|
Trần Văn
Thọ
Tổng luận trong sách Trần Văn Thọ, Hồi ức đến tương lai (NXB Đà Nẵng, Omega+ phát hành, 2025)
pp. 19-32
Xong trung học, vào đại học khoảng nửa năm là tôi rời Việt Nam sang Nhật Bản du học vào mùa hoa anh đào năm 1968. Học xong do thời thế đẩy đưa tôi ở lại Nhật nghiên cứu và giảng dạy nhưng rất may là vẫn gắn bó mật thiết với quê hương, đất nước nơi ḿnh sinh ra và lớn lên. Từ thuở ra đi đến nay đă hơn nửa thế kỷ. Lúc đi mang theo tâm t́nh của một đất nước c̣n nghèo khó trong chiến tranh nên sau đó suốt thời gian dài quan tâm lớn nhất của tôi là làm sao để Việt Nam phát triển, điều kiện để một nước phát triển là ǵ. Hiện nay Việt Nam đă thành một nước thu nhập trung b́nh và có mục tiêu trở thành quốc gia thu nhập cao vào năm 2045. Do đó quan tâm của tôi bây giờ là đi t́m h́nh ảnh lư tưởng của một nước phát triển, làm sao xây dựng một đất nước mà người dân có cuộc sống cao. hạnh phúc và được thể giới nể trọng. Cuốn sách này tập họp những bài viết trên báo trong vài chục năm qua (lần này có cập nhật thông tin và bổ sung) thuộc nhiều đề tài khác nhau nhưng ngẫu nhiên là phần lớn các bài viết có thể phân thành hai nhóm, tương ứng với quan tâm của tôi trong nửa thế kỷ qua (t́m điều kiện phát triển) và quan tâm hiện nay liên quan tầm nh́n về tương lai của Việt Nam (h́nh ảnh lư tưởng của một đất nước phát triển). Nói là ngẫu nhiên nhưng chắc trong tiềm thức luôn ẩn hiện hai vấn đề ấy nên đă thể hiện trong khi chọn đề tài viết cho các báo ở Việt Nam và có kết quả như thế. Ngoài ra có nhiều bài viết về kỷ niệm, về thơ văn, về tiền bối và bạn bè nhưng tất cả đều gói ghém tâm t́nh về quê hương thời chưa phát triển hoặc trên đường phát triển. Hồi ức hành tŕnh nửa thế kỷ: Từ tâm t́nh với quê hương đến nghiên cứu t́m điều kiện phát triển Tôi sinh ra ở nông thôn miền Trung, một trong những vùng nghèo của đất nước. Thời tôi c̣n nhỏ, thập niên 1950 và 1960, cha mẹ, bà con và hàng xóm ai cũng đầu tắt mặt tối, vất vả ngoài đồng ruộng. Mùa đông gió rét mặc không đủ ấm, mùa hè nóng không ngủ được. Qua sách vở tôi cũng thấy những h́nh ảnh đó ở hầu hết các vùng khác của đất nước. Thời nhỏ tôi biết nhiều nhạc khúc ca tụng đồng quê nhưng phần lớn nói lên cuộc sống nghèo khó của người Việt Nam. Đề tài của những ca khúc như Nắng lên xóm nghèo, Quê nghèo, T́nh nghèo, vv.. nói lên t́nh trạng đó. Tôi mong đất nước sẽ phát triển, người dân được sống ấm no, hạnh phúc. Tôi nghĩ mong ước đó cũng thể hiện ḷng yêu quê hương đất nước một cách cụ thể. Thời trung học đọc tiểu thuyết Đoạn Tuyệt của Nhất Linh, qua suy nghĩ của nhân vật Dũng, tôi bắt gặp được định nghĩa về ḷng yêu nước rất phù hợp với mục tiêu phát triển cần có của Việt Nam lúc ấy: “Chiều hôm ấy, Dũng như cảm thấy tâm hồn của đất nước, mà biểu hiện cho