|
Quả
Bóng
Đá C60 và Ống Nano Carbon
"There's
plenty of room at the bottom"
(Richard
P. Feynman, Physics Nobel Laureate)
Trương
Văn Tân (*)
Cách
đây mười năm cụm từ "công
nghệ nano" (nanotechnology) ít được người
biết đến, nhưng ngày hôm nay nó trở
thành một thuật ngữ quen thuộc ở
mọi giai tầng trong xã hội hiện đại. Người
làm kinh tế hay chính trị cũng thường
đề cập đến nano dù người nói
lẫn người nghe lắm khi vẫn không
biết đích xác là gì. Nano là tiếng
gọi tắt của nanometer (ký hiệu nm, 1 nm =
10-9 m hay là 0.000000001 m) [1]
là một đơn vị đo lường
ở thứ nguyên nguyên tử hay phân tử. Công
nghệ nano liên quan đến việc lợi
dụng những hiện tượng ở
đơn vị nanometer để thiết kế
vật liệu và vật chất với những
chức năng đặc biệt ngay từ thang
(scale) nguyên tử hoặc phân tử. Người
ta gọi đây là phương pháp thiết
kế "từ dưới lên" (bottom-up
method) khác với phương pháp thiết kế
thông thường "từ trên xuống"
(top-down method) đang được lưu dụng
[ 2 ]. Nhà
vật lý học nổi tiếng Richard Feynman đã
từng tiên đoán phương pháp "từ dưới
lên" trong một bài thuyết trình năm 1959
qua câu nói vừa nghiêm túc vừa hài hước "There's
plenty of room at the bottom" (Có rất nhiều
chỗ trống ở miệt dưới). Lời
dự đoán thiên tài nầy cho biết vùng
tận cùng "miệt dưới" của
nguyên tử và phân tử vẫn còn là những vùng
phì nhiêu bát ngát chờ đợi con người
đến thao túng khai hoang!
Tuy nhiên
con người phải chờ đến 30 năm
mới nhìn thấy sự bùng nổ của
nền công nghệ nano chủ yếu sử
dụng phương pháp "từ dưới lên".
Nền công nghệ nầy đang có tác động
mạnh lên nền công nghệ "cổ
điển" hiện tại và cũng là
một động lực của những công trình
nghiên cứu đa ngành (multi-discipline) bao
gồm vật lý, hóa học, vật liệu
học, sinh học, toán học, tin học v.v...
Đây là một cuộc cách mạng kỹ nghệ
của loài người ở thế kỷ 21. Nó
sẽ mang lại cho nhân loại những thay đổi
khoa học kỹ thuật mang tính đột phá và
có tầm ảnh hưởng sâu xa trong sinh
hoạt xã hội, văn hóa, kinh tế hơn
cả cuộc cách mạng kỹ nghệ ở
thế kỷ 18.
Đằng
sau bức bình phong công nghệ nano là những
vật liệu nano. Trong những vật liệu
nầy xuất hiện hai dạng carbon: phân
tử fullerene C60 có hình dạng trái bóng đá và
ống nano carbon (carbon nanotube). Sự phát
hiện của hai dạng carbon ở thập
niên 80 và 90 ở thế kỷ trước có
một trùng hợp thời điểm với
sự ra đời và phát triển của công
nghệ nano. Việc khám phá fullerene và ống nano
carbon là tập hợp của nhiều sự
kiện ngẫu nhiên. Gọi là ngẫu nhiên nhưng
thật ra là những kết quả hết
sức ngoạn mục phản ảnh một tinh
thần làm việc miệt mài nhưng vẫn phóng
khoáng lạc quan, một tư duy phân tích bén
nhạy nhưng không xơ cứng giáo điều
của nhà khoa học.
Hiện
nay, hằng trăm trung tâm nghiên cứu lớn
nhỏ về công nghệ nano được thành
lập khắp nơi trên thế giới đứng
đầu là Mỹ, Nhật Bản, Âu Châu, Trung
Quốc với kinh phí trong vài năm tới
sẽ tăng đến hằng chục
tỷ đô la mỗi năm. Đối với
một số nước công nghệ nano và
bộ môn fullerene/ống nanocarbon là ưu tiên
quốc gia cho các đề án nghiên cứu và
triển khai. Trong bài viết nầy chúng ta hãy
nhìn xem có thật sự là con người đang
đi vào một cuộc cách mạng khoa học
kỹ thuật mở ra một thời đại
hoàng kim công nghệ chưa từng có trong
lịch sử nhân loại. Và có thật sự là
nền công nghệ silicon của thế kỷ 20
đang từ giả "cuộc hí trường"
để được thay thế bởi
nền công nghệ carbon.
