|
Trung
Quốc Du Hành Kư (1) Tôi
đến Quảng Châu vào một buổi tối sau
những ngày Tết Nguyên Đán Giáp Thân. Khi chiếc
máy bay hạ cánh xuống phi trường Bạch Vân
của thành phố Quảng Châu kết thúc chuyến
đi dài 9 tiếng đồng hồ từ Melbourne tôi
không có nhiều kỳ vọng vào Quảng Châu,
vẫn nghĩ Quảng Châu là một thành phố
tạp nham người xe lẫn lộn như
những bức h́nh tôi thấy vài thập niên trước.
Nhưng khi chiếc taxi chở tôi vào khách sạn
ở trung tâm thành phố, tôi đi từ ngạc nhiên
nầy đến ngạc nhiên khác. Quảng Châu đă
có những đường xe cao tốc trong thành
phố, hai bên đường san sát những toà nhà cao tầng hành chánh, thương măi hay là những
toà nhà chung cư cho dân thành phố. Với những ḍng
chữ Hán dọc theo bên đường, những
tấm biển quảng cáo neon đủ màu sắc,
xe hơi chạy ào ạt trên những con đường
cao tốc lập thể làm tôi có cảm giác như
đang trở lại Tokyo nhưng với một
bầu trời khoáng đảng hơn v́ so với
Nhật đường cao tốc ở đây
rộng răi và những toà nhà đồ sộ hơn.
Tôi ngẩn ngơ không biết đây có phải là
Quảng Châu, Trung Quốc, bởi v́ sự tưởng
tượng và thực tế cách nhau quá xa. Phạm
Hồng Thái và Hoàng Hoa Cương
Tôi
đến Trung Quốc lần thứ nhất và
Quảng Châu là thành phố Trung Quốc tôi đặt
chân đến đầu tiên. Lâu nay tôi vẫn mong
được đến thành phố nầy để
viếng thăm Hoàng Hoa Cương nơi chôn cất
liệt sĩ Phạm Hồng Thái. Việc
đầu tiên của sáng ngày hôm sau là t́m đường
đến Hoàng Hoa Cương. Hoàng Hoa Cương
nằm trên một con đường chính của thành
phố có tên là Đường Tiên Liệt (Senle Lu:
Tiên Liệt Lộ). Tên chính thức của Hoàng Hoa Cương
là Công Viên Hoàng Hoa Cương một trong “Quảng
Châu Bát Cảnh” của thành phố.
Đây là nơi chôn
cất 72 người liệt sĩ của Trung Hoa
Quốc Dân Đảng cầm đầu một
cuộc khởi nghĩa không thành công chống
triều đ́nh nhà Thanh ngày 27 tháng 4 năm 1911. Toàn
thể 72 người liệt sĩ bị giết
hoặc xử tử. Những người nầy là
những đảng viên trẻ và ưu tú của
Quốc Dân Đảng. Mặc dù thất bại
cuộc khởi nghĩa nầy dẫn đến Cách
Mạng Tân Hợi thành công tại thành phố Vũ
Xương gần 6 tháng sau đó (ngày 10 tháng 10 năm
1911). Chủ Tịch Quốc Dân Đảng là Bác Sĩ
Tôn Dật Tiên tuyên bố sự cáo chung của nhà
Thanh mở ra thời đại Trung Hoa Dân Quốc. Thật
ra, Hoàng Hoa Cương là nơi an nghỉ của hơn
80 người anh hùng liệt sĩ thời Dân
Quốc mà Phạm Hồng Thái là một liệt sĩ
nước ngoài duy nhất được chôn cất
ở đây. Hoàng Hoa Cương chiếm một
diện tích 130 000 m2 với một cửa Tam
Quan hùng tráng được khắc bốn chữ
“Hạo Khí Trường Tồn” do Bác sĩ Tôn
Dật Tiên đề. Đi qua cửa Tam Quan là
bức tượng Nữ Thần Tự Do được
mô phỏng theo Statue of Liberty của Mỹ. Từ
cửa Tam Quan là một con đường 200 m dẫn
đến tấm bia khắc tên 72 liệt sĩ.