đất nước ấy không phải là những bực vua chúa danh nhân, chính là đám dân hèn không tên không tuổi. Dân là nước. Yêu nước chính là yêu chung đám thường dân, nghĩ đến sự đau khổ của đám thường dân”. Đây là định nghĩa về ḷng yêu nước rất hay, rất thiết thực, in sâu vào tâm trí tôi, cho đến bây giờ tôi vẫn nhớ gần như nguyên văn. V́ bối cảnh nầy khi sang Nhật tôi chọn học ngành kinh tế, chuyên ngành kinh tế phát triển và kinh tế quốc tế. Dần dần qua các nguyên lư, các mô h́nh lư luận cơ bản hiểu được các điều kiện sơ đẳng để một nền kinh tế phát triển. Các yếu tố sản xuất như lao động và đất đai, tài nguyên được sử dụng có hiệu suất, phải đầu tư, tích lũy tư bản, áp dụng công nghệ để tăng năng suất lao động. Một nước nông nghiệp muốn phát triển phải công nghiệp hóa mới chuyển lao động dư thừa từ nông sang công nghiệp, điều kiện để năng suất lao động toàn xă hội tăng lên, để sản xuất đa dạng các mặt hàng nâng cao mức sống dân chúng và thay đổi cơ cấu ngoại thương. Để công nghiệp hóa phải có công nghệ, phải tích lũy tư bản qua đầu tư hạ tầng của chính phủ và đầu tư sản xuất của doanh nghiệp. Là nước đi sau, Việt Nam có thể tận dụng vốn và công nghệ nước ngoài để phát triển nhanh. Ngoài ra phải đẩy mạnh giáo dục và đào tạo mới biến lao động nông nghiệp giai đoạn thấp thành lao động công nghiệp và chất lượng lao động phải ngày càng cao mới chuyển dịch cơ cấu công nghiệp lên cao. Mặt khác, thị trường các yếu tố sản xuất như vốn, đất đai, lao động phải phát triển lành mạnh mới phân bổ các nguồn lực ấy đến các ngành, các lănh vực có năng suất cao. Học tập và làm việc tại Nhật, tôi được chứng kiến giai đoạn phát triển thần kỳ của nước nầy và hiện tượng lan tỏa kinh tế từ Nhật sang Hàn Quốc, Đài Loan, rồi đến một số nước ASEAN và Trung Quốc, tạo nên vùng kinh tế năng động Châu Á Thái B́nh dương. Việt Nam nằm giữa vùng năng động nầy nhưng chỉ từ khi có đổi mới chuyển sang thể chế kinh tế thị trường chúng ta mới có điều kiện tham gia vào quá tŕnh phân công quốc tế này. Trong bối cảnh đó tôi xuất bản các cuốn Công nghiệp hóa Việt Nam trong thời đại Châu Á Thái b́nh dương (Nhà xuất bản TP Hồ Chí Minh, 1996) và Biến động kinh tế Đông Á và con đường công nghiệp hóa Việt Nam, (Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia phát hành năm 2005, và Nhà xuất bản Trẻ tái bản năm 2006), đồng thời kiến nghị trong Tổ Tư vấn cải cách kinh tế và hành chánh của Thủ tướng Vơ Văn Kiệt, sau đó là cộng tác trong ban nghiên cứu chính sách của Thủ tướng Phan Văn Khải. Để thúc đẩy giao lưu học thuật và nghiên cứu về kinh nghiệm phát triển của các nước trong vùng, tôi đă vận động thành lập Trung tâm Kinh tế Châu Á Thái B́nh dương Việt Nam (VAPEC) năm 1993 (bắt đầu vận động năm 1989, chỉ vài năm sau khi đổi mới bắt đầu).