Quả
bóng
đá C60
Năm
1985, một nhóm nghiên cứu bao gồm Harold Kroto
(University of Sussex, Anh Quốc) và Sean O'Brien, Robert
Curl, Richard Smalley (Rice University, Texas, Mỹ) khám phá
ra một phân tử chứa 60 nguyên tử carbon,
viết tắt là C60. Giáo sư Kroto là một
nhà nghiên cứu hóa học thiên văn. Vào
thập niên 70, ông đã có một chương trình
nghiên cứu những chuỗi dài các nguyên tử
carbon trong các đám mây bụi giữa các vì
sao (interstellar dust). Ông liên lạc với nhóm
của Curl và Smalley và dùng quang phổ kế laser
của nhóm nầy để mô phỏng điều
kiện hình thành của các chuỗi carbon trong các
đám mây vũ trụ. Họ không những có
thể tái tạo những chuỗi carbon mà còn tình
cờ khám phá một phân tử rất bền
chứa chính xác 60 nguyên tử carbon. Sự khám phá
C60 xoay hướng nghiên cứu của nhóm
nầy từ chuyện tìm kiếm những thành
phần của vật chất tối (dark matter)
trong vũ trụ đến một lĩnh vực
hoàn toàn mới lạ liên hệ đến khoa
vật liệu (Materials Science). Năm 1996, Kroto, Curl
và Smalley được giải Nobel Hóa học cho
sự khám phá nầy.
Trước
C60 người ta chỉ biết carbon qua ba
dạng: dạng vô định hình (amorphous) như
than đá, than củi, bồ hóng (lọ nồi),
dạng than chì (graphite) dùng cho lõi bút chì và
dạng kim cương (Hình
1). Sự khác nhau về hình dạng, màu mè, giá
cả và cường độ yêu chuộng
của nữ giới giữa than đá, than chì
và kim cương thì quả là một trời
một vực. Tuy nhiên, sự khác nhau trong cấu
trúc hóa học lại khá đơn giản. Như
cái tên đã định nghĩa, dạng vô định
hình không có một cấu trúc nhất định. Trong
than chì các nguyên tố carbon nằm trên một
mặt phẳng thành những lục giác giống
như một tổ ong. Cấu trúc nầy hình thành
những mặt phẳng nằm chồng chất lên
nhau mang những electron pi di động tự
do. Than chì dẫn điện nhờ những
electron di động nầy. Trong kim cương
những electron pi kết hợp trở thành
những nối hóa học liên kết những
mặt phẳng carbon và làm cho chất nầy
có một độ cứng khác thường và
không dẫn điện.
Hình
1: Tám loại carbon theo thứ tự từ trái
sang phải:
(a) Kim cương, (b) Than chì, (c)
Lonsdaleite, (d) C60, (e)
C540, (f) C70, (g) Carbon vô định
hình (h) Ống nano carbon (Nguồn: Wikipedia).
Sự
khám phá của C60 cho carbon một dạng thứ tư.
Sau khi nhận diện C60 từ quang phổ hấp
thụ Kroto, Curl và Smalley bắt đầu tạo
mô hình cho cấu trúc của C60. Trong quá trình
nầy các ông nhanh chóng nhận ra rằng các nguyên
tố carbon không thể sắp phẳng theo
kiểu lục giác tổ ong của than chì, nhưng
có thể sắp xếp thành một quả
cầu tròn trong đó hình lục giác xen
kẻ với hình ngũ giác giống như trái bóng
đá (Hình
1d và 2). Phân tử mới nầy được
đặt tên là buckminster fullerene theo tên lót và
họ của kiến trúc sư Richard Buckminster
Fuller. Ông Fuller là người sáng tạo ra
cấu trúc mái vòm hình cầu với mô dạng lục
giác (Hình 3). Cho vắn tắt người
ta thường gọi C60 là fullerene hay là bucky ball.
Hình
2: Quả bóng đá C60.
Hình
3: Kiến trúc sư Richard Buckminster Fuller
và mái vòm
hình cầu với mô dạng lục giác.