Mỗi ngôi mộ ở đây được xây
cất theo nhiều phong thái khác nhau trông rât hùng tráng
và uy nghiêm. Mộ của Phạm Hồng Thái ở phiá
sau công viên tọa lạc trên một khoảnh đất
khá rộng. Trước khi bước vào khuôn viên ngôi
mộ có một tấm bia lớn viết bằng
tiếng Hán lược thuật lại hành động
anh hùng của ông. Ngày 19 tháng 6 năm 1924, sau khi
viết bảng cáo trạng tố cáo
tội ác của thực dân Pháp đến nhân
dân toàn thế giới, Phạm Hồng Thái giả
dạng kư giả vào Khách Sạn Victory tại tô
giới Sa Diện để ám sát toàn quyền Merlin.
Merlin thoát chết và Phạm Hồng Thái phải gieo
minh xuống ḍng Châu Giang tự tử. Cảm xúc trước
hành vi anh hùng của Phạm Hồng Thái, Thị Trưởng
Quảng Châu lúc đó là Hồ Hán Dân của Chính
Phủ Quôc Dân Đảng đem
thi thể Phạm Hồng Thái an táng tại
Nhị Vọng Cương trong khuôn viên Hoàng Hoa Cương.
Ngôi mộ được thiết kế để
tấm bia quay về hướng Tây Nam là hướng
của Tổ Quốc Việt Nam. Đến năm
1958, v́ nhu cầu xây đường xe trong thành
phố ngôi mộ được di chuyển đến
vị trí hiện tại và được Ủy Ban
Nhân Dân Thành Phố Quảng Châu trùng tu cho đến
ngày hôm naỵ Tấm
bia được viết bằng tiếng Việt phiá
trên “Mộ Liệt Sĩ Phạm Hồng Thái”,
phần dưới tiếng Hán ghi là “Việt Nam
Phạm Hồng Thái Liệt Sĩ Chi Mộ”. Tôi
đứng trước ngôi mộ chắp tay lại vài
giây để tưởng niệm một người
anh hùng đă v́ sự nghiệp giải phóng dân
tộc bỏ ḿnh nơi đất khách.Tôi có mua
một quyển sách nhỏ giới thiệu Hoàng Hoa Cương
bằng tiếng Hán trong đó h́nh ảnh và tiểu
sử Phạm Hồng Thái chiếm hai trang. Kế bên
ngôi mộ Phạm Hồng Thái có một ngôi mộ người
Việt Nam nhỏ hơn trông rất đơn sơ
qua đời năm 1967 có lẻ là đảng viên
đảng Cộng Sản Việt Nam nhưng không
biết có liên hệ ǵ đến Phạm Hồng Thái.
Mộ Phạm Hồng Thái Tôi
đến công viên Hoàng Hoa Cương đúng vào
buổi sáng một ngày thứ Bảy của những
ngày sau Tết Nguyên Đán nên khách văng lai khá
nhiềụ Có những cô cậu học sinh đứng
trước những ngôi mộ ghi ghi chép chép.
Những cặp vợ chồng trẻ với con
nhỏ quây quần bên nhau dưới những hàng cây
cao rợp bóng. Những người trung niên th́
tụ tập trước những sân trống của
những ngôi mộ đá cầu lông hoặc tập
nhảy những điệu nhảy Rhumba, Tango trông
rất là điệu nghệ . Những người
cao niên hơn th́ tập Taichi hoặc cùng nhau ca
những bài ca Việt Kịch (kịch Quảng Đông)
với sư hỗ trợ của tiếng đàn
Nhị hồ và tiêng sáo.
