|
Thế giới quanh ta và cơ hội mới của Việt Nam
Trần Văn
Thọ Địa kinh tế thế giới tiếp tục biến động. Mỹ và Trung Quốc cố gắng duy tŕ đối thoại cấp cao để tránh xung đột quân sự nhưng trên mặt trận kinh tế t́nh h́nh vẫn quyết liệt như trước. Mặt khác, tính chất của chiến tranh kinh tế nầy với những triển khai mới lại là cơ hội cho Việt Nam. Việt Nam cần chuẩn bị các tiền đề tốt để tận dung thời cơ, đưa kinh tế vào giai đoạn phát triển mới. Thế giới quanh ta: Chuyển động địa kinh tế hướng về ASEAN Mỹ, Nhật và nhiều nước khác bắt đầu cảnh giác Trung Quốc từ giữa thập niên 2010, nhất là từ khi Tập Cận B́nh trở thành lănh đạo tối cao với tham vọng thực hiện giấc mơ Trung Hoa đưa Trung Quốc trở lại thời hoàng kim. Lúc nầy Trung Quốc cũng từ bỏ phương châm “thao quang dưỡng hối” (che dấu sức lực của ḿnh và âm thầm củng cố thế lực) có từ thời Đặng Tiểu B́nh và không dấu tham vọng chi phối kinh tế chính trị thế giới. Một công cụ nổi tiếng là tiến hành Sáng kiến Một Vành đai Một Con đường (BRI). Đây là sáng kiến nối Trung Quốc với Á châu và Âu châu, gồm một Vành đai (One Belt) xuyên lục địa từ Trung Quốc qua vùng Trung Á đến Âu châu, và một Con đường (One Road) từ Trung Quốc xuyên qua Biển Đông và Ấn Độ dương đến châu Âu. Mục đích của BRI được đề ra là chia sẻ thành quả phát triển với các nước liên quan qua hợp tác xây dựng cơ sở hạ tầng. Trung Quốc hy vọng qua sáng kiến này sẽ gây ảnh hưởng hoặc tạo quan hệ thân thiện với các nước tham gia BRI. Nhưng BRI có vẻ không đạt mục tiêu như Trung Quốc mong muốn. Do chủ quan và tham vọng của Trung Quốc muốn áp đặt và chi phối những nước cần vay vốn của họ để xây hạ tầng, nhiều nước bắt đầu cảnh giác. Những nước tham gia BRI tích cực th́ mắc vào bẫy nợ như Sri Lanka, hoặc có nguy cơ phụ thuộc sâu vào Trung Quốc như Cambodia. Trong t́nh h́nh đó, ngày 21/9/2021 Trung Quốc phát biểu Sáng kiến Phát triển Toàn cầu (Global Development Initiative, GDI), đưa ra phương châm mới về hợp tác quốc tế. Sáng kiến nầy giống Mục tiêu Phát triển Bền vững (SDG) của Liên Hiệp Quốc đưa ra năm 2015 với mục tiêu đến năm 2030 đạt được 17 chỉ tiêu phát triển bao gồm xóa đói, xóa nghèo, phổ cập giáo dục, bảo vệ môi trường, v.v.. Trung Quốc muốn đi đầu với các biện pháp cụ thể trong việc thực hiện các mục tiêu ấy. Cùng với phương châm mới này, để đối phó với những phê phán của thế giới liên quan BRI, tại Diễn đàn Cấp cao Hợp tác Quốc tế BRI lần thứ ba tổ chức tại Bắc Kinh (17-18/10/2023, trong bài phát biểu khai mạc, Chủ tịch Tập Cận B́nh chủ trương sẽ ưu tiên chất lượng dự án và tăng tính tự chủ của các nước tham gia. Về phía Mỹ, trước sự trỗi dậy và tham vọng của Trung Quốc, từ năm 2018, tổng thống Trump bắt đầu có chính sách đối đầu kinh tế, trước tiên là áp thuế quan cao lên hàng nhập từ Trung Quốc, khởi đầu thời đại gây đứt găy (decoupling) các chuỗi cung ứng toàn cầu. Không dừng ở mậu dịch, tháng 5/2020 Mỹ phát biểu chiến lược mới trong đó chủ trương quan hệ Mỹ Trung là Cạnh tranh giữa các nước lớn (Great Power Competition), bao gồm hầu hết các mặt từ kỹ thuật, công nghệ đến sức cạnh tranh quân sự và các ngành công nghiệp