Trong
việc quyết định trao giải Nobel,
Viện Hàn Lâm Khoa Học Thụy Điển
đã quên mất công lao của giáo sư Eiji
Osawa. Ông là người đầu tiên đã
tiên đoán sự hiện hữu của C60. Tôi tình
cờ gặp ông tại một cuộc hội
thảo khoa học chuyên ngành. Cũng như phần
lớn các giáo sư người Nhật
Bản khác, giáo sư Osawa là một người
khả kính, điềm đạm và khiêm
tốn. Khi tôi gợi chuyện C60 và giải Nobel,
ông mở nụ cười hiền hòa tâm sự
"Không được Nobel tôi tiếc lắm
chứ vì C60 là đứa con khoa học của tôi
mà. Tôi tiên đoán C60 vào năm 1970 khi tôi
vừa mới đươc bổ nhiệm
Giảng Viên tại Đại Học Hokkaido. Vì tôi
viết bằng tiếng Nhật và đăng bài
báo cáo của tôi trên tạp chí Kagaku (Hóa
Học) năm 1970 [ 3
] nên
không được các đồng nghiệp
quốc tế lưu ý đến. Một năm
sau tôi viết lại thành một chương cho
một quyển sách giáo khoa, cũng bằng
tiếng Nhật". Tôi hỏi "Nếu
thầy đã tiên đoán như vậy thì
tại sao thầy không làm một thí nghiệm
để kiểm chứng". Ông bộc
bạch "Theo sự tính toán của tôi thì năng
lượng hoạt tính của phản ứng
tạo ra C60 rất cao. Tôi không thể hình dung
được một chất xúc tác nào có
thể hạ thấp năng lượng
hoạt tính để phản ứng có thể
xảy ra. Nhưng tôi đã hình dung được
cấu trúc của nó trong một lần tôi nhìn
đứa con trai của tôi đùa giỡn
với trái bóng đá trong công viên gần nhà. Tôi
cũng không nghĩ ra một phương
tiện vật lý như dùng laser hoặc tia có
năng lượng cao như nhóm Smalley đã làm
để kích động phản ứng. Hơn
nữa, ở thời điểm đó tôi
mới vừa làm Giảng Viên nên cần phải
tạo một dấu ấn nào đó trong phân
khoa. Tôi cảm thấy việc tổng hợp C60
quá nhiều khó khăn nên đành chọn một
hướng nghiên cứu khác". Có một
điều làm cho ông được an ủi
phần nào là trong bài diễn văn nhận
giải Nobel Kroto, Curl và Smalley đã đề
cập đến thành quả tiên phong của ông. Ông
đã gởi tặng tôi bài báo cáo khoa học
mang tính lịch sử nầy (Hình 4).

Hình
4: Tựa đề bài báo cáo "Chất thơm
siêu đẳng" (Super-aromaticity)
viết vào năm
1970 [3] và quả bóng đá C60 trong bài viết.
Như
giáo sư Osawa đã trình bày, ở điều
kiện và nhiệt độ bình thường
việc tổng hợp C60 là một việc
bất khả thi trên phương diện
nhiệt động học (thermodynamics). Vì là
một nhà hóa học thiên văn, Kroto tiếp
cận vấn đề bằng một phương
thức khác. Tháng 9 năm 1985, trong thời gian làm
việc tại Rice University ông dùng tia laser
của Curl và Smalley bắn vào than chì (laser
ablation) để tái tạo sự tương tác
của các tia vũ trụ và carbon trong không gian. Trong
phổ ký khối lượng (mass spectrography)
của các sản phẩm tạo thành xuất
hiện hai đỉnh rất to chỉ định
C60 và C70. Một bất ngờ nhưng Kroto, Curl và
Smalley biết ngay đây là một khám phá đổi
đời "kinh thiên động địa".
Khi tia laser bắn vào một vùng nào đó
của vật chất thì sẽ nâng nhiệt
độ vùng đó lên cao hằng ngàn độ,
thậm chí hằng chục ngàn độ. Ở
nhiệt độ cao những chướng
ngại nhiệt động học không còn là
vấn đề và sự tạo thành C60 trở
nên rất thuận lợi.
Việc
khám phá C60 đã làm chấn động hầu
hết mọi ngành nghiên cứu khoa học.
Đặc biệt đối với môn hóa
học hữu cơ nó đã tạo ra một
nguồn sinh khí mới cho ngành nghiên cứu quá
cổ điển nầy. Sự khám phá có
tầm quan trọng hơn sự khám phá cấu trúc
vòng nhân benzene của Kekule gần 150 năm trước.
Benzene đã mở ra toàn bộ ngành hóa học
của hợp chất thơm (aromatic compounds). C60
đã mở ra ngành "Hóa học fullerene"
đi song song với sự phát triển
của ngành công nghệ nano hiện nay.
Kroto,
Curl và Smalley chỉ cho biết sự hiện
hữu của C60, nhưng tổng hợp C60 cho
việc nghiên cứu và ứng dụng phải
đợi đến năm 1990 khi Krätschmer
và Huffman đưa ra phương
pháp tổng hợp với một sản lượng
lớn. Nhờ vào phương pháp nầy
đến năm 1997 đã có hơn 9000 hợp
chất dựa trên fullerene được tổng
hợp, hơn 20 000 báo cáo khoa học đăng
trên các tạp chí chuyên ngành. Những người
nghiên cứu hóa hữu cơ thường có
nhiều nỗi ám ảnh và niềm đam mê
đối với những cấu trúc phân tử
đối xứng và cấu trúc lồng (cage
structure), nên fullerene trở thành một lĩnh
vực nghiên cứu mầu mỡ trong bộ môn
nầy. Họ tổng hợp những fullerene cao hơn
C60 như C70 (70 nguyên tử carbon, hình bóng bầu
dục), C84 (84 nguyên tử carbon, hình quả đậu
phọng). Họ kết hợp những nhóm
chức (functional group) để chức năng
hóa (functionalization) fullerene, gắn fullerene vào
polymer để tổng hợp những dược
liệu hay vật liệu cho áp dụng quang
điện tử.
