|
Trong thời đại toàn cầu hoá,
lao động di chuyển từ nước này
sang nước khác đã trở thành hiện tượng
khá phổ biến. Tuy không nhộn nhịp như
tư bản và công nghệ, lao động cũng
là một yếu tố sản xuất ngày càng vượt
biên giới tìm nơi có mức thù lao cao hơn.
Tuy nhiên, khác với sự di chuyển của lao
động trí thức đã có từ trước,
xuất và nhập khẩu lao động giản
đơn (unskilled labor, less-skilled labor) hay lao động
chân tay (blue-collar workers) là hiện tượng tương
đối mới. Vấn đề nầy cũng
phức tạp, không thể chỉ xét ở khía
cạnh thuần kinh tế.Bài nầy bàn về trường
hợp lao động giản đơn nầy. Câu
hỏi đặt ra ở đây là Việt Nam
cần suy nghĩ như thế nào về vấn
đề xuất khẩu lao động ?
Thấy gì từ
những nước xuất và nhập khẩu lao
động ?
Những nước cần nhập
khẩu lao động có hai loại : một là
những nước dân số ít mà giàu tài nguyên
như ở Trung Đông, ở đây thiếu lao
động trong các ngành xây dựng, dịch
vụ, nhất là dịch vụ tại tư gia;
hai là những nước đã phát triển,
kể cả những nước công nghiệp
mới như Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore,
Malaysia. Trong nhóm thứ hai, cơ cấu kinh tế
chuyển dịch nhanh sang những ngành dùng
nhiều tư bản, công nghệ và lao động
trí thức, và chuyển sang nước ngoài (đầu
tư trực tiếp, FDI) những ngành có hàm lượng
lao động giản đơn cao. Tuy nhiên,
tại những nước công nghiệp mới,
những ngành dùng nhiều lao động giản
đơn có quy mô khá lớn nên không thể
chuyển hết ra nước ngoài. Thêm vào đó,
trong những ngành đang phát triển mạnh
tại những nước nầy, nhiều công
đoạn còn dùng lao động giản
đơn nên nhu cầu nhập khẩu lao động
tăng. Tại những nước phát triển
(Tây Âu, Bắc Mỹ, Nhật), nhu cầu lao động
tăng trong ngành xây dựng, ngành dịch vụ
ẩm thực, dịch vụ săn sóc người
cao tuổi, một số nước cần lao
động trong nông nghiệp.
Ở đây cần lưu
ý một điểm là tại các nước
đã phát triển không phải là không còn tồn
tại lao động giản đơn. Vẫn còn
một bộ phận không nhỏ số người
mới ở trình độ giáo dục cưỡng
bách. Tuy nhiên vì tiền lương nói chung đã
tăng cao theo mức sống của xã hội, các
xí nghiệp có khuynh hướng thuê mướn
lao động nước ngoài để giảm
chi phí. Mặt khác, lao động bản xứ có
khuynh hướng tránh những loại công
việc mà môi trường lao động không
tốt, dễ gặp tai nạn, như ở các công
trình xây dựng. Tại Nhật 3 loại công
việc, mà tiếng Nhật gọi là 3K, phải
nhập khẩu lao động nước ngoài vì
không thuê mướn được lao động
bản xứ : nguy hiểm (kiken),
môi trường làm việc không sạch sẽ (kitanai)
và điều kiện lao động khắc
nghiệt (kitsui)
như nóng nảy, ngột ngạt.
Về phía các nước xuất
khẩu lao động, nói chung đây là những
nước kém phát triển, hoặc phát triển
với tốc độ chậm mà lại không
ưu tiên đẩy mạnh các ngành dùng
nhiều lao động. Cho đến nay, những
nước xuất khẩu lao động vừa
nhiều về số lượng vừa có
tỉ lệ cao trong tổng dân số của nước
đó là Lebanon, El Salvador, Columbia, Pakistan và
Phi-li-pin. Riêng Phi-li-pin, hiện nay có khoảng 8
triệu người làm việc ở nước
ngoài, bằng khoảng 10 % dân số nước
nầy. Hằng năm ngoại hối do lao động
xuất khẩu gửi về qua đường
chính thức khoảng 10 tỉ USD, xấp xỉ
10 % GDP.
