
Có lẽ chưa bao giờ có một tác phẩm nào
về lịch sử Trung Quốc gây ra nhiều cuộc
tranh luận sôi nổi như quyển sách này.
T́nh cờ vào một hiệu sách, thấy tên sách
thú vị, tôi bèn mua về đọc. Không ngờ
đây là một quyển "international
bestseller" từ mấy năm qua. Năm 2002 lần
đầu tiên xuất bản tại Anh bán được
100.000 bản, tại Mỹ 200.000 bản và tổng
cộng 1 triệu bản trên thế giới. Tác phẩm
đă được dịch ra 20 thứ tiếng và nhà xuất
bản Bantam Books đă trả cho tác giả
500.000 bảng Anh (1 triệu Mỹ kim) để
được độc quyền phát hành
[1]
.
Vào tháng Bảy năm 2006 đài truyền h́nh
quốc gia ABC (Úc) trong chương tŕnh
"Four Corners" đă phát h́nh một cuộc
phỏng vấn tác giả, các sử gia chuyên
nghiệp và các học giả trên thế giới
trong một chương tŕnh có tên là "Junk
History"
[2] liên quan đến quyển
sách. Tất cả sự ồn ào náo nhiệt về việc
đúng sai lịch sử chỉ xoay quanh một câu
hỏi đơn giản: "Có phải người Trung Quốc
là dân tộc đầu tiên đi ṿng quanh thế
giới, phát hiện ra châu Mỹ và châu Úc?".
Tác giả Gavin Menzies của quyển sách có câu
trả lời rất khẳng định và ông đưa ra
nhiều bằng cớ để chứng minh điều đó. Ông
cũng tuyên bố là để hoàn thành quyển
sách ông đă phải nghiên cứu 14 năm, đi
qua 120 nước, viếng hơn 900 bảo tàng
viện và thư viện khắp nơi trên thế giới.
Quyển sách dày hơn 600 trang, gồm 7
chương và phần phụ lục hơn 100 trang ghi
lại những bằng chứng thu thập của tác
giả. Có thể nói đây là một công tŕnh
nghiên cứu sử học đồ sộ nhằm lật đổ
những quan điểm lịch sử có từ trước đến
nay, dựa trên căn bản là người Trung
Quốc đă khám phá ra châu Mỹ trước
Columbus 70 năm và khám phá châu Úc
trước James Cook 350 năm. Tuy nhiên, khi
vừa ra mắt tại Anh, một bài điểm sách đă
dội ngay một gáo nước lạnh, đánh giá
quyển sách không đáng một xu!
Tác giả Menzies không phải là một chuyên
gia nghiên cứu sử học. Ông bỏ học năm 16
tuổi và gia nhập Hải quân Hoàng gia Anh,
lên đến chức sĩ quan chỉ huy tàu ngầm
trước khi về hưu. Theo tác giả, câu
chuyện xảy ra vào năm 1421 khi Đô đốc
Trịnh Ḥa (Zheng He)
[3]
và các thuộc hạ của ông là Hồng Bảo
(Hong Bao), Chu Măn (Zhou Man), Chu Văn
(Zhou Wen) và Dương Khánh (Yang Qing)
được lệnh vua Minh Thành Tổ Chu Đệ, vượt
biển đưa các vua chúa, quan đại thần Ấn
Độ, các nước Ả rập và những nước ven bờ
Ấn Độ Dương trở về nước. Những người
khách nước ngoài này đă được Trịnh Ḥa
rước đến Bắc Kinh từ hai năm trước để dự
lễ khánh thành Tử Cấm Thành, cung điện
vừa xây xong của Minh Thành Tổ. Trong
thời gian lưu trú tại Bắc Kinh các vị
khách quí ngoại quốc được vua Minh chiếu
cố tận t́nh, vui chơi ăn uống phủ phê,
lại c̣n được các mỹ nữ tuyển chọn từ
giới ca kỹ ngày đêm phục dịch. Chuyến đi
năm 1421 là chuyến hạ Tây Dương (Ấn Độ
Dương) lần thứ 6 của Trịnh Ḥa. Trong
đoàn thuyền này, đặc biệt khác với những
lần trước, có nhiều chuyên gia thiên văn
địa lư đi theo để định hướng và vẽ hải
đồ. Ngoài ra có hàng trăm mỹ nữ cũng sẽ
bước xuống thuyền theo các t́nh nhân của
ḿnh tiếp tục cuộc truy hoan trên sóng
nước!