Lịch
sử fullerene lâu đời hay non trẻ tùy vào
hai cách nhìn khác nhau. Nghiên cứu fullerene thật
ra rất ngắn chỉ hơn 20 năm kể
từ ngày phổ ký khối lượng của
Curl và Smalley cho biết sự hiện diện
của C60 và C70, nhưng sự hiện hữu
của fullerene có lẽ còn sớm hơn
sự xuất hiện của loài người. Nó
có trong những đám mây bụi trong vũ
trụ, mỏ than, bồ hóng từ những
ngọn nến lung linh hoặc những nơi
khiêm tốn hơn như ở lò sưởi than,
cái bếp nhà quê đen đui đủi vì
lọ nồi... Người ta không tìm được
C60 vì hàm lượng rất nhỏ và thường
bị than vô định hình phủ lấp.
Khi màn
bí mật C60 được vén mở, người
ta nghĩ ngay đến những áp dụng
thực tiễn của C60. Người ta kết
hợp C60 với potassium (K) để tạo ra
chất siêu dẫn hữu cơ ở
nhiệt độ 18 K (-256 °C).
Một số nhà nghiên cứu sinh học hy
vọng có thể dùng C60 điều chế dược
phẩm trị liệu bịnh AIDS. Trong vật lý,
rất nhiều đề nghị áp dụng C60
để chế tạo những trang cụ
(device) quang điện tử trong công nghệ cao.
Tuy nhiên, trên mặt áp dụng các nhà khoa học
thường mắc phải một căn bệnh
chung là "lạc quan quá độ". Cấu
trúc tròn trịa, đối xứng của C60
đã được tạp chí Science tôn
vinh là "phân tử của năm 1991", nhưng
cái xinh đẹp hấp dẫn không phải lúc
nào cũng đưa đến kết quả
thực tiễn hoàn mỹ.
Hai
yếu tố làm C60 giảm tính thực tế là:
(1) giá cả quá cao (giá cho 1 gram là vài trăm USD
hoặc cao hơn cho tinh chất, so với giá
vàng vào khoảng $10/g) và (2) C60 không hòa tan trong
dung môi rất bất lợi cho việc gia công.
Những hồ hởi ban đầu trong cộng
đồng nghiên cứu khoa học dành cho fullerene
bị dập tắc nhanh chóng vì những trở
ngại nầy. Thậm chí ngay trong công
nghệ "thấp", chẳng hạn dùng C60
như một chất phụ gia (additives) cho
dầu nhớt làm giảm độ ma xát vẫn
không địch nổi về giá cả và
hiệu quả của những chất phụ gia
thông thường. Tuần báo The Economist có
lần phê bình "Cái công nghệ duy nhất mà
quả bóng bucky đã thực sự cách mạng
là sản xuất những bài báo cáo khoa
học" (The only industry the buckyball has really
revolutionized is the generation of scientific papers)!
Nhưng
viễn ảnh của C60 trong áp dụng công
nghệ không đến nổi tăm tối như
các nhà bình luận kinh tế đã hấp
tấp dự đoán. Sự kiên trì của
những người làm khoa học lúc nào cũng
cho thấy một niềm lạc quan của
"những tia sáng ở cuối đường
hầm". Gần đây công ty Nano-C (Mỹ)
tuyên bố khả năng sản xuất hằng
tấn C60 cho giới công nghệ. Một nhà máy
thí điểm tại Nhật đang có khả năng
chế tạo 40 tấn hằng năm và sẽ lên
đến vài trăm tấn khi nhà máy được
nâng cấp. Phương pháp sản xuất hàng
loạt sẽ làm giảm giá C60 đến
mức $5/g và có thể $1/g trong một tương
lai không xa. Đây là một bước nhảy vĩ
đại so với những năm đầu
ở thập niên 90 khi người ta chỉ thu lượm
vài miligram C60 ở mỗi lần tổng hợp
khó khăn và giá cho mỗi gram có lúc lên đến
$1500/g. Nhà sản xuất dự đoán nhu cầu
C60 sẽ tăng nhanh trong vài năm tới cho
việc chế biến dược liệu,
dầu nhớt cao cấp và mỹ phẩm trang
điểm.
Câu
chuyện cô bé Lọ Lem mãi mãi là một câu
chuyện tình làm thổn thức nhiều con tim
trẻ. Cô bé bị bà mẹ ghẻ hành hạ lúc
nào cũng phải quét dọn lò sưởi nên
mặt mũi dính đầy lọ nồi. Bà
Tiên với chiếc đũa thần biến nàng
thành một tiểu thư đài các được
trang điểm cực kỳ diễm lệ để dự
những buổi khiêu vũ của chàng hòang
tử độc thân đa tình. Có lẽ nàng
được trang điểm với những
mỹ phẩm chứa C60, nàng sẽ đeo
những chuỗi kim cương carbon vô giá. Nhưng
sau nửa đêm nàng sẽ trở lại cô bé
đầy lọ.... Nhìn từ quan điểm
của hóa học carbon, chuyện tình khi đượm
tính khoa học có thể làm thất vọng
nhiều tâm hồn lãng mạn nhưng tất
cả chỉ là câu chuyện carbon ở những
trạng thái khác nhau!