Tôi đi lửng thửng th́ gặp một nhóm ông bà
cụ tụ tập rất đông đảọ
Một bà cụ vừa ca vừa thách thức một
ông cụ, ông cụ ca lại nhưng có vẻ đối
đáp không lại bà cu.. Những người xung
quanh vừa vổ tay vừạ cười ra
chiều thích thú. Tất cả tạo nên một
cảnh sắc vui tươi nhộn nhịp và thanh b́nh
chưa từng thấỵ Ca được một lúc
họ giải tán. Tôi ṭ ṃ hỏi bà cụ ban
nảy bằng tiếng Phổ Thông (Mandarin) nhát
gừng của tôi “Qúi vị làm ǵ mà vui
thế??”, bà cụ nghe cái giọng trọ trẹ
của tôi hỏi lại “Cậu từ đâu
tớỉ Hong Kong? Singaporẻ Malaysiả” “Không!
Từ Úc Châu”, bà ấy la lên “À… Tôi cũng có thân
nhân ở Úc”. Thế là bà cụ nắm tay tôi ca
một mạch gần 5 phút những câu chúc Tết
“Kong hee fat choy, Vàng ngọc đầy nhà, Dồi dào sưc khỏe, Trường thọ diên
niên…..”. Người đi qua lại nh́n tôi không
biết chuyện ǵ xăy ra. Tôi hơi “quê”, nhưng đến
thăm Hoàng Hoa Cương lại được
một bà cụ chúc Tết “tràng giang đại
hải” th́ thế nào cũng có một năm may
mắn, “phúc măn đường” vậỵ "Tiếng
bom Sa Diện"
Tối
hôm sau tôi cùng một người bạn Trung Quốc
đi dạo một ṿng “Quảng Châu by night”
bằng xe hơi. Ḍng sông Châu Giang chảy ngang thành phố Quảng
Châu.
Bên nầy con sông là trung tâm sầm uất, bên kia con
sông nhà cửa ít hơn và trên đà phát triển
với một ṭa nhà
đồ sộ của Trung Tâm Triển Lăm Thương
Măi Quốc Tế. Chúng tôi chạy sang bên kia bờ
để nh́n thành phố về đêm với
những toà nhà cao tầng rực sáng. Hai bên bờ người
ta trồng những hàng dừa (palm tree) dài hơn 5 km
đươc phản xạ bằng những ánh đèn
màu xanh trông rất huyền ảo.
Khi
chúng tôi băng qua cầu để trở lại thành
phố, một tấm bảng chỉ đường
t́nh cờ đập vào mắt tôi với hai chữ
Hán “Sa Diện” (Sa = cát, Diện = mặt) đọc
theo tiếng Phổ Thông (Mandarin) là “Sa Mian”. Tôi bàng
hoàng v́ nơi đây đă xăy ra “Tiếng bom Sa
Diện” của anh hùng Phạm Hồng Thái 80 năm
trước. Tôi vội vă yêu cầu anh tài xế
chạy theo hướng nầy để t́m Khách San
Victorỵ Sa Diện thật ra là một ḥn đảo
nhỏ trên ḍng Châu Giang. Ở đây con sông chia ra làm
hai nhánh đổ ra biển. Sa Diện là một tô
giới Anh dươi triều nhà Thanh. Nơi đây c̣n
lại những ṭa nhà với kiến trúc Tây Phương
ở thế kỷ 18 , 19. Khách Sạn Victory do người
Anh xây cất là một toà nhà cao ba tầng chiếm
một góc đường và bây giờ được
đổi tên là Khách San Shengli (Thắng Lợi).
Phiá truóc mặt là một con kênh thông với sông
Châu Giang cách đó không xa.
