|
Cải cách
khoa học kỹ thuật
Trương
Văn Tân (Exryu Úc Châu)
bài đă đăng
trên VietNamNet ngày 8/10/2005 (*).
H́nh của ERCT
Nhân
đọc bài "Hiến kế đưa khoa
học - công nghệ trở thành động
lực" (*)
,
tôi xin phép có một vài thiển kiến. Tôi
rời Việt Nam trước 1975 du học
tại Nhật Bản sau đó tốt nghiệp
Tiến sĩ tại Úc. Tôi có kinh nghiệm nghiên
cứu và chỉ đạo nghiên cứu trên
hai phương diện cơ sở lẫn áp
dụng hơn 25 năm và hiện giờ đang làm
công tác nghiên cứu khoa học chuyên về Khoa
Học Vật Liệu Cao Cấp tại một
viện nghiên cứu trực thuộc chính phủ
liên bang Úc.
 |
| Tác
giả và các nhà khoa học kỹ thuật gia trong một hội nghị tại
Đại Học Quốc Gia Hà Nội năm 2002. |
Kể
từ năm 1998 tôi có về Việt Nam nhiều
lần để tham gia hội thảo khoa học
và báo cáo seminar tại các cơ quan nghiên cứu
khoa học tại Việt Nam. Trong những lần
về nước nầy, tôi may mắn
được tiếp xúc với các đồng
nghiệp tại Việt Nam. Những nhận xét
sau đây dựa vào điều quan sát trong
những dịp giao lưu này.
1.
Cải cách lương bổng
Một
đồng nghiệp trong nước bảo tôi
"Một ngày lương của tôi chỉ có
hai, ba đô la th́ làm sao sống nổi trong
thời buổi kinh tế thị trường
nầy!?". Nếu người làm khoa
học không có một tâm lư "an cư lạc
nghiệp" th́ khó có thể sử dụng
được khả năng sáng tạo của ḿnh
cho đúng mức để loé ra những tia sáng
phát minh. Không có cải cách lương
bổng sẽ sinh ra tham nhũng trong khoa
học, hoặc chạy mánh làm giàu bằng
những tư vấn dựa vào nhưng công tŕnh
"ma" nguỵ khoa học.
2.
Nghiên cứu cơ sở hay nghiên cứu áp
dụng
Nghiên
cứu cơ sở nhằm đặt ra những
nền tảng cho sự phát triển khoa học
thuần tuư nhưng cũng đồng thời
để thoả măn tính hiếu kỳ của các
nhà khoa học, v́ vậy nó không mang nhiều
lợi ích cho một nước đang phát
triển như Việt Nam. Mục đích
của những nghiên cứu cơ sở tại
phương Tây nhất là tại các đại
học là số lượng bài báo cáo trên các
tạp chí khoa hoc. Phần lớn những
kết quả nghiên cứu chỉ mang tính chung
chung. Dù vậy, chất lượng nghiên cứu
cơ sở tại Việt Nam vẫn chưa đạt
đến tŕnh độ quốc tế. T́nh
trạng theo đuôi các đề án nghiên cứu của
nước ngoài rất phổ biến trong
những đề án nghiên cứu cơ sở
tại Việt Nam.
Trong
một đất nước có một nền
kinh tế đang đi lên như Việt Nam, nghiên
cứu khoa học có thể tạo ra những
sản phẩm bán ra tiền hoặc tiết
kiệm tiền là nghiên cứu có giá trị.
Đây là những nghiên cứu mang tính áp
dụng. Nghiên cứu mang tính áp dụng
phải được đặt ưu tiên trong
chính sách khoa học của nhà nước v́ nó là
động lực cho sự phát triển kinh
tế. Tuy nhiên, t́m ra một đề tài nghiên
cứu áp dụng để đưa ra thành
phẩm không phải là một chuyện dễ.
Theo thống kê, trong 5000 đề tài khoa học
sẽ có 1000 đề tài khả thi trên phương
diện thực nghiệm. Trong 1000 đề tài
nầy sẽ đưa đến 100 đề tài
có khả năng áp dụng. Và trong 100 đề
tài nầy nhiều nhất chỉ có 5 đề
tài đưa đến thành phẩm. Như
vậy, xác suất thành công sẽ ít hơn 0.1 %.
Tuy nhiên, người Nhật Bản đă
biết "đi tắt đón đầu" và
rất thành công về phương diện
nầy. Sau khi bại trận trong Đệ
Nhị Thế Chiến, các nhà khoa học Nhật
đă biết lợi dụng và chọn lọc
những thành quả khoa học của Mỹ
và Âu Châu để chế biến thành
những sản phẩm hữu dụng bán cho
thế giới. Chẳng hạn transistor là một
phát minh của Mỹ nhưng Nhật chế
tạo những đài transistor radio đầu
tiên làm tràn ngập thị trường
thế giới.
Hiện
tại, Việt Nam không thể bắt kịp
thế giới trong nghiên cứu cơ sở mà
mục tiêu chỉ để xuất bản
những bài báo cáo chung chung chỉ làm lăng phí
đến tiền thuế của nhân dân
vô ích. Việt Nam cần phải tạo
những luồng nghiên cứu áp dụng mang tính
bản địa và phù hợp với t́nh
huống Việt Nam. Những thành quả nghiên
cứu sẽ tạo ra công nghệ và doanh
nghiệp khoa học phục vụ cho đời
sống của người dân cho nhu cầu công
nghệ Việt Nam và xa hơn nữa cho thế
giới.
3.