Trở
lại thực tế của thế kỷ 21. Khả
năng áp dụng fullerene trong công nghệ cao liên
quan đến quang học và quang điện
tử đang được tích cực khảo sát
ở nhiều cơ quan nghiên cứu trên thế
giới. Tạp chí Journal of Materials Chemistry
xuất bản một số đặc biệt
tổng kết những thành quả mới
nhất của nghiên cứu fullerene [ 4
].
Một trong ứng dụng có tầm quan
trọng đặc biệt là đặc tính
photovoltaic của C60 tức là khả năng
biến năng lượng mặt trời thành
điện còn gọi là pin mặt trời. Loại
pin nầy được chế tạo từ C60
và polymer dẫn điện (electrically conducting
polymers). Mặc dù hiệu suất chuyển hoán năng
lượng vẫn chưa bì kịp pin
mặt trời silicon đang được
phổ biến trên thương trường,
loại pin mặt trời hữu cơ nầy
sẽ cho những đặc điểm không
có ở silicon như dễ gia công, giá
rẻ, nhẹ, mỏng và mềm.
Ống
Nano Carbon
Kroto vì
niềm đam mê tái tạo những chuỗi
carbon dài trong các đám mây bụi vũ trụ tình
cờ phát hiện fullerene. Sáu năm sau (1991),
tiến sĩ Sumio Iijima một nghiên cứu viên
của công ty NEC (Nhật Bản) cũng vì
niềm đam mê tìm hiểu fullerene lại tình
cờ phát hiện qua kính hiển vi điện
tử ống nano carbon - "người em
họ" của C60 [ 5
].
Ngẫu nhiên nầy được nối
tiếp với ngẫu nhiên khác. C60 có hình
dạng quả bóng đá, nhưng ống nano
carbon (gọi tắt: ống nano) giống như
một quả mướp dài với đường
kính vài nanometer (nm) và chiều dài có thể dài
đến vài trăm micrometer (10-6 m), vì
vậy có cái tên gọi "ống nano" (Hình 1h và 5). Với đường kính
vài nm ống nano carbon nhỏ hơn sợi tóc 100
000 lần. Chỉ trong vòng vài năm từ lúc
được phát hiện, "người em
họ" cho thấy có rất nhiều
ứng dụng thực tế hơn C60. Cấu trúc
hình ống có cơ tính (mechanical properties) và điện
tính (electrical/electronic properties) khác thường
và đã làm kinh ngạc nhiều nhà khoa học
trong các cơ quan nghiên cứu, đại học
và doanh nghiệp trên thế giới. Ống nano có
sức bền siêu việt, độ dẫn
nhiệt cao (thermal conduction) và nhiều tính
chất điện tử thú vị. Với
một loạt đặc tính hấp dẫn nầy
nhiều phòng nghiên cứu đã phải
chuyển hướng nghiên cứu từ C60 sang
ống nano.
Hình
5: Ống nano carbon
Việc
chế tạo ống nano có thể thực
hiện bằng cách phóng điện hồ quang
(arc discharge) hoặc dùng laser (laser ablation) trên một
vật liệu gốc chứa carbon hoặc phun
vật liệu nầy qua một lò ở
nhiệt độ 800 - 1200 °C
(chemical vapour deposition, CVD). Hình thành ống carbon không phức
tạp nhưng tạo ra những ống nano giống
nhau cùng đặc tính trong những đợt
tổng hợp khác nhau và sau đó tinh chế
để gạn lọc tạp chất đòi
hỏi những điều kiện vận hành
một cách cực kỳ chính xác. Tùy vào điều
kiện chế tạo và vật liệu gốc người
ta có thể tổng hợp ống nano
một vỏ (single-wall carbon nanotube, SWNT), vỏ
đôi (double-wall carbon nanotube, DWNT) và nhiều
vỏ (multi-wall carbon nanotube, MWNT). MWNT là một
tập hợp của SWNT giống như con búp bê
Nga (Russian doll) (Hình
6). Ống nano được Iijima phát hiện
đầu tiên thuộc loại MWNT. Richard Smalley
(Rice University) một lần nữa đã phát huy tài
năng của mình qua phương pháp laser
để chế tạo SWNT với hiệu
suất rất cao. Phương pháp nầy đã
được thương mãi hóa để
sản xuất SWMT cho công nghệ. Giá cho SWNT và
DWNT tinh chế vẫn còn rất cao ở mức
$500/gram. MWNT dễ tổng hợp hơn SWNT nên giá ở
mức $100/gram. Gần đây Mitsui (Nhật
Bản) có thể sản xuất 120 tấn MWNT/năm cho
nhu cầu công nghệ với giá $75/kg.