Khi nh́n Khách Sạn này tôi bỗng nhớ đến
một đoạn Sử học thuộc ḷng ở
thời kỳ Trung Học; “Sau khi ném bom thất
bại, Phạm Hồng Thái chạy ra khỏi Khách
Sạn. Bọn mật thám Pháp vừa đuổi theo
vừa bắn. Phạm Hồng Thái chạy theo h́nh
chữ “chi” để tránh đạn và hướng
về phiá sông Châu Giang rồi nhảy xuống sông
trầm ḿnh tự tử”. Khi chiếc xe rẽ theo góc
đường dọc theo Khách Sạn chạy về
hướng sông Châu Giang ḷng tôi cảm khái vô
hạn. Có thể đây là con đường thoát thân
của Phạm Hồng Thái 80 năm trước.
Ở con đường ngang nầy bây giờ
xuất hiện một nhà hàng có tên là “Vietnam
Cuisine” thấp thoáng những cô gái Trung Quốc
mảnh khảnh trong chiếc áo dài Viet Nam tha thước.
Người bạn Trung Quốc nói nhỏ với tôi
“Đây là khu vực nhà cao cấp cua newly-rich!!”. Cách
Khách Sạn Victory không xa là Khách Sạn năm sao White
Swan (Bạch Thiên Nga) cao 30 tầng là một trong
những biểu tượng của thành phố
Quảng Châu hiện đại. Viện
Bảo Tàng Nam Việt Vương
Ngày
kế tiếp tôi dùng xe điện ngầm đến
thăm Viện Bảo Tàng lăng của Nam Việt Vương.
Nơi đây là lăng của Văn Vương
Triệu Muội [1] là cháu nội của Vũ Vương
Triệu Đà. Triệu Muội là vua thứ hai
của nước Nam Việt kế tục Triệu
Đà. Lăng nầy được khai quật vào năm
1983 và phát hiện được hơn 1000 hiện
vật cách đây hơn 2000 năm. Những hiện
vật nầy phần lớn là những công cụ
nấu ăn, vại chứa rượu, cốc
uống rượu làm bằng đồng với
những chi tiết điêu khắc rất là tinh vi.
Sự phát triển đồ đồng có hơn 4000
năm trước. Điều nầy cũng dễ
hiểu v́ đồng có thể tinh luyện ở 1000º
C trong khi sắt ở 1500º C. Những bộ dấu
ấn bằng vàng của vua, thái tử, hoàng hậu
và các bà phi cũng được trưng bàỵ Ngoài
ra, có những hiện vật trang trí hoặc trang
sức bằng ngọc được chạm khắc với một kỹ
xảo tuyệt vời.
Thi thể của Triệu Muội được
bọc một khung có lát hằng ngàn ngọc lá. Bây
giờ thi thể không c̣n ǵ mà chỉ c̣n một hàm
răng của người đàn ông trên dưới
50. Ở một gian pḥng khác người ta trưng bày
những vị thuốc Bắc và những hạt
mực để làm mực viết và vũ khí các
loại.
Có
những thanh kiếm sắt dài hơn 1 m đă hoen rĩ,
những mũi tên đồng có thể là những mũi
tên mà Triệu Đà dùng cho “nỏ thần” mà ông
ta học được của An Dương Vương
nước Âu Lạc. Nhân
vật Triệu Đà và nước Nam Việt là
những sự kiện quen thuộc trong lịch sử
Việt Nam. Cuối thời Xuân Thu Chiến Quốc
(2300 năm truóc) tại Trung Quốc, Tần Vương
Chính tóm thu sáu nước thống nhất Trung Nguyên
(khu vực phiá Bắc sông Trường Giang) lên ngôi
hoàng đế xưng là Tần Thủy Hoàng. Sau đó
Tần Thủy Hoàng đem quân vượt sông Trường
Giang (Dương Tử Giang) thôn tính các nước Bách
