|

Mặt trời của chúng ta
Trương Văn Tân (*)
©
"Khi phát hành lại bài này
cần phải có sự đồng ư của tác
giả
và ghi rơ nguồn lấy từ www.erct.com"
1. Nguồn năng lượng vô tận
Cảm giác cháy da trong những
ngày hè nóng bỏng hay cái ấm áp của những ngày mùa đông nắng tốt như
là một lời nhắc nhở đến sự hiện hữu của mặt trời mà lắm lúc ta xem
như một tồn tại đương nhiên. Ánh sáng mặt trời là một nguồn năng
lượng dồi dào, nhưng khi tính ra con số rất ít người biết đến là mặt
trời truyền đến cho ta một năng lượng khổng lồ vượt ra ngoài sự
tưởng tượng của mọi người. Trong 10 phút truyền xạ, quả đất nhận một
năng lượng khoảng 5 x 1020 J (500 tỷ tỷ Joule), tương
đương với lượng tiêu thụ của toàn thể nhân loại trong ṿng một năm.
Trong 36 giờ truyền xạ, mặt trời cho chúng ta một năng lượng bằng
tất cả những giếng dầu của quả đất. Năng lượng mặt trời v́ vậy gần
như vô tận. Hơn nữa, nó không phát sinh các loại khí nhà kính
(greenhouse gas) và khí gây ô nhiễm. Nếu con người biết cách thu
hoạch nguồn năng lượng sạch và vô tận nầy th́ có lẽ loài người sẽ
măi măi sống hạnh phúc trong một thế giới ḥa b́nh không c̣n chiến
tranh v́ những cuộc tranh giành quyền lợi trên các giếng dầu.
Mười vấn đề lớn của nhân
loại trong ṿng 50 năm tới đă được ghi nhận theo thứ tự nghiêm trọng
là (1) năng lượng, (2) nước, (3) thực phẩm, (4) môi trường, (5)
nghèo đói, (6) khủng bố và chiến tranh, (7) bệnh tật, (8) giáo dục,
(9) thực hiện dân chủ và (10) bùng nổ dân số. Năng lượng quả thật là
mối quan tâm hàng đầu của nhiều chính phủ trên thế giới. Nguồn năng
lượng chính của nhân loại hiện nay là dầu hỏa. Nó quí đến nỗi được
người ta cho một biệt hiệu là "vàng đen". Một vài giờ cúp điện hay
không có khí đốt cũng đủ làm tê liệt và gây hỗn loạn cho một thành
phố. Cuộc sống văn minh của nhân loại không thể tồn tại khi thiếu
vắng năng lượng. Theo thống kê, hiện nay hơn 85 % năng lượng được
cung cấp từ dầu hỏa và khí đốt. Nhưng việc thu hoạch từ các giếng
dầu sẽ đạt đến mức tối đa trong khoảng năm 2010 - 2015, sau đó sẽ đi
xuống v́ nguồn nhiên liệu sẽ cạn kiệt cùng năm tháng. Người ta cũng
tiên đoán nếu dầu hỏa được tiếp tục khai thác với tốc độ hiện nay,
kể từ năm 2050 lượng dầu được sản xuất sẽ vô cùng nhỏ và không đủ
cung cấp cho nhu cầu toàn thế giới. Như vậy, nguồn năng lượng nào sẽ
thay thế cho "vàng đen"? Các nhà khoa học đă và đang t́m kiếm những
nguồn năng lượng vô tận, sạch và tái sinh (renewable energy) như:
năng lượng từ mặt trời, gió, thủy triều, nước (thủy điện), ḷng đất
(địa nhiệt) v.v...
Trong những nguồn năng lượng
nầy có lẽ năng lượng mặt trời đang được lưu tâm nhiều nhất. Những bộ
phim tài liệu gần đây cho thấy ở các vùng hẻo lánh, nghèo khổ tại Ấn
Độ hay châu Phi, cư dân tràn ngập hạnh phúc khi có điện mặt trời
thắp sáng màn đêm hay được sử dụng các loại nồi năng lượng mặt trời
để nấu thức ăn. Dù vậy, cho đến nay con người vẫn chưa đạt được
nhiều thành công trong việc chuyển hoán năng lượng mặt trời thành
điện năng v́ một phần mật độ năng lượng mặt trời quá loăng, một phần
phí tổn cho việc tích tụ năng lượng mặt trời c̣n quá cao. Nếu tính
theo mỗi kilowatt-giờ (năng lượng 1 kilowatt được tiêu thụ trong 1
giờ) th́ phí tổn thu hoạch năng lượng mặt trời là $0,30 USD. Trong
khi đó năng lượng từ gió là $0,05 và từ khí đốt thiên nhiên là
$0,03. Một hệ thống chuyển hoán năng lượng mặt trời cung cấp đủ điện
năng cho một căn nhà ở b́nh thường tốn ít nhất $18000 USD (giá
2005). Chỉ cần yếu tố tài chính không thôi cũng đủ để làm người tiêu
thụ tránh xa việc sử dụng năng lượng mặt trời. Hệ quả là tại những
nước tiên tiến như Mỹ điện lực được tạo từ năng lượng mặt trời từ
các tế bào quang điện (photovoltaic cell; photo = quang, voltaic =
điện) chỉ chiếm 0,02 % [1]. Tuy nhiên, điều đáng mừng là thị trường
năng lượng mặt trời toàn cầu trị giá 10 tỷ USD/năm và tăng 30 % hằng
năm nhờ vào các kết quả nghiên cứu làm giảm giá tế bào quang điện
[2].