Phương pháp tuyển chọn đề án
khoa học
Chính
phủ lập ra một Uỷ Ban Khoa Học -
Công Nghệ đặt ra chính sách và trọng tâm
nghiên cứu, để tuyển chọn và
quyết định việc cung cấp tài khoản
cho những đề án. Uỷ Ban bao gồm
những chuyên gia trong ngành trong và ngoài nước.
Để sự tuyển chọn có tính cách minh
bạch, khách quan và vô tư, những đề
án nầy cần phải đi qua một quá
tŕnh duyệt khảo của những chuyên gia.
Để tránh sự đố kỵ cũng
như tệ nạn "anh găi lưng tôi, tôi găi
lưng anh" những đề án cần
phải có ít nhất 3 người duyệt
khảo phê b́nh. Có thể nhờ chuyên gia nước
ngoài để tính khách quan được nâng
cao. Những hoạt động khoa học nầy
hoàn toàn miễn phí trong cộng đồng khoa
học quốc tế.
Việc
quản lư tài chánh của một đề án
nghiên cứu liên quan đến việc mua
thiết bị, hoá chất, vật liệu thí
nghiệm v.v... cần phải giao cho một ban
quản trị độc lập giám sát để
tránh t́nh trạng tham nhũng.
4.
Chất xám Việt Kiều
So
với các nước láng giềng Á Châu, số
Việt Kiều có tài năng khoa học
kỹ thuật c̣n ít nhưng sẽ tăng trưởng
nhanh. Muốn thu hút chất xám Việt Kiều chính
phủ cần phải đầu tư vào
việc ăn ở và giáo dục cho gia đ́nh
con em của những Việt Kiều trở
về nước phục vụ ngắn hạn
hay dài hạn. Việt Kiều làm việc trong
những cơ quan nghiên cứu khoa học,
đại học hoặc trong các doanh
nghiệp công nghệ phần lớn mang
một tâm t́nh trở về phục vụ đất
nước. Việt Kiều có thể bỏ
tiền túi hoặc dựa vào tài trợ của cơ
quan cho việc ăn ở đi lại một vài
lần đầu để tham gia giảng
dạy, hướng dẫn các đề án nghiên
cứu hoặc phát triển một sản
phẩm công nghệ cao. Tuy nhiên, những
hoạt động nầy sẽ không mang tính
chất lâu dài nếu chính phủ không có một
chính sách rơ rệt đối với Việt
Kiều.
Chính
sách thu hút chất xám kiều dân đóng góp
vào khoa học kỹ thuật và biến những
thành quả nầy thành một động
lực để phát triển kinh tế đất
nước đă được chính
phủ Đài Loan, Hàn Quốc, Singapore và
gần đây Trung Quốc thực hiện rất
thành công. Tôi xin đơn cử một thí
dụ về chính sách tài trợ nghiên cứu
của chính phủ Trung Quốc đối với
kiều dân của họ. Trung Quốc có một
ngân khoản đặc biệt dành cho những nhà
nghiên cứu gốc Trung Quốc trên toàn thế
giới. Chính sách nầy rất khôn ngoan là v́ (1)
người nhận tiền nghiên cứu vừa có
tiền làm việc vừa đóng góp cho
tổ quốc và quê hương thứ hai cùng
một lúc, (2) cơ quan của người
nhận sẽ được tiếng là có thu
nhập nghiên cứu và có "hợp tác quốc
tế", (3) chính phủ Trung Quốc được
những thành quả nghiên cứu mà không bị
mang tiếng là "ăn cắp".
Tóm
lại, tài năng không phân biệt chủng
tộc. Nếu có sự khác biệt th́ chỉ là
cách thực hiện chính sách, quản lư hành
chánh và quyết tâm của nhà nước. Những
thiển nghĩ trên đây không phải là
những điều mới lạ mà là những
tiêu chuẩn đă và đang áp dụng trên
toàn thế giới. Tại Á Châu, Nhật
Bản đi trước dẫn đầu.
Những nước láng giềng Á Châu nối
tiếp bước đi Nhật Bản gặt hái
được những thành công trong việc áp
dụng khoa học kỹ thuật để
trở thành những con rồng kinh tế. Từ
đống tro tàn của "Cách Mạng Văn
Hoá", Trung Quốc đă vươn ḿnh lên "
ḍm ngó" vị trí cường quốc
thứ hai trên mặt trận kinh tế thế
giới nhờ vào những chính sách toàn diện,
nhất quán và khôn ngoan. Ở thập niên 60,
Nhật Bản đưa ra khẩu hiệu
"Kỹ Thuật Lập Quốc", ở
thập niên 90 cựu Chủ Tịch Giang
Trạch Dân hô hào "Khoa Giáo Hưng
Quốc" (khoa giáo = khoa học va giáo dục) và
đưa vào chính sách nhà nước, thực thi
triệt để. Ngay trong thời kỳ
chiến tranh chống Mỹ, nhà nước
Việt Nam cũng đă nêu lên những
khẩu hiệu đánh giá tầm quan trọng
của khoa học, điển h́nh là
"Việt Nam có ba cuộc cách mạng, mà
trong đó cách mạng khoa học kỹ thuật
là then chốt". Tiếc rằng Việt Nam
đă thống nhất hơn 30 năm, nhưng
cho đến nay những thành tích về khoa
học và công nghệ trên phương diện lư
luận, cơ sở và ứng dụng vẫn c̣n
rất khiêm tốn.
Trân
trọng kính chào
TS
Trương Văn Tân (Australia)
|