Theo tác giả Menzies, sau khi đưa các vị
khách quí trở về nước Trịnh Ḥa và Dương
Khánh trở lại Bắc Kinh nhưng Hồng Bảo,
Chu Măn và Chu Văn phụng chỉ vua Minh tiếp
tục hành tŕnh đánh ṿng Hảo Vọng Giác
(Cape of Good Hope) ở tận cùng phía Nam
châu Phi, đi vào Đại Tây Dương cùng tiến
theo hướng Bắc khám phá thế giới. Khi
đến đảo Cape Verdes (gần nơi nhô ra của
châu Phi) ba đoàn thuyền chia tay, băng
ngang Đại Tây Dương đi theo ba hướng
khác nhau. Đoàn thuyền của Hồng Bảo đi
dọc theo Nam Cực tiến về phía Tây châu
Úc. Đoàn thuyền của Chu Măn sau khi vượt
Đại Tây Dương, xuyên qua cực Nam châu Mỹ băng
qua Thái B́nh Dương tiến về phía Đông
châu Úc. Tác giả cho rằng Chu Măn có thể
đi dọc theo phía tây châu Mỹ từ Nam Mỹ đi
ngược lên Bắc Mỹ. Cuộc hành tŕnh của
Chu Văn cũng không kém phần ngoạn mục.
Chu Văn tiến vào Carribean đi dọc theo
bờ biển phía Đông của nước Mỹ ngày nay,
đi ngang Greenland, Iceland vượt Bắc
Băng Dương rồi trở về Trung Quốc.
Chỉ trong ṿng hai năm (1421-1423) ba
đoàn thuyền vượt sóng gió băo bùng, hy
sinh nhiều mạng sống trong nhiều cuộc
đắm thuyền đă làm nên một kỳ tích vĩ đại
là khám phá thế giới và cuối cùng tất cả
đều trở về Trung Quốc an toàn. Có phải
đây là những sử liệu Trung Quốc? Không. Đây
là những kết quả "nghiên cứu" của tác
giả Menzies. Những sử liệu quí giá về
những cuộc hành tŕnh nầy theo tác giả
đă bị các đời vua sau hủy hoại một cách
không thương tiếc. Quyển sách dựng lại
kịch bản của cuộc hành tŕnh năm 1421
dựa trên những chứng cứ mà tác giả đă
thu thập trong thời gian 14 năm.
Cũng như hàng triệu độc giả khác tôi bị
thu hút bởi một quyển sách có một tựa đề
quá hấp dẫn. Nhưng sau khi đọc được hơn
100 trang, những thích thú ban đầu bỗng
tắt ngấm. Tác giả dùng đi dùng lại hai
từ "Việt Nam" và "An Nam", nhưng không
hiểu rơ ư nghĩa của hai từ này, cứ ngỡ
là hai nước khác nhau. Hồ Quí Ly th́ lại
viết là Lê Quí Ly. Những sai lầm cơ bản
làm người đọc nghi ngờ về kiến thức của
người viết và động cơ viết ra quyển sách;
v́ học thuật hay v́ mùi đô la? Sự thành
thật của tác giả Menzies cũng là một dấu
hỏi cho người đọc. Ở những trang đầu, có
lẽ để gia tăng "trọng lượng" quyển sách,
ông tự cho ḿnh sinh ra ở Trung Quốc và
lúc thiếu thời từng được ảnh hưởng sự
giáo dục của một
amah (A má:
người vú nuôi Trung Quốc). Thực sự ông
sinh tại London, rặt ḍng Anglo Saxon!