Việt. Cũng nên nói thêm là Bách Việt là khu vưc
phiá nam trung lưu va hạ lưu sông Trường
Giang, bây giờ là một phần cua tỉnh An Huy,
tỉnh Giang Tây (Dương Việt), tỉnh Chiết
Giang (Ư Việt), tỉnh Phúc Kiến (Mân Việt),
Lưỡng Quảng (Quảng Đông/Quả ng Tây)
(Nam Việt); Bắc bộ va Bắc Trung bộ
Việt Nam (Âu Việt và Lạc Việt). Quân Tần
dừng chân ở Lưỡng Quảng. Triều đ́nh nhà Tần giao việc
quản lư Lưỡng Quảng cho một viên quan
lại tên là Triệu Đà gốc người
Hồ Bắc (Trung Quốc). Sau khi Tần Thủy Hoàng
băng hà, loạn lạc nổi lên. Thừa cơ
hội nầy, Triệu Đà thành lập cát cứ xưng
vương lấy tên là Triệu Vũ Vương và
đặt tên nước là Nam Việt bao gồm 2
tỉnh Quảng Đông và Quảng Tây ngày nay,
thủ đô là Phiên Ngung (Quảng Châu). Sau đó,
Triệu Đà thôn tính nước Âu Lạc (Việt
Nam) của Thục Phán An Dương Vương sáp
nhập Âu Lạc vào Nam Việt qua chuyện t́nh
nổi tiếng Trọng Thủy Mỵ Châu. Lúc
bấy giờ tại Trung Nguyên, sau khi nhà Tần
sụp đổ th́ xăy ra một cuộc tranh hùng
giữa Hán Vương Lưu Bang và Sở Vương
Hạng Vơ. Lưu Bang chiến thắng và thành lập
nhà Hán. Sau khi lập quốc, ba đời vua Hán c̣n vướng
bận với việc chống trả người
Hồ (Hung Nô) phương Bắc, trong triều đ́nh
lại bị Lữ Hậu (vợ Lưu Bang) chuyên
quyền. Trong khoăng thời gian nay nước Nam
Việt được để yên khoăng 100 năm.
Triệu Đà làm vua đươc 67 năm th́ đến
Triêu Muội (15 năm) và 3 đời vua sau (13 năm).
Khi Hán Vũ Đế lên ngôi, vi vua trẻ nầy dùng
vũ lực hoặc chính sách ḥa thân (gả công chuá
làm thông gia) để b́nh định người Hung
Nô.
Sau khi rảnh tay với Hung Nô, Hán Vũ Đế
cử quân đánh Nam Việt. Nước Nam Việt
bị diệt. Nước Âu Lạc là một
phần của Nam Việt nên đất đai Âu
Lạc cũng bị nhà Hán thống tri.. Thời
kỳ Bắc Thuộc 1000 năm bắt đầu. Có
một chi tiết mơ hồ là khi tôi học
lịch sử Việt Nam ở thời Trung Học,
những sách giáo khoa Sử thường xem Triệu
Đà như một ông vua Việt Nam. Thậm chí, trước
1975 ở Quận 5 Sài G̣n cũng có con đường
Triệu Đà. V́ Triệu Đà là vua của vùng
đất Lưỡng Quảng nên các sử gia
“nghiệp dư” lại tiến thêm một bước
nữa, tuyên bố “Lưỡng Quảng là vùng
đất cũ của Việt Nam” !! Không chừng các
“sử gia” lại lầm lẫn hai chữ Nam
Việt và Việt Nam??!! Khi đến Quảng Châu tôi
thấy người ta dùng từ “Việt” rất
nhiều chẳng hạn như “Việt Kịch”
(kịch Quảng Đông) “Việt Ngữ”
(tiếng Quảng Đông), Lưỡng Việt
(Quảng Đông, Quảng Tây). Nhưng chữ
“Việt” ở đây viết theo bộ Mễ (=
gạo)
Nam Hoa
Thiền Tự
Trước
khi đi Trung Quốc, một người đồng
nghiệp trong cơ quan đề nghị với tôi nên
thăm chuà “Nam Hoa Thiền Tự”, đến đây
lạy Phật th́ sẽ có nhiều “phúc đức”.