Bài viết sẽ tổng kết những
kỳ tích trong lĩnh vực cực kỳ quan trọng nầy trong nửa thế kỷ vừa
qua.
2. Silicon và các chất bán
dẫn vô cơ
Vật liệu chính cho tế bào
quang điện được dùng để chuyển hoán năng lượng mặt trời thành điện
năng là silicon (Si). Silicon là một nguyên tố nhiều thứ hai sau
oxygen trên quả địa cầu. Đây là cũng là một nguồn thiên nhiên phong
phú gần như vô tận. Nó chiếm gần 30 % của vỏ quả đất dưới dạng
silica (SiO2), và là một hợp chất chính trong cát. Nh́n
xung quanh, ta thấy tính hữu dụng của silica hiện hữu từ công nghệ
"thấp" như bê tông, thủy tinh đến công nghệ cao như transistor, chip
vi tính và các linh kiện điện tử khác. Có thể nói rằng silicon,
hay đi từ nguyên thủy - cát, là xương sống của nền văn minh hiện
đại. Nói khác hơn, ngoài đá cát của thiên nhiên ta thấy sự hiện diện
của nguyên tố silicon hầu hết ở tất cả mọi nơi từ những ṭa nhà chọc
trời đến những linh kiện điện tử thu nhỏ cho máy vi tính ở thang
nanomét (nhỏ hơn sợi tóc 100.000 lần).
Năm mươi năm trước, cùng một
lúc với sự phát minh của silicon transistor, pin mặt trời (hay là
pin quang điện) silicon được chế tạo tại Bell Labs (Mỹ). Pin nầy có
khả năng chuyển hoán năng lượng mặt trời sang điện năng với hiệu
suất là 6 %. Một con số tương đối nhỏ so với hiệu suất lư thuyết tối
đa cho silicon là 31 %, nhưng đây là một thành quả rất ấn tượng cho
bước đầu nghiên cứu của pin mặt trời. Nhóm nghiên cứu của giáo sư
Martin Green (University of New South Wales, Úc) hiện nay đă đạt kỷ
lục 24,7 %.
Cho đến ngày hôm nay những
đặc tính cơ bản của pin quang điện mặt trời nầy vẫn không có nhiều
thay đổi; 95 % các hệ thống, dụng cụ dùng tế bào quang điện chế tạo
từ silicon với hiệu suất trung b́nh 15 %. Có ba loại silicon được
làm pin mặt trời: đơn tinh thể (monocrystalline), đa tinh thể
(polycrystalline) và vô định h́nh (amorphous). Phần lớn các pin mặt
trời hiện nay xuất hiện trên thương trường vẫn là pin của thế hệ thứ
nhất (first-generation cell) dùng silicon đơn tinh thể có hiệu suất
chuyển hoán 18 %. Sản phẩm đ̣i hỏi silicon đơn tinh thể phải có độ
nguyên chất đạt đến 99,9999 % (6 con số 9) thậm chí 99,999999999 %
(11 con số 9), và quá tŕnh chế tạo cần nhiệt độ cao để làm tan chảy
silicon. Độ nguyên chất phải ở mực gần như tuyệt đối để bảo đảm sự
di động dễ dàng của điện tử tạo ra ḍng điện. Hai yêu cầu khó khăn
nầy đẩy giá thành lên cao và v́ vậy không được áp dụng rộng khắp.
Pin dùng silicon đa tinh thể
và vô định h́nh thuộc thế hệ thứ hai. Silicon đa tinh thể được chế
tạo ít tốn kém hơn v́ không cần đạt đến độ nguyên chất như đơn tinh
thể. Nhưng đa tinh thể nhiều đường biên tinh thể (crystalline
boundary) cản trở sự di động của điện tử làm giảm hiệu suất của pin
(12 – 15 %). Ngoài ra, silicon vô định h́nh có thể được xem là vật
liệu trong việc sản xuất pin mặt trời giá rẻ. Một trong những ưu
điểm là khác với silicon tinh thể, silicon vô định h́nh có thể làm
thành phim mỏng vừa ít tốn kém nguyên liệu vừa có khả năng hấp thụ
năng lượng mặt trời 40 lần cao hơn silicon đơn tinh
thể; phim silicon dày 1
mm
có thể hấp thụ gần 90 % bức xạ mặt trời. Tuy nhiên, v́ bản chất vô
định h́nh hiệu suất chuyển hoán thành điện chỉ bằng phân nửa hiệu
suất của silicon đơn tinh thể. Điều nầy cũng dễ hiểu. Vô định h́nh
như một nắm tóc rối nùi, trong khi tinh thể như một mái tóc
được chải mượt mà. Hiệu suất tùy vào sự di động của điện tử và sự di
động nầy tạo ra ḍng điện. Đương nhiên độ đi dộng của điện tử trong
một môi trường có một trật tự cao hơn trong một không gian vô định
h́nh ngoằn ngoèo như một mê cung. Dù vậy, silicon vô định h́nh vẫn
là loại vật liệu được ưa chuộng nhờ vào giá rẻ để chế tạo mái ngói
hoặc các panô (panel) quang điện cho nhà ở hoặc các cao ốc, công
thự. Ngoài silicon vô định h́nh với lợi điểm tạo thành phim mỏng,
pin mặt trời thuộc thế hệ thứ hai bao gồm các loại hợp chất bán dẫn
như indium dislenide đồng và cadmium telluride được phủ lên thủy
tinh. Các loại bán dẫn nầy có giá rẻ hơn rất nhiều so với silicon
đơn phân tử nhưng có khuyết tật cấu trúc nên hiệu suất không
cao.