Khi bị đài truyền h́nh ABC vặn vẹo, ông
thản nhiên trả lời "Ồ! chuyện nhỏ. Sai
lầm ấn loát ấy mà!".
Tác giả khiêm cung tự nhận ḿnh không
phải là học giả hay sử gia chuyên nghiệp
nên hoạt động nghiên cứu sử học của ḿnh
chỉ là một hoạt động nghiệp dư. Tại sao
ông lại có thể khám phá được những "bí
mật" cuộc hành tŕnh ṿng quanh thế giới
của người Trung Quốc mà các sử gia hàn
lâm chưa bao nh́n thấy? Ông tự hào cho
rằng v́ là một sĩ quan hải quân thâm
niên đầy kinh nghiệm nên ông có thể phân
tích được những bản đồ, hải đồ cổ đại,
điều mà các sử gia chuyên nghiệp khiếm
khuyết; ngoài ra ông không bị tư duy xơ
cứng của các chuyên gia chi phối sự suy
nghĩ. Cái tự hào hơi quá trớn của tác
giả trở nên một chướng ngại lớn trong
việc thuyết phục người đọc. V́ không có
"tư duy xơ cứng" của các chuyên gia, tác
giả mặc t́nh phỏng đoán và vơ đoán những
sự kiện lịch sử.
Lịch sử là một bộ môn của khoa học nhân
văn. Phát triển của khoa học lịch sử dựa
trên tính khách quan từ những khám phá
của nhân chủng học và khảo cổ học. Nhưng
tác giả dường như không muốn biết đến
những giải thích khoa học mang tính "hàn
lâm". Những bằng cớ của tác giả đưa ra
được giải thích theo sự tưởng tượng tùy
tiện của ḿnh. Ông "xác nhận" hải đồ
vượt Đại Tây Dương của Columbus rơ ràng
là có nguồn gốc Trung Quốc. Không phải
là ở đầu thế kỷ 15 nhà Minh Trung Quốc
là một triều đại hùng mạnh và duy nhất
trên thế giới có đủ tài lực, nhân lực,
kiến thức và khả năng vượt trùng dương
vẽ ra những hải đồ đầu tiên của nhân
loại hay sao? Không phải là 70 năm trước
đó Da Conti chép lại hải đồ từ các
chuyên gia địa lư của các đoàn thuyền
Trịnh Ḥa, sau đó được chuyển đến tay
Fra Mauro rồi lọt vào cung đ́nh của Tây
Ban Nha và Bồ Đào Nha hay sao?
Tôi vừa đọc vừa tưởng tượng nội t́nh của
các đoàn tàu vượt Đại Tây Dương của Hồng
Bảo, Chu Măn và Chu Văn. Theo tác giả,
có một số mỹ nữ tùy tùng các vị khách
quí sẽ lên bờ theo t́nh nhân đi định cư
vĩnh viễn ở nước ngoài. Một số lớn ở lại
trên tàu sau khi ṿng quanh thế giới sẽ
trở lại cố hương. Cũng theo tác giả,
trong số này có nhiều mỹ nữ đang bụng
mang dạ chửa hay sắp đến ngày khai hoa
nở nhụy do kết quả của những cuộc hoan
lạc với các vị khách quí nhà Minh. Tôi
lại tưởng tượng chuyện chăm sóc các sản
phụ, các trẻ sơ sinh ngày đêm oa oa trên
tàu. Các đoàn tàu không phải là bệnh
viện nổi "Từ Dũ" và những công tác phụ
sản, nhi khoa hoàn toàn nằm ngoài khả
năng của các đô đốc và thuyền viên. Sản
phụ và trẻ sơ sinh không phải là những
yếu tố tương hợp với cuộc thám hiểm ṿng
quanh thế giới. Ngoài ra, lâu ngày trong
cảnh tù túng, những đ̣i hỏi thế tục của cơi
ta bà cũng phải xảy ra. Các bóng hồng
suốt ngày nhởn nhơ trên tàu, lấp ló bên
rèm tạo ra cái cảnh "mỡ treo mèo nhịn",
các thuyền viên đi từ trạng thái ngơ
ngác, dáo dác đến thèm muốn. Thêm vào đó
trai nhiều gái ít ai nhịn ai ăn? Dù rằng
các đô đốc là hoạn quan không có sự đ̣i
hỏi, nhưng các thủy thủ vốn xuất thân là
tử tù hoặc tù chung thân, sức lực lại
đang trong thời kỳ sung măn, nếu tiếp
tục để cho mèo nhịn th́ mèo sẽ thành cọp
và nổi loạn sẽ xảy ra....