Nhìn chung có thể thấy một
số đặc điểm cơ bản liên quan
đến lao động xuất khẩu và liên
quan đến những nước xuất
khẩu nhiều lao động :
Thứ nhất, lao động giản
đơn xuất khẩu sang các nước phát
triển nhất là các nước công nghiệp
mới thông thường làm việc trong những
môi trường khó khăn, quyền lợi
của người lao động dễ bị xâm
phạm nếu việc xuất nhập khẩu lao
động không được tổ chức chu
đáo, không có sự cam kết của xí
nghiệp dùng lao động và sự giám sát
của các cơ quan của nước sở
tại.
Thứ hai, vì là lao động
giản đơn, trình độ học vấn,
trình độ văn hoá của người đi
lao động nước ngoài thấp nên khó thích
nghi với điều kiện văn hoá, xã
hội nước ngoài. Không ít
người thất vọng với hoàn cảnh
sống và làm việc ở xứ người, và
có nhiều trường hợp phạm pháp
xảy ra, gây ra hình ảnh xấu cho nước
xuất khẩu lao động. Ngoài ra, cùng
với điểm thứ nhất, lao động
có trình độ văn hoá thấp thường
dễ bị bóc lột tại xứ người.
Thứ ba, nước xuất khẩu
lao động hầu hết là những nước
không thành công trong các chiến lược phát
triển kinh tế. Với trình độ văn
hoá thấp, người dân các nước
nầy không khỏi không lo âu khi rời xứ
sở ra nước ngoài làm việc. Tại Á châu,
ngay cả việc rời nông thôn để ra thành
thị đối với họ cũng không
phải là sự chọn lựa dễ dàng. Thành
ra, nếu trong nước có công ăn việc làm,
ít người muốn tham gia xuất khẩu lao
động.
Thứ tư, cho đến
nay, trong những nước xuất khẩu lao
động chưa thấy nước nào
đưa vấn đề nầy vào trong
chiến lược phát triển kinh tế chung,
trong đó lao động được đưa
đi sẽ bảo đảm rèn luyện
được tay nghề khi trở về,
ngoại hối thu được sẽ được
dùng một cách hiệu quả trong việc du
nhập công nghệ, tư bản, v.v... và có
kế hoạch chấm dứt xuất khẩu lao
động trong tương lai.
Chỉ thấy có truờng hợp (như Malaysia
đã làm 20 năm trước) tích cực
đưa thực tập sinh sang tu nghiệp
ngắn hạn tại các nước tiên tiến
để sau đó về làm việc với năng
suât cao hơn tại các nhà máy hoặc các cơ
sở kinh tế khác, nhằm thực hiện thành
công chiến lược phát triển chung. Nhưng
thực tập sinh khác về chất với
vấn đề xuất khẩu lao động.
Vấn đề
của Việt Nam
Không kể thời kỳ quan hệ kinh
tế mật thiết với các nước Đông
Âu, xuất khẩu lao động của VN tăng
nhanh từ cuối thập niên 1990 và chủ
yếu sang các nước Đông Á, nhất là
Ma-lai-xia, Đài Loan và Hàn Quốc. Gần đây,
thị trường xuất khẩu lao động
mở rộng sang Trung Đông, Tây Âu và Mỹ.
Từ năm 2001, bình quân mỗi năm có 70.000
lao động được đưa đi ra nước
ngoài. Hiện nay có hơn 400.000 lao động VN làm
việc tại 40 nước và lãnh thổ, trong
đó riêng tại Malaysia có hơn 100.000 người, chíếm
độ 10 % tổng số lao động
nhập khẩu của nước nầy.
Báo chí trong nước
đã nói nhiều về tình trạng khó khăn,
nhiều trường hợp rất bi thảm,
của người lao động đang làm
việc ở nước ngoài. Từ những phân
tích ở trên ta cũng hiểu được
điều nầy. Cùng với hiện tượng
ngày càng nhiều phụ nữ Việt Nam kết
hôn với người nước ngoài chỉ vì
mục đích giải quyết khó khăn về
kinh tế, việc xuất khẩu lao động
trở thành vấn đề bức xúc của xã
hội ta, xúc phạm lòng tự trọng của
người Việt Nam. Đặc biệt
xuất khẩu lao động làm cho hình ảnh
của VN trên thế giới không mấy sáng
sủa. Tổn thất nầy có bù đắp
được bằng mấy tỉ đô la
ngoại hối do xuất khẩu lao động
mang lại hàng năm ?