Hình
6: Ống nano carbon nhiều vỏ (MWNT) chụp
bằng kính hiển vi điện tử.
Khoảng cách giữa hai vỏ là 0.34 nm và
đường kính của vỏ ngoài cùng là
6.5 nm [5].
Người
ta đã định được độ
bền (strength) và độ cứng (stiffness,
modulus) của ống nano. Kết quả thí
nghiệm cho thấy ống nano bền hơn thép
100 lần nhưng nhẹ hơn thép 6 lần. Như
vậy, có thể nói là ống nano là một
vật liệu có cơ tính cao nhất so với các
vật liệu người ta biết từ trước
đến nay. Tuy nhiên, một vấn đề
lớn hiện nay cho các nhà vật liệu
học (materials scientist) là làm sao xe những
ống nano thành tơ sợi (nanotube fibres) cho
những ứng dụng thực tế mà vẫn
giữ được cơ tính tuyệt vời
cố hữu của các ống nano tạo thành.
Nhóm nghiên cứu của giáo sư Ray Baughman
(University of Texas, Mỹ) [ 6
]
đã phát minh ra một quá trình xe sợi
ống nano cho ra sợi với cơ tính cao hơn
thép và tương đương với tơ
nhện (spider silk). Tơ nhện được
biết là một loại tơ thiên nhiên có cơ
tính cao nhất trong các loại tơ sợi. Kinh
nghiệm cho thấy một con ruồi bay với
tốc độ cao nhất vẫn không bao
giờ làm thủng lưới nhện. Nếu
sự kiện nầy được phóng đại
vài chục ngàn lần để sợi tơ
nhện có đường kính bằng cây bút chì,
sợi tơ có thể kéo ngược lại
chiếc phi cơ 747 đang bay trên không!
Mặc dù độ cứng của sợi
ống nano do nhóm Baughman làm ra chỉ bằng
1/10 độ cứng của từng ống nano riêng
lẻ, sợi Baughman vẫn chưa phải "siêu
cứng" nhưng đã hơn hẳn Kevlar [
7 ] về sức bền và nếu
điều kiện sản xuất hàng loạt cho
phép nó có thể thay thế Kevlar dùng trong
những chiếc áo giáp cá nhân chống đạn
trong tương lai. Quá trình xe sợi của nhóm
Baughman chứng tỏ khả năng chế
tạo sợi ống nano với những cơ tính
vĩ mô càng lúc càng gần đến cơ tính ở
thang phân tử. Quá trình nầy đã kích
động nhiều nhóm nghiên cứu khác trong
cuộc chạy đua chế tạo ra một
loại sợi siêu cứng, siêu bền và siêu
hữu ích chưa từng có trong lịch sử
khoa học kỹ thuật.
Với
dạng hình ống dài và cơ tính lý tưởng,
ống nano carbon được cho vào các loại
polymer (plastic) để tạo những sản
phẩm nano-composite. Thật ra, composite dùng
những chất độn (filler) có hình dài để
tăng cơ tính không phải là những gì
mới lạ. Từ 6000 năm trước nhân
loại đã trộn bùn với rơm để
làm gạch. Ở những vùng sâu vùng xa người
dân vẫn còn dùng đất sét và rơm để
làm tường. Hiện tại, chất độn
kim loại hay ceramic là những vật liệu
phổ biến được dùng trong polymer để
tăng cường cơ tính thay thế kim
loại. Người ta tin rằng ống nano carbon
sẽ là một chất độn "tối thượng"
cho polymer nano-composite. Vài phần trăm
ống nano carbon có thể gia tăng độ
bền, độ cứng và độ dai
(toughness) của polymer (plastic) lên nhiều lần. Các
công ty chế tạo ô tô đang triển khai
polymer nano-composite cho các bộ phận xe hơi.
Đặc điểm của các composite nầy là
nhẹ và bền chắc. Công ty ô tô GM (Mỹ)
dự trù sẽ dùng 500 tấn ống nano/năm
trong vòng vài năm tới. Một cơ tính khác
của ống nano đang được khảo sát
hiện nay là đặc tính làm giảm sốc
(shock damping), chống rung [ 8
].Tính
chất rất quan trọng nầy sẽ mang đến những
ứng dụng dân sự lẫn quốc phòng.
Điện
tính và đặc tính điện tử
của ống nano đã thu hút nhiều sự chú
ý của các nhà vật lý và thiết kế điện
tử vi mạch. Cũng nhờ vào dạng hình
ống và các electron tự do pi trong ống, các
electron tự do có thể tải điện nhưng
ít chịu sự phân tán electron (ballistic
conduction). Sự phân tán electron là nguyên nhân điện
trở gây ra sự phát nhiệt thường
thấy ở chất bán dẫn hay kim
loại. Nói một cách khác, ống nano có khả
năng tải điện hữu hiệu vì ít phát
nhiệt. Độ lớn của silicon chip
hiện nay là 180 nm và cũng là giới
hạn trong kỹ thuật làm chip
hiện nay. "Độ lớn" 180 nm rất
nhỏ (nhỏ hơn sợi tóc 500 lần) và
hiệu năng tải điện của silicon càng
giảm vì càng nhỏ sự phát nhiệt càng cao.