Trước t́nh huống "lửa gần rơm" này tác
giả Menzies có một cách giải quyết hết
sức ngoạn mục. Ông cho rằng các đoàn tàu
mắc cạn ở ngoài khơi châu Mỹ hoặc bị đắm
ở Caribbean. Trong những sự cố này, có
một số nam nữ t́nh nguyện ở lại vùng đất
mới xin nhận nơi đây làm quê hương. Hoặc
sau khi một số tàu bị đắm, số c̣n lại
không c̣n đủ chỗ để chứa hết người. Đô
đốc phải hạ lệnh cho những người sống
sót trên những tàu bị đắm tạm thời lên
bờ chờ tàu tiếp tế sẽ đến trong vài
tháng tới! Nhưng tàu tiếp tế không bao
giờ đến. Những người t́nh nguyện định cư
hay ở lại v́ bị đô đốc "hứa cuội", sau
này h́nh thành những cộng đồng
(colonies) Hoa tộc trên châu Mỹ. Đương
nhiên, tác giả có đầy đủ những bằng cớ "hùng
hồn" cho sự hiện diện của các cộng đồng
nầy. Chứng cớ là bảy mươi năm sau đó,
khi Columbus đổ bộ lên vùng Caribbean đă
thấy những người có da màu vàng đồng
(bronzed colour) biết dùng nồi niêu làm
bằng sắt. Người bản xứ châu Mỹ ở thế kỷ
15 không biết thuật đào mỏ luyện kim,
vậy c̣n ai khác nữa nếu không phải là
hậu duệ người Hoa?
Với lối suy diễn tùy tiện mà tác giả tự
hào là không mang tính giáo điều hàn lâm
của các bậc học giả, lắm lúc người đọc phải
bật cười v́ lối giải thích hơi ngờ
nghệch. Người dân da đỏ bản xứ có màu da
"vàng đồng" cũng không sậm hơn người da
vàng châu Á bao nhiêu. Đô đốc Trịnh Ḥa
chắc không lẩm cẩm đến độ phải mang theo
mấy ông đào mỏ luyện kim, trong khi
không có những công việc thích hợp cho
họ ở trên tàu. Nồi niêu bằng sắt, nếu là hiện
vật gia dụng của những người định cư,
chắc chắn sẽ bị tiêu hủy từ lâu v́ rỉ
sét ăn ṃn trong không khí đầy muối của
vùng duyên hải, không c̣n để được
Columbus chứng thực những 70 năm sau.
Chưa hết. Một bằng cớ "hùng hồn" khác
được tác giả đưa ra là chứng cứ sinh học
DNA. Tác giả tuyên bố có sự hiện diện
của DNA Trung Hoa (Chinese DNA) trong
người bản xứ châu Mỹ. Ông rất lạc quan
v́ các kết quả thí nghiệm sinh học gần
đây càng ngày càng chứng tỏ sự chính xác
trong lập luận của ông. Tôi không chuyên
về sinh học nên không biết DNA Tây khác
DNA Tàu như thế nào. Nhưng dù người ta
có thể dùng DNA để xác định nhân chủng,
phương pháp thí nghiệm, lấy mẫu và xác
nhận thời gian di truyền là những yếu tố
quyết định sự chính xác của kết quả.