Nhưng Việt Nam tiến hành cải cách quá chậm, một số
lănh đạo sợ phát triển chệch hướng, quan chức th́ muốn giữ những
lợi ích từ thể chế cũ. Việt Nam để mất
nhiều thời cơ nên thành quả phát triển bị hạn chế nhiều. Trong khi
các nước
Ở phần trên Thế là tôi suy nghĩ về những điều kiện sâu xa hơn, cơ bản hơn của phát triển, những điều kiện thuộc phạm trù văn hóa, t́nh tự, khát vọng, hoài băo. Nghiên cứu trường hợp Nhật Bản tôi rút ra một khái niệm tổng hợp nhất đó là năng lực xă hội. Năng lực xă hội là năng lực và tố chất của những nhân tố cấu thành xă hội, cụ thể là chính trị gia, quan chức, lănh đạo kinh doanh, trí thức và tầng lớp lao động. Mỗi nhân tố cấu thành phải có những tố chất nào để thúc đẩy kinh tế phát triển. Dĩ nhiên tố chất quan trọng của chính trị gia là năng lực lănh đạo, của quan chức là năng lực quản lư hành chánh, của giới kinh doanh là tinh thần doanh nghiệp. Nhưng trong trường hợp Nhật Bản, không phải chỉ có các tố chất đó. Tôi nghiệm thấy rằng tố chất chung nhất của chính trị gia, của quan chức, của nhà kinh doanh Nhật Bản là ḷng yêu nước, ḷng tự hào dân tộc và phải là những người có văn hóa, có giáo dưỡng. Tố chất nầy biểu hiện rất rơ qua những câu chuyện về lănh đạo chính trị, quan chức, về những nhà kinh doanh tiêu biểu thời Minh Trị hoặc thời phục hưng hậu chiến và khởi đầu giai đoạn phát triển thần kỳ 1955-1973. Hàn Quốc cũng vậy nên đă làm nên kỳ tích phát triển. Lúc bắt đầu kế hoạch phát triển (năm 1962) của một trong những nước nghèo nhất thế giới đến khi trở thành thành viên của tổ chức các nước tiên tiến (1996), Hàn Quốc chỉ mất có 35 năm! Nếu kể từ khi chiến tranh Triều Tiên chấm dứt th́ cũng chỉ có 43 năm. Hàn Quốc thành công v́ hai yếu tố chính.Thứ nhất, ngay từ đầu đă có ngay sự đồng thuận của xă hội về sự cần thiết phải phát triển, phải theo kịp các nước tiên tiến, nhất là theo kịp Nhật (nước láng giềng từng đô hộ ḿnh). Để có sự đồng thuận, năng lực, ư chí và chính sách của lănh đạo chính trị là quan trọng nhất. Dù dưới chế độ độc tài (trước năm 1987), quyết tâm phát triển của lănh đạo chính trị được thể hiện bằng các chiến lược và chính sách do lớp kỹ trị xây dựng, quan chức được tuyển chọn theo năng lực, người tài được trọng dụng. Thứ hai, Hàn Quốc đă thực hiện công nghiệp hóa trên cơ sở của học tập (industrialization on the basis of learning). Học tập nước ngoài và học tập để có điều kiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế lên cao, đưa vị trí đất nước lên cao trên vũ đài thế giới. Quả đúng như vậy nếu ta khảo sát nỗ lực của chính phủ trong giáo dục, đào tạo, trong việc tạo ra cơ chế để đẩy mạnh nghiên cứu khoa học, công nghệ, và nỗ lực của doanh nghiệp trong quá tŕnh học hỏi nước ngoài, sẽ thấy là phi thường. Những điểm chung của Nhật Bản và Hàn Quốc hay những nước đi sau khác thành công trong quá tŕnh công nghiệp hoá đều có những đặc điểm như sau: Một là, lấy chủ nghĩa dân tộc để xác định vị trí của ḿnh trên thế giới, để đề ra chiến lược có lợi nhất cho đất nước ḿnh và để động viên toàn dân hướng vào chiến lược đuổi kịp các nước đi trước. Hai là, đề cao chủ nghĩa phát triển (developmentalism), xem việc phát triển kinh tế là mục tiêu tối thượng, là con đường duy nhất để đưa đất nước thoát khỏi những nguy cơ trước mắt và lâu dài. Từ nhận thức đó, các chiến