Tuy nhiên 180 nm vẫn còn rất to so với
đường kính vài nm của ống nano.
Ở kích thước nầy ống nano vẫn còn
có thể tải điện mà không sợ phát
nhiệt.
"Định
luật" Moore cho biết rằng cứ mỗi
hai năm mật độ của các transistor
được nhồi nhét vào một chip
sẽ tăng gấp đôi nhờ vào kỹ
thuật chế biến thu nhỏ và đặc tính
của silicon. Định luật đã đúng hơn
40 năm qua kể từ năm 1965 và cũng
sẽ tiếp tục đúng trong vòng 10 năm
tới. Lúc đó đặc tính thu nhỏ
của silicon sẽ đến một mức
bảo hòa và dừng lại ở một kích thước
nhất định nào đó. Như vậy,
đặc tính tải điện không phát
nhiệt và khả năng tạo thành các linh
kiện điện tử như diode và transistor
của ống nano ở kích thước phân
tử chỉ ra một hướng nghiên
cứu mới là nano-điện tử
(nano-electronics) nối tiếp vai trò thu nhỏ
của vi điện tử (micro-electronics) mà
silicon đang ở địa vị độc tôn.
Một
đặc tính khác của ống nano là sự phát
xạ trường (field emission). Khi điện
thế được áp đặt vào một
đầu của ống nano đầu kia
sẽ liên tục phát ra electron [ 9
].
Đã có nhiều vật liệu hoặc trang
cụ (thí dụ: ống tia âm cực, cathode
ray tube) có đặc tính phát xạ trường
nhưng ống nano có thể vận hành ở
điện thế thấp, phát xạ trong một
thời gian dài mà không bị tổn hại. Áp
dụng trực tiếp của phát xạ trường
là màn hình TV và vi tính. Đây là một công
nghệ mang lại hằng tỉ đô la mỗi
năm. Màn hình mỏng tinh thể lỏng đang
thay thế dần các màn hình ống tia âm cực nặng
nề, kềnh càng. Ống nano có thể làm màn hình
mỏng hơn nữa, rõ nét và dùng điện 10
lần ít hơn. Đặc tính phát
xạ trường của ống nano cho thấy
khả năng thay thế màn hình tinh thể
lỏng trong một tương lai gần mặc dù
màn hình nầy hiện rất thông dụng và
đang được ưa chuộng. Tập
đoàn Samsung (Hàn Quốc) tích cực thương
mãi hoá màn hình ống nano.
Ngoài
ra, ống nano còn cho nhiều áp dụng khác
chẳng hạn dùng trong bộ cảm ứng
(sensor) để phát hiện ánh sáng,
nhiệt, sóng điện từ hoặc
những hóa chất độc hại với
độ nhạy rất cao. Ống nano tự thân
hoặc kết hợp với polymer dẫn điện
để biến chế thành cơ bắp nhân
tạo (artificial muscle, actuator). Cơ bắp nhân
tạo là một mô phỏng của cơ bắp
sinh vật biến đổi điện năng
thành cơ năng; khi có một dòng điện
chạy qua cơ bắp sẽ cho một tác
lực. Cơ bắp nhân tạo là một trong
những bộ phận quan trọng tạo thành
con robot hoặc hệ thống cơ điện vi
mô (microelectronic mechanical system, MEMS). Ống nano cũng
có mặt trong sinh học. Một báo cáo khoa
học gần đây cho biết tế bào xương
rất tương thích (compatible) với ống
nano [10].
Ống nano được sử dụng như giàn
giáo (scaffold) để các tế bào xương tăng
trưởng và phát triển. Phương pháp
nầy có thể triển khai trong việc ghép và
trị liệu xương.
*******
Trong lĩnh
vực áp dụng, ống nano hơn hẳn người
anh cả fullerene. Khi những nhà khoa học cùng
với các doanh nhân loay hoay tìm kiếm một hướng
đi thực dụng cho C60 thì bỗng nhiên
thấy kho tàng ống nano hiện ra trước
mắt. Quả bóng đá C60 đã đem giải
Nobel cho Kroto, Curl và Smalley, nhưng ống nano đang
đem đến con người nhiều áp
dụng thực tiễn và một cuộc cách
mạng khoa học chưa từng có bao trùm
tất cả mọi hoạt động kinh
tế xã hội mà ở thời điểm phát
hiện Sumio Iijima có thể chưa hình dung
hết. Sự khám phá fullerene và ống nano
carbon đang làm thay đổi toàn diện bộ
mặt phát triển khoa học và công nghệ
của thế kỷ 21. Cơ tính, điện
tính, sự truyền nhiệt và tính dẫn điện đặc
biệt của ống nano đưa đến hàng
trăm đặc tính hữu dụng khác nhau
đã kích thích vô số nghiên cứu cơ
bản đa ngành cũng như những nghiên
cứu ứng dụng từ vật liệu
học đến điện tử học,
từ vật lý đến sinh học.