Việc phát triển mọi ngành
công nghệ đều tập trung vào việc giảm giá thành. Công nghệ pin mặt
trời cũng không phải là ngoại lệ. Ngoài việc phổ cập hóa silicon vô
định h́nh, cải thiện quá tŕnh sản xuất silicon đơn tinh thể đă làm
giảm giá vật liệu nầy. Nhờ vậy, giá điện mặt trời đă giảm 20 lần
trong 30 năm qua. Nếu chiều hướng nầy tiếp tục th́ trong ṿng 25 năm
tới giá sẽ giảm đến $0,02/kWh. Với sự trợ giúp của công nghệ nano
người ta dự đoán rằng đến năm 2050 th́ năng lượng mặt trời sẽ cung
ứng 25 % nhu cầu năng lượng của nhân loại [1].
3. Nguyên lư của pin mặt
trời
Nguyên lư của pin mặt trời
là hiệu ứng quang điện (photoelectric effect). Hiệu ứng quang điện
được xem là một trong những phát hiện to lớn của Einstein. Hiệu ứng
nầy mô tả khả năng của ánh sáng (quang) khi được chiếu trên bề mặt
vật liệu có thể đánh bật điện tử (điện) ra khỏi bề mặt nầy. Để giải
thích hiệu ứng quang điện Einstein đưa ra khái niệm quang tử
(photon). Ánh sáng là những quang tử được bắn lên vật liệu để tống
điện tử của vật liệu thành điện tử tự do. Sự di động của các điện tử
nầy sẽ cho ta ḍng điện.
Vật liệu silicon nguyên chất
là một mạng nối kết các nguyên tố silicon và mạng nầy trung tính về
điện nên không hữu dụng. Khi silicon được kết hợp một lượng nhỏ (vài
phần triệu) "chất tạp", mạng sinh ra điện tích. Silicon mang điện
tích là vật liệu cho nhiều áp dụng cực kỳ quan trọng. Khi silicon
kết hợp với chất tạp (dopant) có khả năng lấy điện tử
(electron acceptor) từ mạng silicon, mạng silicon sẽ có những lỗ
trống mang điện tích dương (+). Đây là p-silicon (p = positive,
dương). Lỗ trống (+) vốn dĩ là "nhà" của điện tử, cho nên khi điều
kiện cho phép điện tử sẽ chiếm đóng trở lại. Mặt khác, khi silicon
được kết hợp với chất tạp có khả năng cho điện tử, mạng silicon sẽ
dư điện tử. Đây là n-silicon (n = negative, âm). Silicon dùng trong
mọi linh kiện điện tử (thí dụ: transistor, đèn diode) là một vật
liệu hỗn hợp liên kết giữa p-silicon và n-silicon. Có thể nói rằng
p- và n-silicon đă tạo ra một cuộc cách mạng khoa học ở thế kỷ 20 và
đă cho nhân loại nền văn minh silicon.
Như một quy luật thiêng
liêng trong vạn vật, sự tiếp cận âm dương lúc nào cũng cho ta nhiều
điều thú vị. Khi p-silicon tiếp cận với n-silicon, vùng chuyển tiếp
(junction) giữa hai vật liệu nầy sẽ sinh ra một điện áp tự nhiên
(0,7 V). Khi quang tử của ánh sáng mặt trời chạm vào mạng silicon,
nó sẽ đánh bật điện tử ra khỏi mạng thành điện tử "vô gia cư" và để
lại lỗ trống (+) trên mạng. Tuy nhiên, sau khi bị quang tử tấn công
cặp điện tử và lỗ trống (+) vẫn c̣n quyến luyến v́ lực hút Coulomb
nên không chịu rời nhau! Cặp điện tử và lỗ trống (+) c̣n gọi là
exciton. Chỉ có những cặp gần vùng chuyển tiếp mới bị điện áp vùng
biên kéo cả hai ra xa để lỗ trống (+) đi về phía p-silicon và điện
tử đi về phía n-silicon. Bây giờ, điện tử mới thật sự tự do di động
để cho ra ḍng điện. H́nh 1 cho thấy cấu trúc của pin mặt trời
silicon. Vùng chuyển tiếp hay là mặt tiếp xúc giữa p-silicon và
n-silicon rất rộng để tạo ra nhiều khả năng để cặp điện tử và lỗ
trống (+) có nhiều cơ hội chia ly. Thật ra, đây chỉ là cuộc chia ly
tạm thời v́ điện tử đi đường ṿng ra ngoài tạo nên ḍng điện, "bọc
hậu" trở lại p-silicon t́m lại bạn xưa! Cứ như thế, khi ánh
sáng chiếu liên tục ta sẽ có ḍng điện liên tục để sử dụng.
H́nh 1: Cấu trúc của pin mặt
trời silicon và cơ chế tạo ra ḍng điện.
Chấm đen là điện tử e-;
chấm trắng là lỗ trống h+.
4. Tối ưu hóa hiệu suất
chuyển hoán
Quang tử mang nhiều năng
lượng khác nhau và chỉ có quang tử mang năng lượng lớn hơn một mức
độ nhất định nào đó th́ mới có khả năng đánh bật điện tử ra khỏi
mạng silicon để trở thành điện tử tự do. Vậy mức độ nhất định đó là
ǵ? Mức độ nầy chẳng qua là trị số khe dải năng lượng (energy band
gap) của silicon. Khái niệm dải năng lượng điện tử (electronic
energy band) và khe dải năng lượng đă được đề cập trong một bài viết
trước [3]. "Đánh bật" là một từ nói cho tượng h́nh, nhưng để hiểu
một cách khoa học hơn ta phải dùng đến khái niệm khe dải năng
lượng. Các điện tử chiếm đóng ở dải hóa trị (valence band) khi có
một kích hoạt (thí dụ: quang tử) tác dụng điện tử sẽ nhảy qua khe
dải chiếm cứ dải dẫn điện (conduction band). V́ vậy quang tử phải
mang một năng lượng ít nhất bằng hoặc hơn trị số khe dải để "nâng"
điện tử từ dải hóa trị đến dải dẫn điện. Khi điện tử ở dải dẩn điện
rồi, điện tử sẽ trở thành điện tử tự do tạo ra ḍng điện (H́nh 2).