chiến lược. Các đạo luật về an ninh kinh tế, về xây dựng các ngành công nghiệp mũi nhọn, về hạn chế đầu tư từ Trung Quốc, v.v.. lần lượt ra đời. Sang năm 2021, dưới thời tổng thống Biden, chiến lược cạnh tranh với Trung Quốc được tiếp tục và đẩy lên một thứ nguyên cao hơn. Đó là xác lập chiến lược hợp tác với các đồng minh hoặc với các nước họ muốn gây thân thiện, đặc biệt là vùng Ấn Độ Thái B́nh dương. Chỉ riêng về kinh tế, Mỹ kêu gọi thành lập Khung hợp tác v́ thịnh vượng của khu vực Ấn Độ Thái B́nh dương (IPEF) với 14 nước tham gia (tháng 5/2022). Ngoài ra để ổn định và tăng cường chuỗi cung ứng của những ngành chiến lược như chip bán dẫn và các sản phẩm điện tử cao cấp, Mỹ nỗ lực thiết lập quan hệ với những quốc gia có quan hệ tốt với họ để xây dựng chuỗi cung ứng giữa những nước thân thiện (friendshoring). Phía Trung Quốc cũng ra sức củng cố vị trí của ḿnh tại vùng Ấn Độ Thái B́nh dương. Một mặt tích cực cùng với ASEAN đẩy mạnh việc thành lập Đối tác toàn diện kinh tế khu vực (RCEP) và thúc đẩy các dự án trong khuôn khổ BRI tại Lào, Cambodia và Indonesia. Ngoài ra, trước t́nh h́nh đối đầu ngày càng mạnh của Mỹ và đồng minh, Trung Quốc cũng quan tâm hơn đến vấn đề an ninh kinh tế. Tháng 9/2021 ban hành Luật Dữ liệu nhằm kiểm soát chặt chẽ hạn chế dữ liệu chuyển ra nước ngoài. Tháng 7/2023 Trung Quốc ban hành Luật sửa đổi pḥng chống gián điệp trong đó mở rộng phạm vi đinh nghĩa “gián điệp” để kiểm soát nghiêm ngặt hơn hoạt động của người ngoài làm việc hoặc lưu trú tại Trung Quốc. Chuyển động địa kinh tế gần đây có hai hàm ư. Một là tiếp tục làm đứt găy các chuỗi cung ứng. Trung Quốc đă trở thành công xưởng của thế giới. Tính trung b́nh Trung Quốc chiếm trên 20% sản lượng công nghiệp toàn cầu nhưng trong nhiều lănh vực như đồ điện gia dụng, computer, thép, v.v.. thị phần của Trung Quốc lên tới trên 50%. Mặt khác, Mỹ là thị trường lớn nhất, nhập khẩu năm 2022 lên tới 3.376 tỉ USD, chiếm gần 15% thị trường thế giới. Sản xuất và tiêu thụ của hai nền kinh tế lớn nhất thế giới liên kết hữu cơ với rất nhiều nước khác. Chiến tranh kinh tế Mỹ Trung do đó ảnh hưởng mạnh đến nhiều nước, làm đứt găy chuỗi cung ứng toàn cầu. Một hệ quả là một bộ phận sản lượng công nghiệp, một phần của chuỗi cung ứng phải chuyển từ Trung Quốc sang các nước khác để tránh rủi ro. Hàm ư thứ hai là các ḍng thác dịch chuyển công nghiệp hướng vào ASEAN và Ấn Độ, những nền kinh tế có tiềm năng nhất tại vùng Ấn Độ-Thái B́nh dương, nơi đang diễn ra tranh chấp giữa hai siêu cường. So với ASEAN, Ấn Độ có dân số áp đảo hứa hẹn một thị trường to lớn trong tương lai xa nhưng trong trung hạn thị trường ASEAN lớn hơn (năm 2022 GDP của ASEAN là 3.626 tỷ USD, so với 3.390 tỷ của Ấn Độ). Hơn nữa, ASEAN có hai lợi thế. Một là ở gần Trung Quốc nên việc chuyển dịch cơ sở sản xuất giữa hai nơi thực hiện thuận lợi. Hai là ASEAN tham gia nhiều tổ chức thương mại khu vực, tiếp cận được thị trường rộng lớn hơn Ấn Độ. Trong các tổ chức hợp tác thương mại tóm tắt ở Biểu 1, Ấn Độ chỉ tham gia IPEF trong khi cả 10 nước ASEAN tham gia RCEP, 7 nước tham gia IPEF và 4 nước tham gia CPTPP.