lược, chính sách, biện pháp về chính trị, xă hội, và kinh tế đều tập trung vào việc phát triển. Trong quá tŕnh đó, tầng lớp lănh đạo phải là những người yêu nước thực sự, có năng lực lănh đạo, thanh liêm, được đông đảo các tầng lớp nhân dân tin tưởng. Ba là, tầng lớp trí thức, kỹ trị (technocrats) có năng lực trong việc đề ra các chiến lược phát triển, các biện pháp thực hiện chiến lược phát triển được trọng dụng, được trao quyền hạn và trách nhiệm cao, được tôn vinh trong xă hội. Chính sách trọng dụng nhân tài ở đây loại trừ tất cả các quan hệ họ hàng, huyết thống, bản vị địa phương và giai tầng xuất thân trong xă hội. Với suy nghĩ về yếu tố cốt lơi nhất của phát triển, khi bàn chuyện Việt Nam tôi cũng thường nối kết lịch sử, văn hóa với phát triển. Chẳng hạn, trong bài viết vào buổi chuyển giao giữa hai thiên niên kỷ, tôi tổng kết thiên niên kỷ trước là thời đại giữ nước, biểu hiện bằng khí thế Quang Trung qua câu nói nổi tiếng “đả cho sử tri nam quốc anh hùng chi hữu chủ”. Trong thiên niên kỷ mới, bắt đầu thế kỷ 21 là thời đại phát triển và tôi đề khởi một khẩu hiệu mới để đối lại với câu nói của Quang Trung: Phát triển cho thế giới biết người Việt Nam là dân tộc có trí tuệ. Từ đầu năm 1994, Việt Nam nhấn mạnh nguy cơ tụt hậu, xem đây là nguy cơ lớn nhất trong tất cả các nguy cơ. Ở đây hàm chứa ư thức dân tộc và chiến lược ưu tiên phát triển. Đây là một ư thức, một chiến lược đúng đắn. Bước vào thiên niên kỷ mới, ta có thể dấy lên một phong trào mới trong dân chúng nhằm vào mục tiêu phát triển đất nước, rút ngắn khoảng cách kinh tế với các nước chung quanh. Đoạn kết trong bài viết chuyển giao thiên niên kỷ nói trên là: Năm 1010, Lư Thái Tổ trong giấc mơ đă thấy rồng bay. Ta phải làm sao để khi kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long (2010), cả dân tộc sẽ thực sự thấy ḿnh sắp hoá rồng trong phát triển kinh tế. Muốn vậy ta sớm tạo ra một khí thế Quang Trung nước lũ tràn[1] trong thời đại mới, chúng ta phải thành công thời đại công nghiệp hoá, phải phát triển cho thế giới biết người Việt Nam là dân tộc có trí tuệ. Trong thời đại chống ngoại xâm Việt Nam có rất nhiều anh hùng nhưng trong thời đại phát triển rất tiếc ta chưa thấy xuất hiện hoặc chưa phát hiện. Tôi đă viết nhiều bài về trường hợp của Nhật Bản. Đoạn cuối trong bài viết về anh hùng trong thơi đại phát triển, tôi có giấc mơ về anh hùng của Việt Nam thời đại mới như sau: Các anh hùng dân tộc thời nhà Trần đă lập nên những chiến công hiển hách, đuổi được quân Nguyên ra khỏi bờ cơi làm nức ḷng người. Hai câu thơ của Trần Nhân Tông đă phản ảnh không khí hồ hỡi kéo dài nhiều năm tháng đó: Người lính già đầu bạc/Kể măi chuyện Nguyên phong. Mong rằng hai, ba mươi năm nữa, những quan chức, những vị lănh đạo đầu đă bạc ngồi ở quán cà phê bên Hồ Hoàn Kiếm tṛ chuyện măi về những ngày mà thời trung niên của họ đă hết ḷng v́ nước, v́ dân nên Việt Nam đă vượt qua bẫy của nước thu nhập trung b́nh, chen chân được vào hàng ngũ những nước giàu mạnh trên thế giới. Hướng về tương lai: Xây dựng h́nh tượng lư tưởng về một đất nước phát triển Sau đổi mới, kinh tế Việt Nam phát triển trung b́nh 6,5% mỗi năm, đă đạt mức thu nhập trung b́nh thấp năm 2008 và hiện nay đang tiến đến mức thu nhập trung b́nh cao. Năm 2023 tổng thu nhập b́nh quân đầu người