Ngôi chùa nầy ở gần thị trấn Shaoguan
(Thiều Quan) cách thành phố Quảng Châu 200 km
về phiá Bắc. Chùa nầy được thành
lập 1500 năm trước do một sư tổ người
Ấn Đô (Bồ Đề Đạt Ma??) đến
Trung Quốc truyền đạọ.
Sư tổ đời thứ sáu Lục Tổ
Huệ Năng sáng lập môn phái Thiền Tông là
một nhà tư tưởng Phật Giáo dược
đặt ngang hàng với Khổng Tử và Lăo
Tử [2]. Đến chùa nầy phải đi bằng
xe lưả. Không biết tôi có được cái
may mắn hưởng nhiều “phúc đức” khi
đến chùa Nam Hoa hay không nhưng tôi muốn
biết kiến trúc của một ngôi chùa cổ và
"thám hiểm" bằng xe lửa để
thấy được sinh hoạt thật của người
dân Trung Quốc. Nhà Ga và
Xe Lửa
Khi
tôi đến ga xe lửa Quảng Châu th́ từ xa
đă thấy người trùng trùng lớp lớp. Người
ta về quê ăn Tết bây giờ trở lại thành
phố làm việc. Hằng chục ngàn người di
động như một ḍng thác trước
quảng trường nhà ga.Từ
xa những mái đầu người như những
đợt sóng màu đen nhấp nhô không dứt. Tôi
không nghe người ta la hét hoặc chữi bới. Họ di động với mớ hành lư cồng
kềnh trong trật tự theo một qui luật
bất thành văn. Tôi ở giữa ḍng người
ngơ ngơ ngác ngác, vai đeo ba lô đi những bước
ngập ngừng không biết phải tiến thoái làm
sao….. Điều khổ tâm khi du lịch Trung Quốc
là người dân không biết tiếng Anh, bảng
chỉ dẫn tiếng Anh lại không có. Trung Quốc
là một nước đa dân tộc và nói nhiều
giọng địa phương. Chính phủ khuyến
khích người dân dùng tiếng Phổ Thông mà cơ
bản là tiếng Bắc Kinh để có sự
thống nhất tiếng nói. Dù vậy, nhiều người ở
vùng sâu vùng xa vẫn chưa nói thông thạo. Tôi
chỉ biết nói tiếng Phổ Thông “lắp
bắp” nhờ những bài học tiếng Trung
Quốc của đài truyền h́nh Nhật Bản NHK
khi c̣n ở Nhật. Nghe th́ “loạng choạng”, nhưng
nhờ Hán Tự (Kanji) trong tiếng Nhật nên không
đến nổi “mù chữ”. Nhờ vậy tôi có
thể sử dụng xe bus hay xe điện ngầm
để di chuyển trong thành phố. Tôi chỉ dùng
tiếng Phổ Thông “ba rọi” của tôi khi ở
thế “thượng phong” làm “chủ” như
ở trong nhà hàng, hoặc khách sạn để pha tṛ!!