Tiếng gáy con gà cũng không thoát khỏi
sự suy luận của tác giả Menzies. Buổi
sáng đầu tiên khi đặt chân đến Peru ông
bị đánh thức bởi tiếng gáy "kik-kiri-kee"
của chú gà hàng xóm. Ông bỗng nhớ đến
con gà châu Á cũng có giọng gáy giống
như vậy, khác với gà châu Âu với giọng
gáy "cock-a-doodle-do". Đúng rồi! C̣n ai khác
nữa, các ông Trung Quốc đă mang gà đến
đây truyền giống trước người châu Âu.
Thực vật cũng không lọt khỏi tầm quan
sát của ông. Theo ông, khi người châu Âu
đến châu Mỹ th́ đă thấy các loài thực
vật giống như ở Trung Quốc. Từ đây ông
suy luận: hoặc là người Trung Quốc mang
cây trồng sang châu Mỹ, hoặc là họ đă
mang cây châu Mỹ về trồng tại Trung Quốc.
Đằng nào th́ người Trung Quốc cũng đặt
chân đến châu Mỹ sớm hơn người châu Âu!
Trong toàn quyển sách tác giả đưa ra
nhiều sự kiện, hiện vật, cấu trúc xây
dựng để chứng minh giả thuyết của ḿnh
nhưng khi kết luận th́ ông lại "đẩy đưa"
theo kiểu "c̣n ai khác nữa, nếu không
phải là người Trung Quốc". Người Trung
Quốc có truyền thống vẽ tranh viết chữ.
Đi đến đâu họ không vẽ th́ viết, không
viết th́ khắc, không khắc vào núi th́
khắc vào đá. Nhưng hơn một ngàn chứng cứ
ông đưa ra, ngay cả những nơi ông cho là
có cộng đồng đầu tiên của người Hoa sinh
sống tại châu Mỹ, cũng không có hiện vật
hay một cấu trúc nào có chữ Hán xuất
hiện. Lối giải thích của ông th́ lắm
ngây ngô đến độ ấu trĩ buồn cười. Người
đọc không khỏi thắc mắc tại sao những
chiếc tàu gỗ có thể chịu được các vùng
biển lạnh đóng băng của Greenland, Bắc
Băng Dương và Nam Băng Dương. À... ông
biết được từ Viện Khí tượng Hà Lan là những
năm 1420, 1422 và 1428 mùa hè châu Âu
nóng lắm, nên việc đi ṿng quanh
Greenland là việc khả thi. Nhưng ông
quên rằng vật liệu đóng tàu như gỗ, chất
keo ráp gỗ của Trịnh Ḥa chỉ có thể chịu được
những vùng biển ấm như Ấn Độ Dương, chưa
kể những tảng băng ngầm nằm phục kích
trong ḷng biển đủ sức làm tan tác những
chiếc tàu sắt hoành tráng cỡ Titanic!
Quá tŕnh nghiên cứu của ông cũng có
nhiều "ngẫu nhiên" thú vị. Có lẽ trời
thương ông nên trên bước đường t́m ṭi
khám phá lúc nào ông cũng được may mắn.
Chẳng hạn như ông t́m được một sự kiện
quan trọng ở thư viện A, một sự kiện
quan trọng khác ở thư viện B, nhưng giữa
hai sự kiện là một lỗ hổng lớn cần được liên
kết. T́nh cờ một ngày đẹp trời ông vào
viện bảo tàng C th́ tài liệu nối kết hai
sự kiện nằm hiển hiện trước mắt! Eureka!
Lại thêm một sự kiện lịch sử quan trọng
lần đầu tiên được phát hiện bởi Menzies... Ông
nhặt nhạnh những mẩu chuyện về nhân
chủng học, khảo cổ học, ngôn ngữ học,
chắp nối vá víu thành một luận cứ, phớt
lờ cách xử lư văn bản chuyên nghiệp của
giới sử học và những lời phê b́nh của
các chuyên gia. Tuy nhiên, nếu cần, ông
tôn vinh các vị này bằng cách trích dẫn
những kết quả nghiên cứu nhưng bẻ cong
theo chiều hướng tư duy chủ quan của
ḿnh. Kết quả là những người "được" tôn
vinh yêu cầu ông xóa tên hoặc giải thích
lại những đoạn văn trích dẫn theo đúng ư
nghĩa nguyên thủy.