Khe dải của silicon có trị số khoảng 1,1 eV tương đương với năng
lượng của tia hồng ngoại. Phổ ánh sáng mặt trời bao gồm tia hồng
ngoại (năng lượng <1,7 eV), ánh sáng thấy được (1, 7 -3,3 eV) và tia
tử ngoại (>3,3 eV). Như vậy, phần lớn ánh sáng mặt trời từ tia hồng
ngoại đến tia tử ngoại đều có khả năng "đánh bật" điện tử ra khỏi
mạng silicon.

H́nh 2: Quang tử trong ánh sáng
mặt trời "đánh bật" và nâng điện tử lên dải dẫn điện
để lại lỗ trống
(+) ở dải hóa trị. Cặp (+)(-) (lỗ trống - điện tử) c̣n gọi là
exciton.
Hiệu suất lư thuyết tối đa
31 % đề cập bên trên được định đoạt bởi trị số khe dải 1,1 eV của
silicon. Bởi v́ ta cần một năng lượng "đánh bật" 1,1 eV, những quang
tử có năng lượng nhỏ hơn 1,1 eV không thể dự phần, và quang tử có
năng lượng lớn hơn sẽ bị thất thoát đi phần dư thừa ở dạng nhiệt.
Hai nguyên nhân nầy đưa đến sự thất thoát 69 % năng lượng mặt trời
trong silicon do trị số khe dải. Đó là chưa kể sự thất thoát gây ra
bởi cấu trúc vật liệu (tinh thể hay vô định h́nh), phản xạ bề mặt
và phương pháp sản xuất. Nếu ta dùng những vật liệu bán dẫn
với những khe dải khác nhau và liên kết những vật liệu nầy thành một
cấu trúc chuyển tiếp đa tầng (multi-junction) để hấp thụ quang tử
mặt trời ở các mực năng lượng khác nhau, hiệu suất chuyển hoán sẽ
phải gia tăng.
Năm 2002, các nhà khoa học
tại Viện Nghiên cứu Quốc gia, Lawrence Berkeley National Laboratory
(Mỹ), thiết kế các hợp chất bán dẫn chứa indium (In), gallium (Ga)
và nitrogen (N) cho đèn phát quang diode. Trong cơ chế phát quang
của đèn diode ta cho ḍng điện tạo ra sự kết hợp giữa điện tử và lỗ
trống (+) trong chất bán dẫn để tạo ra ánh sáng [4]. Cơ chế của pin
mặt trời có thể xem là một hiện tượng nghịch lại v́ ánh sáng làm
phân ly điện tử và lỗ trống (+) để cho ra ḍng điện. Khi hợp chất
bán dẫn InGaN được chế tạo, các nhà khoa học Mỹ khám phá ra là bằng
sự điều chỉnh tỉ lệ của In và Ga, khe dải của hợp chất InGaN có thể
biến thiên liên tục từ 0,2 đến 3,4 eV bao gồm toàn thể quang phổ mặt
trời. Các nhà khoa học ở Lawrence Barkerley vừa làm vật liệu cho đèn
diode vừa cho pin mặt trời. Một công hai việc. Trở ngại chính là sự
tốn kém trong việc sản xuất, cấu trúc nầy v́ vậy không thể trở thành
một sản phẩm phổ cập. Nhưng nếu tiền bạc không phải là vấn đề quan
trọng như trong một số áp dụng đặc biệt chẳng hạn như cho vệ tinh,
các loại pin nầy là nguồn điện hữu hiệu để vận hành vệ tinh. Chỉ cần
kết hợp hai tầng InGaN được thiết kế có khe dải 1,1 eV và 1,7 eV,
hiệu suất dễ dàng đạt đến 50 %. Mười hai tầng InGaN có khe dải bao
gồm toàn thể quang phổ mặt trời sẽ cho hiệu suất 70 %.
Gần đây (năm 2006), một số
chất bán dẫn đă được thiết kế để tối ưu hóa trị số khe dải, gia tăng
hiệu suất và đồng thời giảm giá thành sản xuất. Trong một cuộc triển
lảm quốc tế về năng lượng mặt trời (2006), công ty Sharp Solar (Nhật
Bản), một trong những công ty lớn và uy tín trên thế giới sản xuất
pin mặt trời, đă ra mắt một panô pin mặt trời có hiệu suất đột phá
36 % mà vật liệu là hợp chất bán dẫn của các nguyên tố ở cột III
(aluminium, gallium, indium) và cột V (nitrogen, arsenic) trong bảng
phân loại tuần hoàn. Không chịu thua, cũng vào năm 2006 công ty
Boeing - Spectrolab (Mỹ) dùng chất bán dẫn với một công thức được
giữ bí mật có thể chuyển hoán 41% năng lượng mặt trời. Mười tháng
sau đó, viện nghiên cứu quốc gia Lawrence Berkeley National
Laboratory (Mỹ) lại chế tạo một loại pin mặt trời dùng chất bán dẫn
zinc-manganese-tellium với hiệu suất 45 %. Những con số nầy rất ấn
tượng, nhưng phải nói rằng panô của Sharp Solar dù ở 36 % nhưng đă
đạt tới tŕnh độ hữu dụng của một thương phẩm về giá trị thực tiễn
cũng như giá cả.