Những
kết quả nghiên cứu đã cho thấy
ống nano đang trở thành một bộ
phận cấu thành chủ yếu cho các dụng
cụ điện tử tương lai. Sự
hiện diện của ống nano trong các áp
dụng điện tử học đã làm các nhà
thiết kế vi mạch phải suy nghĩ
lại cơ cấu vận hành của các công
cụ máy móc dựa trên silicon chip. Liệu ống
nano sẽ bổ sung cho silicon trong tương lai hay
thời đại silicon sẽ chấm dứt
để nhường bước cho thời
đại ống nano? Dù ở kịch bản
nào, những linh kiện điện tử sẽ
phải thu nhỏ đến thang phân tử. Phương
pháp "từ trên xuống" sẽ được
thay thế bằng phương pháp "từ dưới
lên". Chúng ta sẽ thấy transistor phân tử
(molecular transistor), diode phân tử, tụ điện
phân tử v.v.... Thời đại phân tử
điện tử học (molecular electronics)
sẽ xuất hiện với những định
luật mới dựa trên cơ học lượng
tử và một loạt dụng cụ điện
tử thu nhỏ ở kích thước nano. Chúng
ta đang vươn tới nền công nghệ
nano. Liệu lúc đó ống nano có là một
vật liệu chủ yếu như silicon trong ngành
vi điện tử (micro-electronics) hiện
tại? Chúng ta hãy chờ xem.
25
April 2006 (Shizukana aki no
hi)
TVT
Ghi
Chú và Tài Liệu Tham Khảo
1.
Đường kính một nguyên tử vào
khoảng 0.1 nm.
2.
Phương pháp "từ trên xuống"
là dùng những vật liệu to rồi biến
chế thành những công cụ nhỏ. Một thí
dụ điển hình của phương pháp
nầy là chế tạo silicon chip cho
máy vi tính. Chip được chế
tạo càng lúc càng nhỏ để làm ra
những máy vi tính càng hữu hiệu, gọn và
mỏng. Một thí dụ của phương pháp
"từ dưới lên" là quá trình tổng
hợp protein của các vật sống (living body).
Phân tử DNA kết hợp tạo ra protein
với các chức năng khác nhau. Các protein
lại kết hợp với nhau để tạo
ra tế bào ở một bậc cao hơn
rồi sau đó tạo ra vật thể. Quá trình
thụ tinh tạo phôi rồi tạo ra con người
là một thí dụ tương tự. Trong ngành công nghệ
nano chúng ta đang bắt chước thiên nhiên
trong quá trình "từ dưới lên".
3.
E. Osawa, Kagaku (Chemistry) 1970, 25 (9), 854
4.
"Funtionalised Fullerene Materials", Journal of
Materials Chemistry 2002, 12 (7)
5.
S. Iijima, MRS Bulletin November 1994, volume XIX,
43
6.
A. B. Dalton, S. Collins, E. Muñoz, J. M. Razal, V. H.
Ebron, J. P. Ferraris, J. N. Coleman, B. G. Kim and R. H. Baughman, Nature
2003, 423, 703
7.
Kevlar
là thương hiệu của sợi poly-paraphenylene
terephthalamide được dùng
trong áo giáp và mũ cối quân đội.
8.
J.
Suhr, N. Koratkar, P. Keblinski and P. Ajayan, Nature Materials
2005, 4, 134
9.
P. G. Collins and P. Avouris, Scientific American
December 2000, 62
10.
L. P. Zanello, B. Zhao, H. Hu, R. C. Haddon, Nano Lett.
2006, 6, 562
Vài hàng về tác
giả :
Anh Trương Văn Tân sinh quán tại
tỉnh Sa Đéc, cựu học sinh trường
trung học Sa Đéc và Tống Phước
Hiệp (Vĩnh Long). Anh Tân đến Nhật
cuối năm 1969. Anh tốt nghiệp Bachelor
Eng. (1975), Master Eng. (1977) trường Tokodai (Tokyo
Institute of Technology) và PhD (1980, University of Adelaide, Úc).
Anh Tân hiện làm việc tại Viện Khoa
Học và Công Nghệ Quốc Phòng (Defence Science
and Technology Organisation) trực thuộc Chính Phủ
Liên Bang Úc. Anh chuyên về Vật Liệu Học
và hiện nghiên cứu về polymers dẫn điện
và ống nano carbon. Anh đã công bố gần 70
bài báo cáo khoa học trên các tạp chí khoa
học quốc tế.
<ERCT bổ túc vài hàng về tác
giả ngày 17/8/2006> |