của Việt Nam là 4.316 USD, sắp đạt ngưỡng trung b́nh cao trong vài năm tới. Tại Đại hội toàn quốc lần thứ 13 (tháng 1/2021), Đảng Cộng sản Việt Nam đă quyết định mục tiêu đưa Việt Nam thành nước tiên tiến phát triển thu nhập cao vào năm 2045. Để tránh bẫy thu nhập trung b́nh và đạt mục tiêu thành nước tiên tiến thu nhập cao năm 2045, Việt Nam cần tăng trưởng b́nh quân trên 6% trong 20 năm tới. Chính sách cụ thể liên quan tăng năng suất lao động qua việc đẩy mạnh đầu tư theo hướng thâm sâu công nghiệp (cải thiện cơ cấu lắp ráp gia công hiện nay) và nhấn mạnh các ngành dịch vụ chất lượng cao kết hợp với đổi mới sáng tạo. Hiện nay tuyệt đại đa số doanh nghiệp hoặc đơn vị sản xuất kinh doanh c̣n rất nhỏ bé, không thể có khả năng đổi mới sáng tạo hoặc đầu tư có hiệu quả. Do đó cần tăng cường cải cách để biến phần lớn những cơ sở, đơn vị sản xuất kinh doanh cá thể thành những doanh nghiệp có tổ chức. Mặt khác nuôi dưỡng hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa để họ có khả năng liên kết với doanh nghiệp có vốn nước ngoài (FDI), và tham gia tích cực hơn vào các chuỗi cung ứng của doanh nghiệp đa quốc gia. Nỗ lực cải cách doanh nghiệp là để tăng nội lực, tăng năng suất lao động và tạo điều kiện để nền kinh tế nói chung ít phụ thuộc vào FDI như hiện nay. Mấy điểm vừa phân tích mới chỉ xét về mặt định lượng. Những mặt về chất cần phải thay đổi hoặc xây dựng để Việt Nam thành một quốc gia tiên tiến đúng nghĩa. Có hai nhóm vấn đề. Nhóm thứ nhất là những vấn đề đă tồn tại từ lâu nhưng chưa giải quyết. Một là, bộ máy công quyền và t́nh trạng giáo dục như hiện nay rất xa lạ với một nước trên đường tiến tới một quốc gia tiên tiến. Thu nhập ngoài lương của công chức, quan chức c̣n rất lớn gây tệ nạn tham nhũng và làm cho bộ máy kém hiệu quả. Lương của thầy cô giáo ở các bậc tiểu học và trung học cũng cần phải cải thiện để tránh t́nh trạng dạy thêm, học thêm miễn cưỡng và các tệ nạn khác ở học đường. Cần phải chấm dứt t́nh trạng công chức (kể cả thầy cô giáo) phải sống bằng thu nhập ngoài lương mà hậu quả là bộ máy quản lư kém hiệu suất và đạo đức học đường, đạo đức xă hội xuống cấp. Nhà nước phải đặt ra lộ tŕnh sớm giải quyết vấn đề này. Chẳng hạn trong 5-6 năm tới, cải cách hệ thống thuế (thuế bất động sản, thuế thừa kế, v.v..) để tăng nguồn thu, thắt chặt quản lư để tránh thất thoát trong đầu tư công, cắt giảm hoặc tŕ hoăn những hạng mục đầu tư, chi tiêu chưa cần thiết, v.v. Cần có một ủy ban cấp nhà nước nghiên cứu thực trạng chi thu ngân sách trung ương và địa phương, nghiên cứu hệ thống thuế và đề ra lộ tŕnh tăng lương cho công nhân viên kể cả giáo viên. Hai là, chất lượng của kinh tế thị trường cần được cải thiện sớm. Thị trường là h́nh thái tổ chức nơi đó người sản xuất và người tiêu dùng gặp nhau trao đổi hàng hóa và dịch vụ. Đặc tính cơ bản của thị trường là cạnh tranh và tự do tham gia. Trên cơ sở tự do mua bán, thị trường mang lại lợi ích cho cả hai bên. Thị trường bền vững đ̣i hỏi sự thành thật, trung thực, sự tin cậy giữa những người tham gia thị trường. Hiện nay ở Việt Nam nhiều người hiểu sai về kinh tế thị trường. Nhiều người không hiểu rằng sự giao dịch, trao đổi trong kinh tế thị trường chỉ bền vững khi chất lượng của thị trường được đảm bảo. Chất lượng của thị trường lại liên quan đến đạo