa học bề
mặt ở thứ nguyên micro/nano vừa sáng tạo ra những dụng cụ vi mô và
cũng đồng thời thúc đẩy sự phát triển lý thuyết bề mặt, vốn dĩ đã mờ
mịt trong việc lý giải các bề mặt vĩ mô cổ điển và lỗi thời trước bề
mặt vô cùng đa dạng của các vật liệu nano hiện đại.
Quả thật cái lạ lùng, thiên biến vạn hóa của bề mặt làm ta chợt
nghiệm ra "cái ma quỷ" trong câu nói của Wolfgang Pauli. Trong hai
thế kỷ qua các nhà khoa học đã không ngừng ngụp lặn trong cái thực
ảo của bề mặt liêu trai, say đắm với những nàng kiều nữ hồ ly bỡn
cợt trêu ngươi, lúc ẩn lúc hiện trong thế giới nửa ma quái, nửa thần
tiên. Một trăm năm sau, cái huyễn hoặc của bề mặt nano sẽ tiếp tục
làm mê mệt các nhà khoa học. Và trong những cuộc truy hoan trí tuệ,
thời gian dường như bất tận.
TVT
11 May 2008
(Ngày của Mẹ)
Phụ lục:
Công thức của Wenzel, Kossen và Cassie
a. Công thức
Wenzel
cos q'
= R cos
q
(1)
q là góc
tiếp xúc của nước (chất lỏng) trên mặt phẳng.
q' là góc tiếp xúc của
nước (chất lỏng) trên mặt lồi lõm (xem Hình 3a trong bài). R là độ
lồi lõm được định nghĩa là tỷ số giữa "diện tích bề mặt lồi lõm" và
"diện tích bề mặt phẳng", vì vậy
R
³
1. Đây là một công thức dựa
trên kinh nghiệm. Công thức này cho thấy độ lồi lõm làm bề mặt thích
nước càng thích nước và bề mặt ghét nước càng ghét nước. Tuy nhiên,
công thức này có vấn đề. Khi R vô cùng lớn (như các bề mặt có cấu
trúc nano), nó trở nên vô nghĩa vì
-1
£
cos
q'
£
1.
b. Công thức
Kossen
Kossen không
dùng tỷ số
R
nên giải quyết được vấn nạn của công thức Wenzel. Lý
thuyết Kossen cho ra những công thức như sau (trích dẫn từ sách
tiếng Nhật "Kaimen to hyomen no fushigi" (Những điều kỳ lạ
của mặt tiếp giáp và bề mặt), tác giả T. Marui, T. Murata, M. Inoue,
T. Sakurada, nxb Kogyo Chosakai, 1995):
Cho bề mặt
lồi lõm thích nước (Hình 3a trong bài):
cos q'
= fs cos
q
+ fa
(2)
Cho bề mặt
lồi lõm ghét nước (Hình 3b trong bài):
cos q'
= fs cos
q
- fa
(3)
fa + fs
= 1
fa
là tỷ suất rỗng (không khí), fs là tỷ suất chất rắn.
q
là góc tiếp xúc của nước (chất lỏng) trên mặt phẳng.
q'
là góc tiếp xúc của nước (chất lỏng) trên mặt lồi lõm.
Thí dụ cho
bề mặt thích nước: q
= 60°, fa = 0,5 (độ rỗng 50%), công thức (2) cho q'=
41°.
Thí dụ cho
bề mặt ghét nước:
q
= 120°, fa = 0,5 (độ rỗng 50%), công thức (3) cho q'
= 139°.
Kết luận là
độ lồi lõm làm bề mặt thích nước càng thích nước và bề mặt ghét nước
càng ghét nước.
c. Công thức
Cassie
Nếu bề mặt
là một composite có 2 thành phần 1 và 2, ta có:
cos q'
= f1 cos
q1
+ f2 cos
q2
(4)
f1
+ f2 = 1
f1
và f2 là
tỷ
suất của thành phần 1 và 2 trong composite. q'
là góc tiếp xúc trên bề mặt composite. q1
là góc tiếp xúc khi bề mặt chỉ là thành phần 1.
q2
là góc tiếp
xúc khi bề mặt chỉ là thành phần 2. Khi f2 là không khí,
q2
= 180°, cos
180° = -1 (Hình 3b trong bài). Công
thức (4) trở thành:
cos
q' = f1
cos
q1
- f2
(5)
Công thức
(5) cũng là công thức (3) của Kossen. Trong trường hợp giọt nước
trên chiếc áo len hay trên lá cỏ, bề mặt là composite của những sợi
lông và không khí. Ta giả dụ một trường hợp cực đoan trong đó những
sợi lông là vật liệu cực thích nước, q1
= 0° và cos
0°
= 1, và không khí chiếm 90 % (f2 = 0,9) công thức (5) trở
thành
cos
q'
= -0,8 hay là
q'
= 143°
Vì vậy, dù
các sợi lông có đặc tính cực thích nước, vì có nhiều không khí nên
bề mặt chiếc áo len hay lá cỏ là bề mặt ghét nước.
Tài liệu
tham khảo và ghi chú
1. W.
Barthlott and C. Neinhuis, Planta
202
(1997) 1.
2. "Hà
Nội ngày tháng cũ" (nhạc Song Ngọc).
3.
Teflon là thương hiệu của công ty DuPont. Một loại polymer có tên
hóa học là polytetrafluoroethylene.
4. Shu
Ono, "Hyomen choryoku" (tiếng Nhật) "Sức căng bề mặt", nxb
Kyoritsu Shuppan, 2000.
5.
Heinemann Chemistry Two (Year 12 textbook), 2000.
6. M.
Nosonovsky and B. Bhushan, Adv. Funct. Mater. 18
(2008) 843.
7.
http://www.erct.com/2-ThoVan/TruongVTan/ThachSung.htm
8. L.
Feng, S. Li, H. Li, L. Zhang, J. Zhai, Y. Song, B. Liu, L. Jang and
D. Zhu, Adv. Mater. 14 (2002) 1857.
9. X.
Gao and L. Jang, Nature 432 (2004) 36.
10. L.
Feng, Y. Zhang, J. Xi, Y. Zhu, N. Wang, F. Xia and L. Jang,
Langmuir 24 (2008) 4114.
11.
http://www.stocorp.com
(*)
Anh Trương Văn Tân sinh quán tại tỉnh Sa Đéc,
cựu học sinh trường trung học Sa Đéc và Tống Phước Hiệp (Vĩnh Long).
Anh Tân đến Nhật cuối năm 1969. Anh tốt nghiệp Bachelor Eng.
(1975), Master Eng. (1977) trường Tokodai (Tokyo Institute of
Technology) và PhD (1980, University of Adelaide, Úc).
Anh Tân hiện làm việc tại Viện Khoa Học và Công Nghệ Quốc Phòng (Defence
Science and Technology Organisation) trực thuộc Chính Phủ Liên Bang
Úc. Anh chuyên về Vật Liệu Học và hiện nghiên cứu về polymers dẫn
điện và ống nano carbon. Anh đã công bố
hơn 70 bài báo cáo khoa học
trên các tạp chí khoa học quốc tế. Xem thêm
những bài viết của anh Trương Văn Tân trên
ERCT
|