Hiện nay, việc nghiên cứu
các chất bán dẫn vô cơ mà điển h́nh là silicon được phát triển mạnh
trên mặt sản xuất làm giảm giá thành, tối ưu hóa những vật liệu hiện
có để nâng cao hiệu suất và t́m kiếm những hợp chất bán dẫn mới với
các trị số khe dải thích hợp. Nền công nghệ nano đang là chủ lực để
đạt những mục tiêu nhiều tham vọng nầy. Một trong những ư tưởng nano
là chế tạo hằng tỷ tế bào pin mặt trời ở kích thước nanomét gọi là
điểm lượng tử (quantum dot), thay v́ dùng từng mảng vật liệu như
hiện nay. Nhóm của giáo sư Martin Green (University of New South
Wales, Úc) lần đầu tiên chế biến thành công trong pḥng thí nghiệm
pin mặt trời silicon mang cấu trúc điểm lượng tử với hiệu suất đạt
đến gần con số lư thuyết 31 %. Điểm lượng tử silicon thật ra
là tinh thể nano silicon. Tiến sĩ Arthur Nozik thuộc Viện Nghiên cứu
Năng lượng Tái sinh (Mỹ) (National Renewable Energy Laboratory) cũng
đă chế tạo thành công tập hợp điểm lượng tử silicon (H́nh 3). Mỗi
điểm có bán kính khoảng 7 nm, chứa 50 - 70
nguyên tử silicon. Thông thường một quang tử đánh bật một điện tử,
nhưng ở thứ nguyên nano cực nhỏ nầy một quang tử khi va chạm vào
điểm lượng tử có thể sinh ra hai, ba điện tử tự do. Kết quả là ta sẽ
có nhiều điện tử tạo ra ḍng điện. Theo Nozik, nhờ vào hiệu ứng đa
điện tử của điểm lượng tử silicon, hiệu suất chuyển hoán có thể đạt
hơn 60 %, gấp đôi con số lư thuyết 31 % của trường hợp một quang tử
cho một điện tử. Tuy nhiên, để trở thành một sản
phẩm thông dụng, người ta dự đoán phải cần một thời gian từ 10 đến
15 năm. Chúng ta hăy kiên nhẫn chờ xem.

H́nh 3: Tập hợp điểm
lượng tử (tinh thể nano) silicon.
Mỗi điểm có đường kính 7 nm và
chứa 50 - 70 nguyên tử silicon
(Nguồn: Tiến sĩ Arthur Nozik).
5. Polymer mang nối liên hợp
và fullerene
Cơ chế biến năng lượng mặt
trời thành ḍng điện thật ra là một cơ chế đơn giản. Nó qua một tiến
tŕnh như sau: (1) điện tử bị quang tử "đánh bật" ra khỏi "nhà" của
ḿnh (mạng vật liệu) để lại một lỗ trống (+); (2) v́ điện tử có điện
tích âm (-) và lỗ trống mang điện dương (+) nên cặp âm dương (+)(-),
hay là lỗ trống - điện tử (exciton) (H́nh 1 và 2), không chịu rời
nhau do lực hút tĩnh điện và (3) cặp (+)(-) phải được tách rời để
điện tử hoàn toàn tự do đi lại cho ra ḍng điện. Thiếu một trong ba
quá tŕnh nầy, ḍng điện không xảy ra. Trong trường hợp silicon và
các chất bán dẫn vô cơ khác, như đă đề cập bên trên vùng chuyển
tiếp (junction) giữa p-silicon và n-silicon là nơi phân ly cặp
(+)(-).
Cũng như trong các áp dụng
đèn phát quang [4], sự đổi màu điện học [5] và các ứng dụng quang
học và quang điện tử đều liên hệ đến khe dải năng lượng, vật liệu
hữu cơ được đặc biệt chú trọng nhờ vào các phương pháp tổng hợp đơn
giản, gia công dễ dàng, tạo được phim mỏng và có thể thiết kế để có
những trị số khe dải khác nhau. Những lợi điểm nầy làm giảm giá sản
xuất và tạo điều kiện cho sản xuất quy mô lớn. Trong pin mặt trời
dùng vật liệu hữu cơ, nguyên tắc chính là sự di chuyển điện tử từ
một polymer/phân tử cho điện tử (electron donor) đến một
polymer/phân tử nhận điện tử (electron acceptor). Sự di chuyển của
điện tử sẽ tạo thành ḍng điện. Chuyện nghe đơn giản nhưng làm không
đơn giản! Lư do chính là làm sao để điện tử có thể di động thoải mái
để tạo ḍng điện và không c̣n "quyến luyến" với các lỗ trống (+) lúc
nào cũng chập chờn chờ đợi sự tái kết hợp.
Một trong những pin mặt trời
hữu cơ là pin mặt trời polymer - fullerene (thí dụ: quả bóng đá C60)
[6]. Polymer là các polymer mang nối liên hợp (viết tắt: polymer
liên hợp) (- C = C - C = C -) như polyacetylene (PA), polypyrrole
(PPy), polyaniline (PAn), polythiophene (PT), poly (phenylene
vinylene) (PPV) v.v... và các polymer dẫn xuất. Cũng nên nhắc lại là
polymer liên hợp khi kết hợp với dopant sẽ trở thành polymer dẫn
điện. Điện tử
p trong nối liên hợp một lần nữa thể hiện
vai tṛ quan trọng của nó. Khi có một kích hoạt bên ngoài, chẳng hạn
như quang tử của ánh sáng mặt trời, polymer mang nối liên hợp "phóng
thích" các điện tử
p
và để lại nhiều lỗ trống (+) trên mạch polymer. V́ vậy, polymer liên
hợp được gọi là vật liệu loại p (p-type, p = positive = dương).