đức, đến sự tin cậy giữa những người tham gia thị trường. Đạo đức xă hội bị xói ṃn th́ không thể có một thể chế thị trường bền vững. Thị trường có chất lượng cao là nơi có nhiều người có năng lực làm ra của cải nhưng đồng thời có tấm ḷng vị tha. Đó là điều kiện để có hiệu suất và công bằng trong kinh tế thị trường. Nền tảng văn hóa, đạo đức là cơ sở để kinh tế thị trường phát triển lành mạnh, bền vững, để xây dựng một xă hội hài ḥa, nhân ái. Nhóm vấn đề thứ hai liên quan đến h́nh ảnh lư tưởng của một đất nước mà người dân được sống hạnh phúc, thế giới nể trọng, những mặt về chất của một đất nước mà không phải nước tiên tiến nào cũng đă đạt được. Có thể tóm tắt mấy điểm sau: Thứ nhất, tăng sức mạnh mềm (soft power) của quốc gia. Cho đến nay sức mạnh về kinh tế và quân sự thường ảnh hưởng đến nước khác qua các quan hệ quốc tế về chính trị, quân sự, kinh tế. Có thể gọi đó là sức mạnh cứng (hard power). C̣n một nguồn sức mạnh khác cũng có thể làm nâng cao địa vị quốc tế của một nước, đó là sức mạnh mềm, là sức mạnh văn hoá, uy tín quốc tế, sự lôi cuốn, hấp dẫn của một quốc gia, một dân tộc đối với thế giới. Về lâu dài, Việt Nam có thể tăng sức mạnh mềm qua các sản phẩm văn hoá như phim ảnh, thơ văn, ca nhạc, v.v… hoặc qua hoạt động thể thao, ngoại giao,... trên vũ đài thế giới. Lănh vực kinh tế thường được nói đến trong sức mạnh cứng, nhưng nếu tăng hàm lượng văn hoá của chính sách, chiến lược phát triển và đạt được chất lượng cao của thành quả phát triển th́ sức mạnh mềm cũng phát sinh. Việt Nam có thể lôi cuốn sự quan tâm của thế giới, hấp dẫn khách du lịch nước ngoài đến thăm chơi, hấp dẫn người nước ngoài đến kinh doanh, tạo ra sự khâm phục, đồng t́nh của dư luận quốc tế bằng chiến lược chú trọng chất lượng phát triển, thực hiện phát triển trong sự hài hoà với thiên nhiên và xă hội, và có thái độ tự trọng, tự lập song song với việc tiếp thu thành quả phát triển nước ngoài. Tôi có viết một bài về vấn đề này và có in lại trong sách. Một vài điểm cần được nhấn mạnh lại ở đây. Một là, song song với phát triển nếu ưu tiên tạo môi trường sống hài hoà, thân thiện với thiên nhiên và tử tế, ưu ái với con người th́ không những chất lượng cuộc sống của người dân Việt Nam tăng lên mà c̣n hấp dẫn người nước ngoài đến nhiều hơn. Đặc biệt ở đô thị cần bảo đảm tối đa về cả hai mặt an ninh xă hội và an toàn giao thông, và được thoả măn trong môi trường xă hội lành mạnh, có văn hoá. Hai là, Việt Nam c̣n phải vay mượn và nhận viện trợ (ODA) trong thời gian trước mắt, một thái độ tự trọng và có trách nhiệm trong việc dùng ODA là rất cần thiết. Mọi người Việt Nam, nhất là các quan chức nhà nước, cần ư thức rằng vay mượn và nhận viện trợ là để phát triển nhanh hơn và để không c̣n phải nhận ODA nữa trong một tương lai không xa. Thái độ tự trọng và có trách nhiệm được thể hiện trong việc quản lư vốn ODA, trong việc bài trừ tham nhũng và tránh lăng phí. Tham nhũng và lăng phí, kể cả những vụ không liên quan trực tiếp đến vốn ODA, cũng nằm trong phạm trù tự trọng đối với nước ngoài trong việc vay mượn và nhận viện trợ. Ba là, Việt Nam đang trong quá tŕnh rút ngắn khoảng cách phát triển với các nước đi trước, đang trong nỗ lực xoá bỏ hẳn nghèo nàn lạc hậu và tiến lên một nước công nghiệp hiện đại. Trên thế giới hiện nay thật ra c̣n