Trong nước
đương bàn về dự thảo Luật
đưa người lao động đi làm
việc ở nước ngoài, dự kiến
Quốc hội sẽ thông qua luật nầy vào
cuối năm 2006. Việc tổ chức hy
vọng sẽ được cải thiện. Tuy
nhiên, trên căn bản, tôi nghĩ
vấn đề xuất khẩu lao động
của Việt Nam cần được giải
quyết theo hướng sau :
Thứ nhất, cần đưa
vấn đề nầy vào trong một tổng
thể của chiến lược phát triển
kinh tế, trong đó điểm mấu chốt là
giải quyết công ăn việc làm cho mọi
người có khả năng lao động.
Việc xây dựng cơ sở hạ tầng,
việc thu hút FDI, việc dùng ngân sách để
yểm trợ các dự án phát triển công
nghiệp phải hướng vào điểm
mấu chốt đó. Việc hoạch định
chính sách theo hướng đó và công bố
rộng rãi chính sách nầy sẽ làm người
dân tin tưởng vào tương lai đất nước,
thấy an tâm là mình sẽ không bị bỏ rơi
trong quá trình phát triển và như vậy
giảm được áp lực tham gia xuất
khẩu lao động..
Thứ hai, đặt kế hoạch
đưa lao động đi thực tập và làm
việc tại các nước phát triển theo
một chương trình chuẩn bị chu đáo
để bảo đảm người lao động
có thể học tập qua công việc và
quyền lợi lao động được
bảo vệ. Những lao động được
chọn đi không nên là lao động quá
giản đơn (unskilled) mà là lao động có
một trình độ học vấn nhất định
(semi-skilled) để dễ thích nghi với điều
kiện văn hoá, xã hội ở nước ngoài
và nhất là để có thể lãnh hội tri
thức mới qua công việc.
Thứ ba, có lẽ trong vài năm trước
mắt chưa thể chấm dứt ngay vấn
đề xuất khẩu lao động, do đó
cần tổ chức tốt để hoạt
động nầy có hiệu quả hơn, tránh
tình trạng lao động bị bóc lột như
trong thời gian qua. Nói cụ thể hơn,
cần thu thập, phân tích thông tin liên quan đến
thị trường lao động, tổ chức
theo dõi, quản lý tại các nước và
phổ biến rộng rãi trong nước để
người dân có đủ cơ sở chọn
lựa tham gia xuất khẩu lao động hay không.
Để kết thúc, tôi muốn
nhấn mạnh lại điểm nầy :
Một nước xuất khẩu nhiều lao
động giản đơn hầu hết,
nếu không nói là tất cả, là những nước
nghèo, và do đó hình ảnh của những nước
nầy không mấy sáng sủa trên vũ đài
thế giới. Có kế hoạch chấm dứt
tình trạng nầy trong một thời gian càng
ngắn càng tốt là trách nhiệm của
những người lãnh đạo đất nước./.
Trần Văn Thọ
Chú : Tư
liệu về xuất khẩu lao động
của VN tham khảo từ Website của Bộ Lao
động, Thương binh và Xã hội (http://
www.molisa.gov.vn)
và Thời
báo kinh tế Việt
Nam 2/6/2005 và 6/2/2006. Tư
liệu
về xuất
nhập khẩu
lao động
trên thế giới
tham khảo từ
nhiều
nguồn tiếng
Nhật và tiếng
Anh, đặc
biệt bài viết
của
Prema-chandra Athukorala, International Labour Mỉgation
in East Asia : trends, pattern and policy issues, Asian-Pacific
Economic Literature, Vol 20 No.1 (May 2006).
®
"Khi phát hành lại bài viết
của trang này cần phải có sự đồng
ý của tác giả
và ghi rõ nguồn lấy từ www.erct.com
Bản mới nhất
ERCT nhận từ tác giả ngày 24/7/2006 và lên mạng ngày
1/8/2006 |
|