Ngược lại, fullerene là vật liệu nhận điện tử rất hiệu quả; sau khi
nhận điện tử fullerene mang điện tích âm nên được gọi là vật liệu
loại n (n-type, n = negative = âm) (H́nh 4). Trong silicon ta cũng
có p-silicon và n-silicon.

H́nh 4: Quang tử trong ánh sáng
mặt trời đánh bật điện tử ra khỏi mạch polymer của poly
(3-hexylthiophene) (P3HT) và được nhận bởi [6,6]-PCBM C60 (một chất
dẫn xuất của C60).
Kịch bản chuyển hoán năng
lượng mặt trời thành ḍng điện trong các vật liệu hữu cơ cũng tương
tự như silicon. Những quang tử sẽ đánh bật điện tử ra khỏi mạng của
vật liệu p tạo ra cặp âm dương (+)(-) (cặp điện tử - lỗ
trống). Những cặp nầy khuếch tán, "rong chơi" trong vật liệu và chỉ
có những cặp ở gần vùng chuyển tiếp p-n (p-n junction) th́ mới có
cuộc phân ly "chia loan rẽ thúy"! Sau khi chia ĺa điện tử sẽ di
động trong vật liệu n tiến đến cực dương và lỗ trống (+) di động
trong vật liệu p tiến đến cực âm (H́nh 5a). Ḍng điện xuất hiện.
Như vậy, để gia tăng hiệu
suất chuyển hoán, diện tích của mặt (tiếp xúc) chuyển tiếp giữa hai
vật liệu p và n cần phải được cực đại hóa. V́ mặt chuyển tiếp là nơi
tiếp xúc của hai vật liệu khác nhau nên được gọi là mặt chuyển tiếp
dị chất (hetero-junction). Đối với các vật liệu hữu cơ việc cực đại
hóa chỉ cần một phương pháp đơn giản là trộn (blend) hai vật liệu
nầy tạo thành một composite. Để cho sự di chuyển của điện tử và lỗ
trống (+) đến điện cực không bị ùn tắt giữa đường, mô dạng
(morphology) composite cần có những đường vân liên tục của vật liệu
p và n đan xen vào nhau (interpernetrating) và tiếp nối đến điện cực
để điện tử và lỗ trống (+) đi đến nơi đến chốn (H́nh 5b). Ngoài ra,
vật liệu phải nguyên chất (silicon có độ nguyên chất cao hơn 99.99
%) bởi v́ chất tạp trở thành rào cản chận đứng sự di động của điện
tử và lỗ trống (+). Đây là những đ̣i hỏi nhiều thử thách trong pin
mặt trời hữu cơ.


H́nh 5: (a) Tiến tŕnh phân ly
của cặp lỗ trống - điện tử (h+ và e-)
tại mặt
chuyển tiếp giữa vật liệu p và n.
(b) Điện tử (e-) đi
theo đường vân vật liệu n tiến đến cực dương,
và lỗ trống (h+)
theo đường vân vật liệu p tiến đến cực âm. Ḍng điện xuất hiện.
Sự lựa chọn vật liệu loại p
rất quan trọng v́ nó là nguồn cung cấp điện tử cho pin. Nhưng tại
sao lại phải là polymer liên hợp? Lư do chính là polymer liên hợp có
tính bền trong vùng ánh sáng thấy được, có thể tạo thành phim mỏng ở
đơn vị micromét (một phần ngàn mm) đến nanomét (một phần triệu mm)
nhưng vẫn có thể hấp thụ ánh sáng rất hiệu quả. Khe dải của những
polymer liên hợp tiêu biểu có trị số trong khoảng 1,5 - 2,5 eV nằm
trong vùng quang phổ của ánh sáng mặt trời. Một ưu điểm khác là khe
dải có thể được thiết kế có trị số nhỏ hơn (~ 1 eV) để lợi dụng các
quang tử có năng lượng thấp. Sự điều chỉnh khe dải được áp dụng rất
hiệu quả cho đèn phát quang polymer (PLED) [4]. Đây là một ưu điểm
vượt trội của polymer liên hợp v́ có thể thực hiện dễ dàng hơn các
chất bán dẫn vô cơ. Dùng phương pháp tổng hợp hóa hữu cơ ta có thể
điều chỉnh trị số khe dải bằng cách gắn những nhóm biên (functional
group) vào mạch polymer để thay đổi cấu trúc phân tử hay tạo
ra polymer liên hợp mới. Có thể nói là ngành hóa hữu cơ "cổ lổ" bỗng
nhiên được hồi sinh nhờ vào những đ̣i hỏi của công nghiệp điện
tử. Sự lựa chọn vật liệu loại n cũng không kém phần quan trọng. Vật
liệu nầy sẽ nhận điện tử và kích thích sự phân ly của cặp (+)(-).
Trong một danh sách dài của các vật liệu loại n có khuynh hướng thu
hút điện tử cực mạnh, ta có thể chọn các loại phân tử, những oxide
với cấu trúc nano như TiO2, ZnO, hạt nano bán dẫn
(semiconducting nanoparticles) và fullerene.