Quyển sách cũng làm chấn động giới sử
gia Trung Quốc. Sự ra đời của nó trùng
hợp với phong trào nghiên cứu kỷ niệm
600 năm ngày "Trịnh Ḥa hạ Tây Dương"
tại Trung Quốc. Các nhà sử học Trung
Quốc khéo léo từ chối cái vinh dự làm
dân tộc đầu tiên khám phá thế giới
[4]
. Không một ai trong giới sử học và các
chuyên gia về Minh sử tại đất nước này
chấp nhận những luận cứ của tác giả
Menzies. Các đời vua Minh sau Minh Thành
Tổ dù hủy diệt những tư liệu hàng hải
quí giá của Trịnh Ḥa nhưng cũng c̣n
những đoạn sử ghi lại công lao Trịnh Ḥa
và các thuộc hạ. Các nhân vật như Hồng
Bảo, Chu Măn, Chu Văn và Dương Khánh là
có thật và đă nhiều lần cùng với Trịnh
Ḥa hạ Tây Dương. Tuy nhiên không có một
sử liệu nào đề cập những người này đi
ṿng quanh thế giới
[5]
. Năm 1983, người ta khai quật được mộ
chí của Chu Văn. Mộ chí rành rành ghi
lại thân thế và công lao hàng hải của
ông. Theo mộ chí, năm 1421 ông có tham
gia cuộc hạ Tây Dương lần thứ 6 cùng với Trịnh
Ḥa nhưng giữa đường ông phải trở lại
kinh đô. Rơ ràng là trong khoảng năm
1421-1422, Chu Văn ở Bắc Kinh, không
phải loanh quanh ở Bắc Cực như tác giả
Menzies tưởng tượng.
Các sử gia Trung Quốc cũng đă xem qua và
nghiên cứu những hải đồ được đề cập
trong quyển sách. Một giáo sư sử học
Trung Quốc khẳng định rằng ở đầu thế kỷ
15 người Trung Quốc chưa có khả năng vẽ
những bản đồ có kinh độ và vĩ độ chính
xác mà phải đợi đến thế kỷ 16, nghĩa là
gần 200 năm sau thời đại Trịnh Ḥa. Tác
giả của những hải đồ đầu tiên ở đầu thế
kỷ 15 có lẽ là người Á rập
[6]
.
Như vậy, tác phẩm của Gavin Menzies là
một quyển sách lịch sử "đại bịp" hay là
quyển sách có tầm dự phóng sâu xa? Câu
trả lời tùy vào sự suy luận của độc giả
v́ cái đẹp th́ lúc nào cũng tùy con mắt
người nh́n. Với số tiền bản quyền kếch
sù và huê hồng bán sách, tác giả có thể
sống một cuộc đời về hưu phong lưu nhàn
hạ, nhưng ông chọn con đường bảo vệ luận
điểm của ḿnh bằng cách lập website
[7]
, đi diễn thuyết ở các học hội chuyên
gia và đại học danh tiếng khắp nơi trên
thế giới. Ít ra ông có một nhiệt t́nh và
tinh thần tra cứu độc lập. Những sử gia
chính thống dù có chỉ trích ông thậm tệ
cũng phải nh́n lại những bằng cớ ông đưa
ra, v́ lịch sử không bao giờ chính xác
và cần được tu chỉnh liên tục. Đương
nhiên ông hơn hẳn các "sử gia" nghiệp dư "dziết"
sử, thích công bố những bài luận sử đầy
tính chủ nghĩa dân tộc và không bao giờ
có sự thẩm định hay phản biện khách quan.