có hơn một trăm quốc gia cũng đang hoặc sẽ bắt đầu một quá tŕnh tương tự như ta, trong đó không ít quốc gia đang ṃ mẫm t́m mô h́nh tối ưu để phát triển trong thời đại này. Nếu Việt Nam thực hiện thành công mô h́nh kết hợp hiệu quả nội lực và ngoại lực, và phát triển trong sự hài hoà với thiên nhiên và xă hội, tự nó sẽ trở thành một tài sản quư giá của thế giới mà nhiều nước sẽ tham khảo. Sức mạnh mềm như phân tích ở trên vừa có tác dụng nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân vừa lôi cuốn được sự mến mộ của thế giới. Song song với đầu tư cho phát triển kinh tế, cần chú trọng đầu tư nhiều hơn cho vốn văn hoá, vốn xă hội là con đường vừa tăng sức mạnh cứng vừa tăng sức mạnh mềm của Việt Nam. Thứ hai, cần làm cho thành quả phát triển mang lại hạnh phúc cho tuyệt đại đa số dân chúng. Nh́n chung kinh tế càng phát triển con người càng được hạnh phúc v́ thỏa măn được các nhu cầu trong cuộc sống. Tuy nhiên cần thêm hai điều kiện. Đó là môi trường và t́nh h́nh phân phối thu nhập. Ô nhiễm môi trường, ách tắc giao thông, v.v… làm giảm chất lượng cuộc sống. Phân phối thu nhập quá bất b́nh đẳng làm cho tầng lớp thu nhập thấp chẳng những chậm được cải thiện mà c̣n cảm thấy bất măn khi thấy xă hội bất công, không tạo cơ hội b́nh đẳng cho mọi thành phần. Kinh tế tăng trưởng nhưng một thành phần xã hội không có cơ hội tham gia quá trình phát triển, vẫn luẩn quẩn trong nghèo khó, còn là mầm mống gây bất ổn xã hội. Trong một xã hội như vậy, người có thu nhập cao chưa hẵn được hạnh phúc. Hiện nay ngay cả ở những nước tiên tiến vẫn c̣n một bộ phận dân chúng sống trong t́nh trạng cực nghèo (extreme poverty). Theo Ngân hàng thế giới, số người đó chiếm khoảng 1% tổng số người cực nghèo của thế giới (người cực nghèo ở những nước c̣n nghèo th́ chiếm 37%). Vốn xă hội (social capital) cũng là yếu tố quyết định mức độ hạnh phúc của người trong cộng đồng. Con người cảm thấy hạnh phúc khi ḿnh được cộng đồng tin tưởng, nể trọng và khi chính ḿnh cũng thường thấy tin tưởng, nể trọng, quư mến người khác trong cộng đồng. Nhiều người nếu không nói là tất cả sẽ thấy hạnh phúc khi trong cộng đồng ai cũng hành xử với thái độ tự trọng, đầy đủ trách nhiệm và năng lực được mọi người cho là xứng đáng với công việc và vị trí đang có. Những biểu hiện khác như ganh ghét, chèn ép, “xin-cho”, tham nhũng, v.v.. dĩ nhiên cũng làm cho nhiều người trong cộng đồng mất hạnh phúc. Để tăng vốn xă hội trong trường hợp nầy, một mặt, qua sách báo, qua các phương tiện truyền thông đại chúng cần làm cho mọi người hiểu rằng kinh tế thị trường rất cần đạo đức, cần sự tin tưởng, tin cậy lẫn nhau; mặt khác cần luôn đề cao lối sống văn hóa, đạo đức. Trong dài hạn, phải chú trọng giáo dục văn hóa, đạo đức ở học đường để giới trẻ khi lớn lên trở thành người hành sử có trách nhiệm và tự trọng. Tự do cũng là một yếu tố để có hạnh phúc. Tự do ở đây là tự do chọn lựa của cá nhân và bao gồm phạm vi rất rộng, từ kinh tế đến xă hội, chính trị. GDP tăng và phân phối b́nh đẳng, chế độ giáo dục và y tế cộng đồng phổ cập sẽ làm tăng tự do kinh tế, giúp con người thoát khỏi nghèo túng, bệnh tật và kém hiểu biết. Các quyền công dân như quyền về ngôn luận, thảo luận công khai, lập hội, tham chính, tín ngưỡng v.v.. là thuộc phạm trù tự do về chính trị. Một đất nước nếu con