Tóm lại, chuyển động địa kinh tế hiện nay có khuynh hướng nhắm vào ASEAN, tạo thuận lợi cho khu vực này phát triển hơn nữa. Cơ hội mới của Việt Nam Về cả hai thuận lợi của ASEAN so với Ấn Độ nói trên th́ Việt Nam có ưu thế nhất trong các nước ASEAN. Yếu tố địa lư đă rơ. Về thuận lợi thứ hai, trong ASEAN chỉ có Việt Nam và ba nước khác là Singapore, Malaysia và Brunei tham gia cả ba tổ chức RCEP, IPEF và CPTPP. Ngoài ra Việt Nam cũng đă kư hiệp định thương mại tự do (FTA) với EU năm 2019. Có lẽ trong các nước đang phát triển, Việt Nam là nước kư nhiều FTA (song phương và đa phương) nhất và đây là thế mạnh, dễ thu hút FDI, dễ tham gia vào các chuỗi cung ứng toàn cầu. Như Biểu 2 cho thấy, qui mô các tổ chức tự do thương mại hay hợp hợp tác kinh tế càng lớn càng trở thành thị trường xuất khẩu lớn của Việt Nam.
Ngoài ra, uy tín ngày càng tăng trên thế giới và quan hệ ngoại giao đa phương cũng làm cho Việt Nam trở thành địa điểm đầu tư tin cậy. Trong hai năm nay, Việt Nam nâng quan hệ ngoại giao lên cấp cao nhất (đối tác chiến lược toàn diện) với Hàn Quốc, Mỹ và Nhật là ba nước chủ yếu trên thị trường thế giới và là những đối tác kinh tế quan trọng của Việt Nam. Chuyến thăm của tổng thống Mỹ Biden vào tháng 9/2023 có ư nghĩa đặc biệt. Một là Mỹ công nhận chế độ chính trị của ta khi nhận lời mời của người đứng đầu Đảng Cộng sản Việt Nam. Hai là Mỹ muốn chọn Việt Nam làm một trong những nơi tham gia chuỗi cung ứng chip bán dẫn, một sản phẩm chiến lược mà họ đang chú trọng phát triển. Những ưu thế, thuận lợi của Việt Nam trên thực tế đă phản ảnh trên những dự án FDI ở Việt Nam gần đây cũng như trên kết quả điều tra về ư hướng, dự định của doanh nghiệp nước ngoài liên quan địa điểm họ muốn đầu tư trong tương lai. Về các dự án FDI gần đây, LG Innotek của Hàn Quốc đầu tư 1 tỉ USD sản xuất linh kiện điện thoại thông minh ở Hải Pḥng. Công ty SMC của Nhật đầu tư 120 triệu USD ở Đồng Nai để sản xuất máy chế ngự tự động. Apple chuyển nhiều cơ sở sản xuất từ Trung Quốc sang Việt Nam đă thúc đẩy nhiều công ty cung ứng trong dây chuyển sản xuất của họ sang Việt Nam đầu tư. Công ty con của Foxconn ở Singapore đầu tư 200 triệu USD sản xuất điện tử linh kiện ở Quảng Ninh. Một công ty con khác của Foxconn ở Đài Loan đầu tư 621 triệu USD sản xuất hàng điện tử ở Bắc Giang. Công ty BYD của Trung Quốc đầu tư 140 triệu sản xuất pin ở Phú Thọ, v.v.. Tổ chúc xúc tiến mậu dịch Nhật Bản (JETRO) vào tháng 8 và 9/2023 đă thực hiện cuộc điều tra đối với 1.230 doanh nghiệp Nhật Bản đang hoạt động trên thế giới. Kết quả cho thấy những nước được họ chú trọng sẽ đầu tư theo thứ tự ưu tiên là Mỹ, Việt Nam, Trung Quốc, EU, Thái Lan, Indonesia và Ấn Độ. Đáng chú ư là Việt Nam xếp thứ hai, đứng trên cả những nước lớn như Trung Quốc, Indonesia và Ấn Độ. V́ là thị trường quá lớn, Trung Quốc trước đây luôn dẫn đầu trong các cuộc điều tra nhưng do rủi do địa chính trị kinh tế bây giờ đă tụt hạng. Thời cơ đang đến với Việt Nam. Nhưng Việt Nam cần chuẩn bị các điều kiện để tận dụng tốt cơ hội này. Theo tôi, cần cải thiện và chuẩn bị tốt các lănh vực sau. Thứ nhất, khẩn