Hiện nay, vật liệu loại p
đang được nghiên cứu là chất dẫn xuất của PPV, poly [methoxy -
(dimethyloctyloxy) - phenylene vinylene] (MDMO-PPV) và chất dẫn xuất
của PT, poly (3-hexylthiophene) (P3HT), và vật liệu loại n thông
dụng là chất dẫn xuất của C60, PCBM C60 (H́nh 4). Composite
MDMO-PPV/PCBM C60, composite P3HT/PCBM C60 và các composite khác đă
được khảo luận tỉ mỉ trong bài báo cáo tổng kết pin mặt trời hữu cơ
của Mozer và Sariciftci [7]. Ảnh hưởng của mô dạng composite đến
hiệu suất chuyển hoán được phân tích trong bài báo cáo của Yang và
Loos [8]. Hai bài báo cáo xuất sắc nầy cho thấy những đóng góp kiên
tŕ của các nhà khoa học vào sự phát triển của pin mặt trời hữu
cơ hơn 10 năm qua, từ một hiệu suất khiêm tốn 0,1 % cho đến ngày hôm
nay tăng đến 5 - 6 % tương đương với hiệu suất của phim silicon vô
định h́nh. Dù con số nầy chỉ bằng 1/10 của các hợp chất bán dẫn vô
cơ "siêu hạng" được đề cập bên trên, các loại pin hữu cơ mỏng, mềm
dẻo, giá rẻ, nhẹ và bền có thể sản xuất hàng loạt bằng phương pháp
in phun như đă làm cho đèn phát quang polymer (PLED).
6. Pin mặt trời từ thuốc
nhuộm
Cái tựa đề nghe có vẻ hoang
tưởng nhưng đây là một sản phẩm được mô phỏng từ Mẹ thiên nhiên.
Loại pin nầy bắt chước quá tŕnh quang hợp trong thực vật. Phản ứng
quang hợp xảy ra trong lá cây với sự hiện diện của ánh sáng mặt trời
và diệp lục tố (chlorophill) biến nước được cung cấp từ rễ và carbon
dioxide (CO2) từ không khí thành đường glucose (năng
lượng) và oxygen theo một công thức đơn giản,
6H2O + 6CO2 ®
C6H12O6 (đường glucose) + 6O2
Diệp lục tố cho màu xanh của
lá, là chất xúc tác của phản ứng trên biến năng lượng mặt trời thành
hóa năng dưới dạng đường, duy tŕ sự sống c̣n của thực vật. Diệp lục
tố nhận năng lượng mặt trời, hay nói một cách khác, quang tử mặt
trời đánh bật điện tử
p
của diệp lục tố thành điện tử tự do gây ra những phản ứng dây chuyền
để cuối cùng tạo ra đường. Thật ra, diệp lục tố là thuốc nhuộm thiên
nhiên do sự hấp thụ ánh sáng hiển thị màu xanh. Thuốc nhuộm
spiro-MeOTAD dùng trong pin mặt trời và diệp lục tố có cấu trúc ṿng
rất giống nhau mang nối liên hợp với những điện tử
p
kỳ diệu (H́nh 6).

H́nh 6: Cấu trúc nối liên hợp
của diệp lục tố (chlorophill) và thuốc nhuộm spiro-MeOTAD.
Nhóm của giáo sư Michael
Grätzel (Swiss Federal Institute of Technology, Thụy Sĩ) là nhóm
tiên phong nghiên cứu về pin thuốc nhuộm từ năm 1991. Ông và cộng sự
dùng thuốc nhuộm (thí dụ: spiro-MeOTAD) làm vật liệu loại p (cho
điện tử) và oxide bán dẫn TiO2 làm vật liệu loại n (nhận
điện tử). Ngoài ra, các oxide bán dẫn khác như ZnO, Nb2O5,
SnO2 cũng đă được khảo sát. Đặc điểm của TiO2
là giá rẻ, rẻ hơn rất nhiều so với silicon. Tuy nhiên, cũng như
trường hợp pin polymer liên hợp – fullerene, vùng chuyển tiếp giữa
hai vật liệu p và n phải được cực đại hóa. Hiệu suất của pin thuốc
nhuộm không có ǵ ấn tượng cho đến khi Grätzel và cộng sự chế biến
thành công tinh thể nano TiO2 ở thứ nguyên nanomét (15 -
20 nm). Đây là một bước đột phá kỹ thuật. Tinh thể nano TiO2 có
thể phủ lên điện cực dưới dạng phim có những lỗ vi mô (micropores)
với độ dày 5 - 20
mm
với diện tích tiếp xúc rất lớn. Nhờ những lỗ vi mô nầy một gram phim
tinh thể TiO2 có bề mặt là 80 - 200 m2, tương
đương với một sân tennis! Các phân tử thuốc nhuộm len lỏi vào những
lỗ vi mô làm diện tích của vùng chuyển tiếp dị chất
(hetero-junction) gia tăng hơn 1000 lần và nhờ vậy sự phân ly cặp
(+)(-) trở nên cực kỳ hiệu quả.
Giáo sư Grätzel cho biết pin
thuốc nhuộm của nhóm ông đạt đến hiệu suất 11 % tiến đến hiệu suất
của silicon đa tinh thể và có thể sản xuất với giá 3 đến 4 lần rẻ
hơn pin silicon. Một thành tích rất ấn tượng cho pin mặt trời hữu
cơ.