Trong trường hợp hỏi thăm đường
xá ở nhà ga th́ nên giả câm giả điếc là
cách hay nhất. Nói tiếng Phổ Thông “lắp
bắp” chỉ làm cho người ta hiểu lầm tôi
là một nông dân vùng núi vừa đến thành
phố!! Người Trung Quốc quá đông nên
họ không có th́ giờ đứng lại tỏ thái
độ thân thiện hỏi han kẻ "lạc
đường" như người Úc hay đối
xử lễ phép như người Nhật. Làm sao bây
giờ? Cái máu hải hồ trong tôi bỗng nhiên
bừng dậy khiến cho cái đầu trở nên thông
minh một chút…. Để hỏi cách thức mua vé,
tôi viết chữ Hán nơi đi nơi đến
cộng thêm vài ḍng tiếng Anh linh tinh vào một
tấm giấỵ Tấm giấy có công hiệu như
một lá bùa, không cần nói một lời chỉ
đưa tấm giấy cho một cô bé ở pḥng
“Chỉ Dẫn” là tôi sẽ được đối
xử một cách lịch sự duyên dáng, đến
nơi đến chốn. Xe
lửa là phương tiện di chuyển chính liên
tỉnh trên toàn quốc, tiện nghi và sach sẽ. Trên
chuyến xe lửa tôi đi, sau khi sắp xếp
chỗ ngồi cho hành khách các cô nhân viên biến thành
các cô bán đồ kỷ niệm. Đồ kỷ
niệm ở đây là một tấm card mạ vàng
giống như credit card, một bên là h́nh Mao Trạch
Đông, mặt bên kia là số tử vi của 12 con
giáp với hai câu đối “Vạn sự như ư”
và “Xuất nhập b́nh an”!! Cô nhân viên quảng cáo
tấm card gần 10 phút đồng hồ
với
giọng lanh lảnh như một nhà hùng biện. Tôi
thấy nhiều người mua, tôi cũng bèn mua
một tấm đúng con giáp cua tôi để lấy
hên đầu năm và được Bác Mao phù
hộ!! Về phần “giúp vui” th́ Cục Đường
Sắt Trung Quốc cho hành khách nghe nhạc yêu nước
hay nhạc ca tụng Mao Chủ Tịch với
những lời ca hơi lổi thời như “Mao
Chủ Tịch vạn tuế vạn vạn tuế”
hay là “Mao Chủ Tịch ở măi trong con tim chúng
ta”… Người Trung Quốc nhất là nông dân dường
như vẫn c̣n mang nhiều hoài niệm vơi Mao
Trạch Đông. ************ Kể
từ ngày Triệu Đà thành lập nước Nam
Việt lấy Phiên Ngung làm thủ đô th́ Quảng
Châu có một lịch sử hơn 2000 năm. Tên Phiên
Ngung vẫn c̣n nhưng bây giờ là Khu Phiên Ngung
trực thuộc thành phố Quảng Châu.
Quảng Châu cũng là nơi có nhiều liên hệ
đến lịch sử Việt Nam cận đại.
Ngoài Phạm Hồng Thái, nhiều nhà cách mạng
Việt Nam cũng đă dừng chân tại đây cho
những hoạt động cách mạng chống Pháp.
Ngày nay Quảng Châu là một trung tâm thương măi
và kinh tế quan trọng của miền Nam Trung
Quốc. Trong suốt 4 ngày tại đây, tôi không t́m
được bóng dáng một căn nhà ở.
Bảy triệu dân thành phố Quảng Châu đă
bị chung cư hoá. Có những chung cư 10 tầng cũ
kỹ, mốc thếch như chưa bao giờ
được sơn. Có những chung cư đồ
sộ hiện đại 20, 30 tầng cho những người
khá giả hơn. Nhưng có lẻ nhờ vậy, tôi
không thấy “slums” với những con kênh đen ng̣m
v́ nước thăi.
Hệ thống giao thông công cộng thành phố như
xe bus và xe điện ngầm vừa rẽ vừa
nhiều nên không thấy những chiếc xe hai bánh
chạy hỗn độn như trên đường
phố Sài G̣n. Tôi
từ giă Quảng Châu bay đến Thượng
Hải. Từ
trên máy bay tôi nh́n xuống ḍng Châu Giang. Con sông đă
từng làm chứng nhân cho bao cuộc thăng trầm
lịch sử, bây giờ như trẻ lại loang loáng
trong ánh nắng b́nh minh, vẫn lững lờ trôi
về biển…
Trương Văn Tân (Exryu Úc Châu)
Chú
Thích: 1.
Viện Bảo Tàng ghi là Muội, "Đại
Việt Sử Kư Toàn Thư" ghi là Hồ 2.
Xem "Kinh Pháp Bảo Đàn", Thích Duy
Lực dịch và lược giải Cảm tưởng về bài viết của Trương Văn Tân xin gởi về tvtan@erct.com |