trương cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao. Đặc biệt kỹ sư cơ khí, điện tử có khả năng sử dụng tiếng Anh và công nghệ thông tin đang rất khan hiếm. Được biết lương của những kỹ sư như vậy tại Việt Nam hiện nay cao hơn cả ở Nhật Bản. Các đại học và nhà nước cần quan tâm tập trung đào tạo lănh vực nầy. Điểm nầy không được cải thiện sớm th́ không thể có nhiều dự án FDI chất lượng cao. Thứ hai, cần tập trung cải thiện hạ tầng. Ở phía Bắc đang thiếu điện trầm trọng. Ở phía Nam, nhất là tại TPHCM và vùng phụ cận, các khu công nghiệp đă lấp đầy nên giá thuê đất rất cao. Những điểm nghẽn nầy nếu không sớm khai thông th́ sẽ cản trở ḍng thác đầu tư mới. Thứ ba là hạ tầng phần mềm, liên quan thủ tục hành chánh và thời gian quyết định cấp phép, cấp visa hoặc giải quyết các vấn đề nảy sinh mà doanh nghiệp cần đền cơ quan công quyền. Từ thập niên 2000 khi các chuỗi cung ứng toàn cầu ngày càng trở thành trọng tâm của công nghiệp thế giới, yếu tố quyết định cạnh tranh giữa các quốc gia là thể chế. V́ thể chế trong đó gồm thủ tục hành chánh và sự minh bạch của các chính sách ảnh hưởng đến chi phí và thời gian di động của linh kiện và sản phẩm giữa các cứ điểm sản xuất. Đối với năng lực cạnh tranh của một quốc gia, yếu tố thể chế nầy quan trọng hơn tiền lương hay giá đất. Việt Nam hiện nay c̣n yếu kém về mặt này. Theo đánh giá của doanh nghiệp Nhật, thủ tục hành chánh (như xin visa cho nhân viên lưu trú dài hạn, xin mở rộng kinh doanh, …) c̣n nhiêu khê, luật lệ bất minh bạch, chính sách không rơ rang và được áp dụng tùy tiện là những vấn đề cần cải thiện. Trong các nước ASEAN, Singapore, Thái Lan và Malaysia được đánh giá cao. Việt Nam, Philippines và Indonesia sẽ cạnh tranh với nhau trong việc cải thiện hạ tầng phần mềm này. Nếu Việt Nam chậm trễ sẽ mất lợi thế với nhiều nước ASEAN. Thứ tư, nhà nước cần quan tâm hỗ trợ doanh nghiệp trong nước, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs) trong việc tiếp cận với nguồn vốn và đất để đầu tư. Doanh nghiệp trong nước phải lớn mạnh mới có thể tham gia liên doanh được với các dự án FDI mới, mới tham gia sâu hơn vào các chuỗi cung ứng của doanh nghiệp đa quốc gia. Đây cũng là chính sách gián tiếp làm giảm hoặc không làm tăng hơn sự tùy thuộc kinh tế vào FDI. Thứ năm, để thu hút các dự án đầu tư chiến lược như sản xuất chip bán dẫn, nhà nước cần có vai tṛ tích cực với các chính sách yểm trợ hiệu quả. Hiện nay, Mỹ, Nhật và nhiều nước khác đang triển khai các chính sách công nghiệp rất tích cực. Chẳng hạn để lôi kéo TSMC của Đài Loan, công ty sản xuất chip bán dẫn lớn và mạnh nhất thế giới, vào đầu tư ở tỉnh Kumamoto, chính phủ Nhật đă quyết định hỗ trợ tài chánh và chính quyền địa phương miễn tiền thuê đất đầu tư. Địa kinh tế ở vùng Ấn Độ Thái B́nh dương đang chuyển động theo hướng có lợi cho Việt Nam. Việt Nam nên tận dụng cơ hội hiếm có này để đưa nền kinh tế vào giai đoạn phát triển mới. Tokyo, đầu Xuân 2024
* Bài đă đăng trên số Xuân Giáp Th́n 2024 của Kinh tế Saigon. Đọc lại ngày 2/2/2024 trước ghi gửi đăng trên trang Báo Tết Giáp Th́n 2024 của ERCT.
|