7. Lời kết
Kể từ lúc pin silicon đơn
tinh thể, pin mặt trời thuộc thế hệ thứ nhất, xuất hiện ở đầu thập
niên 50 của thế kỷ trước đến pin silicon vô định h́nh và các hợp
chất bán dẫn vô cơ thuộc thế hệ thứ hai và các loại pin hữu cơ dựa
vào sự di động của điện tử
p
thuộc thế hệ thứ ba, các nhà khoa học đă đi một đoạn đường dài trong
việc lợi dụng năng lượng mặt trời tạo ra điện năng. Công nghệ nano
đang và sẽ góp phần không nhỏ vào việc hoàn thiện dụng cụ nầy. Ngoài
những áp dụng thực tiễn, trong quá tŕnh nghiên cứu và phát triển
pin mặt trời các nhà khoa học và vật liệu học đă khám phá ra những
điều thú vị trong việc tạo ra những vật liệu hiệu quả, tối ưu hóa
việc chuyển hoán năng lượng với những ứng biến linh động dựa
trên khe dải năng lượng và mô dạng trong các composite cho trường
hợp của các vật liệu hữu cơ.
Với những thành quả nghiên
cứu, các loại pin mặt trời dù được làm từ chất vô cơ hay hữu cơ càng
ngày sẽ càng hiệu quả và càng giảm giá. Theo các chuyên gia, trong
sân chơi "năng lượng mặt trời", không có trở ngại kỹ thuật nào mà
không thể vượt qua nếu các nhà khoa học được cung cấp tài chánh dồi
dào để tiếp tục phát huy. Nhưng có thực sự là năng lượng mặt trời sẽ
đóng vai tṛ chủ chốt trong các loại năng lượng tái sinh khác trong
tương lai? Vấn đề chính của pin mặt trời là sự đ̣i hỏi những khoảng
đất rộng lớn để cài đặt những panô pin cho việc cung cấp điện. Trở
ngại thứ hai là việc tồn trữ điện cho những ngày mưa phải cần đến
một kỹ năng khác mà hiện giờ vẫn chưa có một giải đáp thỏa đáng.
Trớ trêu thay, Nhật Bản -
một nước đất hẹp người đông - lại là một quốc gia đứng đầu thế giới
về năng lượng mặt trời. Công ty Sharp Solar (Nhật Bản) đang đổ tiền
đầu tư để tiến hành một dự án xây những thiết bị pin mặt trời có khả
năng sản xuất 100 gigawatts (100 tỷ watts) vào năm 2030, tương đương
với 30 lần công suất của toàn thế giới hiện nay [1]. Cái táo bạo của
người Nhật Bản cho ta một niềm lạc quan vào tương lai của năng lượng
mặt trời. Tuy có những chướng ngại cơ bản về đất đai để thiết lập
panô pin và việc tồn trữ điện, điện lượng tiêu thụ của con người
trong 20, 30 năm tới không ít th́ nhiều phải dựa vào dạng năng lượng
nầy.
Từ khi thái dương hệ xuất
hiện, những tia sáng mặt trời truyền đến mặt đất bị hoang phí đă
hằng tỷ năm. Hơn nửa thế kỷ qua, cơ học lượng tử đă giúp loài người
đạt được nhiều kỳ tích "đuổi bắt" những tia sáng kỳ diệu nầy.
Thêm nửa thế kỷ sắp tới, khai thác năng lượng mặt trời đặt các nhà
nghiên cứu khoa học trước nhiều thử thách trong việc chọn lựa vật
liệu và tối ưu hóa thiết kế cấu trúc của tế bào quang điện, nhưng bù
lại sẽ mang đến cho nhân loại những dụng cụ tiện ích và rất nhiều
khám phá kỳ thú. Trong khi đó mặt trời của chúng ta vẫn ung dung rực
cháy.
Đầu Xuân (Wollongong)
25 September 2007
TVT
Ghi chú và Tài liệu tham
khảo
[1] E. Cartlige, "Bright outlook
for solar cells", Physics World, 20 (7) (2007) 20.
[2] N. S. Lewis, Science,
315 (2007) 98.
[3]
http://erct.com/2-ThoVan/TruongVTan/DienTu_P.htm
[4]
http://erct.com/2-ThoVan/TruongVTan/Cauchuyen_vesu_phatquang.htm
[5]
http://erct.com/2-ThoVan/TruongVTan/Cuaso_Thongminh.htm
[6]
http://erct.com/2-ThoVan/TruongVTan/Fullerene.htm
[7]
A. J. Mozer and N. S.
Sariciftci, Chapter 10 "Conjugated Polymer-Based Photovoltaic
Devices", in "Handbook of Conducting Polymers ed. 3 (edited by T. A.
Skotheim and J. Reynolds), December 2006, CRC Press, Mercel Dekker.
[8] X. Yang and J. Loos,
Macromolecules, 40 (2007) 1353.
(*) Anh Trương Văn Tân sinh quán tại tỉnh Sa Đéc,
cựu học sinh trường trung học Sa Đéc và Tống Phước Hiệp (Vĩnh Long).
Anh Tân đến Nhật cuối năm 1969. Anh tốt nghiệp Bachelor Eng.
(1975), Master Eng. (1977) trường Tokodai (Tokyo Institute of
Technology) và PhD (1980, University of Adelaide, Úc).
Anh Tân hiện làm việc tại Viện Khoa Học và Công Nghệ Quốc Pḥng (Defence
Science and Technology Organisation) trực thuộc Chính Phủ Liên Bang
Úc. Anh chuyên về Vật Liệu Học và hiện nghiên cứu về polymers dẫn
điện và ống nano carbon. Anh đă công bố gần 70 bài báo cáo khoa học
trên các tạp chí khoa học quốc tế. Xem thêm
những bài viết của anh Trương Văn Tân trên
ERCT
|
|