người được bảo đảm an ninh cá nhân và các quyền tự do chính trị, tự do hành động trong khuôn khổ pháp luật th́ hạnh phúc của họ tăng theo. Pháp luật cũng cần được hoàn thiện không ngừng theo hướng tăng tự do cho con người. Mục tiêu phát triển của Việt Nam hiện nay là “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Đây là một khẩu hiệu hay v́ bao gồm hầu hết các tiêu chí phát triển nói trên. Nhưng cho đến nay hầu như 3 vế sau ít được chú ư và 2 vế trước cũng đang còn là mục tiêu phải nhắm tới. Trong gần 40 năm đổi mới, Việt Nam trên căn bản đã thoát nghèo và tiến gần vị trí một nước có thu nhập trung bình cao. Nhưng đối với một bộ phận khá lớn dân chúng, nhất là người dân ở nông thôn và vùng núi, tự do kinh tế vẫn còn ở xa ngoài tầm tay khi không có đủ những điều kiện để bảo đảm cuộc sống tối thiểu về ăn, mặc, ở, y tế, giáo dục. Nhiều người phải bất đắt dĩ ra nước ngoài lao động hoặc lập gia đình trong điều kiện về vật chất và tinh thần hoàn toàn không đem lại hạnh phúc cho họ. Người có trách nhiệm với đất nước phải luôn bức xúc về vấn đề nầy. Yêu nước ngày nay là yêu những người còn khó khăn trong cuộc sống, và mục tiêu phát triển lớn nhất trước mắt là đem lại hạnh phúc cho những người đó. Thứ ba, giữ vững độc lập tự chủ về kinh tế. Độc lập tự chủ về kinh tế là làm sao để tránh được các cú sốc từ sự thay đổi đột ngột trên thị trường thế giới, làm sao để kinh tế không phụ thuộc nhiều vào một nước lớn qua các kênh nhập, xuất khẩu, vay nợ, đầu tư,… v́ phụ thuộc kinh tế trong trường hợp này có thể ảnh hưởng đến an ninh quốc gia. Đặc biệt Việt Nam nằm cạnh một nước rất lớn và đă qua một qúa tŕnh phát triển mạnh mẽ. Hiện nay (2023), dân số Trung Quốc đông gấp 14 lần Việt Nam, GDP lớn gấp 41 lần và tiềm lực về công nghệ, giáo dục, và quốc pḥng nằm ở vị trí siêu cường. Với sự chênh lệch lớn đó và với sự gần gũi về văn hóa, địa lư, Việt Nam dễ bị ảnh hưởng từ Trung Quốc. Chỉ xét mặt thông thường trong quan hệ kinh tê, nếu Việt Nam phụ thuộc nhiều vào Trung Quốc (qua đầu tư, mậu dịch, ...) th́ khi kinh tế Trung Quốc có biến động, có sốc, sẽ làm kinh tế Việt Nam bất ổn. Việc vay vốn nhiều từ Trung Quốc cũng có thể gây ảnh hưởng về chính trị. Nói chung, Việt Nam cần phát huy tinh thần dân tộc trong phát triển kinh tế, xây dựng một nước Việt Nam vừa phát triển theo chất lượng nói trên vừa giữ độc lập, tự chủ với nước láng giềng to lớn là con đường bền vững lâu dài và được thế giới nể trọng. Vào đầu thế kỷ 15, sau khi thắng quân Minh, giành lại chủ quyền cho đất nước, trong B́nh Ngô Đại Cáo, Nguyễn Trăi nhấn mạnh thực thể độc lập, hiên ngang của nước Đại Việt, một đất nước đă sánh vai được với cường quốc phương Bắc:Trải Triệu, Đinh, Lư, Trần nối đời dựng nước/ Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên đều chủ một phương...Trong thời đại ngày nay, về phương diện phát triển kinh tế, khí phách Nguyễn Trăi được thể hiện ở quan hệ đối đẳng giữa hai nước Việt Trung. Cuốn sách này gói ghém tâm t́nh và suy ngẫm, phân tích của tác giả trong hồi ức về nửa thé kỷ qua và hướng về tương lai Việt Nam hai thập niên tới./.
[1] Ư trong một bài thơ về khí thế của đoàn quân do Quang Trung chỉ huy tiến đánh đồn Hạ Hồi và Ngọc Hồi của quân Thanh: “Băng băng đuốc lửa rừng gươm giáo / Khí thế quân Nam nước lũ tràn”, ...)
|