Biết đâu một ngày nào đó sẽ có những
đoàn thám hiểm khai quật được xác những
chiếc tàu đắm dọc theo bờ biển phía đông
hoặc phía tây châu Mỹ, phát hiện hàng
trăm hàng ngàn di vật gốm sứ nhà Minh.
Chỉ cần chứng cứ độc nhất này cũng đủ để
đưa quyển sách của Gavin Manzies vào
hàng đầu của những quyển sách nói về
lịch sử nhân loại.
9 October 2006
[1]1421: The Year
China Discovered The World (1421:
Năm Trung Quốc khám phá ra thế giới),
Gavin Manzies, Bantam Books, London
(2003)
[2]Một
cách chơi chữ. Có thể dịch là "Lịch sử
thuyền buồm" nhưng cũng thể hiểu là "Lịch
sử rác" (eg. junk mail, junk food).
[3]Trịnh
Ḥa (1371-1433) người tỉnh Vân Nam (Trung
Quốc), là một nhà hàng hải, thám hiểm và
ngoại giao lỗi lạc trong lịch sử Trung
Quốc. Ông gốc người dân tộc Hồi, theo
đạo Hồi. Ông bị hoạn từ lúc nhỏ để tiến
cung làm thái giám và sau này trở thành
người thân cận của vua Minh Thành Tổ.
Ông là người đầu tiên trong lịch sử hàng
hải thế giới tổ chức những đoàn tàu phát
xuất từ Trung Quốc vượt đại dương 7 lần
(1405-1433) ghé những nước ven bờ Ấn Độ
Dương và đến tận bờ biển phía Đông châu
Phi. Trong những lần viễn du này, đoàn tàu
của ông lên đến hằng trăm chiếc, số
thuyền viên vượt hơn 27.000 người. Những
chuyến đi này không có mục đích rơ ràng,
phần lớn chỉ chú trọng đến ngoại giao,
ḥa thân (gả công chúa), khoe khoang sự
giàu có của triều đ́nh nhà Minh. Nó chỉ
gây ra sự hao hụt to lớn cho ngân khố quốc
gia. Có một lần Tử Cấm Thành gặp hỏa
hoạn, Minh Thành Tổ mê tín cho là điềm
gở liên quan đến việc viễn du của Trịnh
Ḥa. Nhà vua hạ lệnh đ́nh chỉ việc viễn
du. Thời đại hoàng kim của ngành hàng
hải và đóng tàu tại Trung Quốc chấm dứt.
Một trăm năm sau, những chiếc tàu viễn
dương của Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha xuất
hiện. Thời đại của chủ nghĩa thực dân
bắt đầu (xem thêm "Zheng He", Wikipedia).
http://www.sz.chinanews.com.cn/zgzh/2003-08-13/71/265.html
[5]http://news.xinhuanet.com/overseas/2005-05/12/content_2947976.htm
[6]http://tech.icxo.com/htmlnews/2005/08/15/647531.htm
[7]http://www.1421.tv
Nguồn : www.talawas.org .
Đăng lại trên ERCT với sự đồng ư của tác giả.
(*)
Anh Trương Văn Tân
sinh quán tại tỉnh Sa Đéc, cựu học sinh
trường trung học Sa Đéc và Tống Phước
Hiệp (Vĩnh Long). Anh Tân đến Nhật cuối
năm 1969. Anh tốt nghiệp Bachelor Eng.
(1975), Master Eng. (1977) trường
Tokodai (Tokyo Institute of Technology)
và PhD (1980, University of Adelaide, Úc).
Anh Tân hiện làm việc tại Viện Khoa Học
và Công Nghệ Quốc Pḥng (Defence Science
and Technology Organisation) trực thuộc
Chính Phủ Liên Bang Úc. Anh chuyên về
Vật Liệu Học và hiện nghiên cứu về
polymers dẫn điện và ống nano carbon.
Anh đă công bố gần 70 bài báo cáo khoa
học trên các tạp chí khoa học quốc tế.