1. Cái
giọng Quảng Nam gần như "nguyên chất" của ông nghe quá đă. Ông
nói chuyện chính trị, chuyện kinh tế thế giới, chuyện lịch sử và
chuyện ở vùng quê nghèo của ông, chuyện ǵ cũng b́nh dị, mạch
lạc và sâu sắc. Ở đời nhiều khi có những ngẫu nhiên rồi trở
thành một bước ngoặt khiến cho ta trở thành một ai đó.
Ông Trần Văn Thọ cũng vậy. Ông bảo nếu hồi đó Trường Nguyễn
Duy Hiệu (Điện Bàn, Quảng Nam) không ra đời, không mở lớp trung
học (cấp 2) th́ có thể bây giờ ông chỉ là một anh nông dân hoặc
anh thợ may thôi, mặc dù nông dân hay thợ may cũng là nghề không
có ǵ là không tốt. Trong một lần gặp ở TP.HCM mới đây, ông kể
tôi nghe chuyện “hồi xưa” của ông như một lời tâm t́nh của người
đồng hương. Ông hoàn toàn không muốn ai viết về ông trên báo.
Tôi ghi lại câu chuyện này và mong rằng nó sẽ thú vị đối với các
bạn trẻ.
40 năm trước ở quê ông, phần lớn học sinh chỉ học hết tiểu
học, muốn học tiếp phải xuống Hội An hoặc ra Đà Nẵng, chỉ một ít
gia đ́nh khá giả mới làm được như vậy. "Lúc đó tôi rất ốm yếu,
ông nội tôi bảo làm nông dân cũng khó. May mà Trường Nguyễn Duy
Hiệu mở lớp trung học đúng lúc tôi học xong tiểu học, nhưng là
trường bán công nên phải nộp học phí, mà có tiền nộp học phí
cũng khó khăn lắm. Cả nhà họp bàn có nên cho tôi đi học chữ nữa
không hay là đi học thợ may, v́ làm thợ may th́ nhẹ nhàng hơn
làm đồng áng. Nhưng ông nội thấy tôi không khéo tay, không thích
hợp với nghề dùng chân tay, c̣n học hành th́ được nên chủ trương
bằng mọi cách phải cho tôi đi học tiếp. Ông nội tuần nào cũng
mua vé số, tiền mấy cô chú cho ông uống rượu, ông nhịn rượu dành
hết mua vé số, phải đi bộ 5 km xuống quận lỵ Vĩnh Điện mua, rồi
tuần sau lại đi bộ xuống ḍ, rồi mua tiếp, mong được trúng để có
tiền cho cháu đi học, nhưng không bao giờ trúng cả. Tôi vào
trường đó học, mỗi ngày phải đi bộ 10 km, vừa đi vừa về mất 2
tiếng, mang theo cơm nắm trong lá chuối để ăn trưa, hai năm sau
mới mua được chiếc xe đạp. Trường này có quy định hay, là mỗi
tháng cộng điểm, ai đứng từ 1 đến 5 th́ miễn học phí. Nhà nghèo
nên tôi phải ráng học, để được xếp vào hạng đó, tuy thỉnh thoảng
cũng có rớt xuống dưới một chút, v́ vậy mới học đến đệ tứ (lớp
9), thi trung học đệ nhất cấp (phổ thông cơ sở) đỗ cao, được
Trường Trần Quư Cáp (Hội An) tuyển thẳng vào đệ tam. Từ nhà
xuống Hội An rất xa, đi xe đạp hằng ngày không được, phải ở trọ.
Tiền không có, phải đi dạy kèm, nhưng nhờ vậy mà tôi học xong
trung học. Đỗ tú tài 1, rồi tú tài 2, thấy tự hào lắm. Ở miền
Trung hồi đó, ai đỗ tú tài 2 cũng thấy ḿnh thượng lưu trí thức
lắm!
Xong tú tài, mấy người bạn vào Sài G̣n trước viết thư về bảo
vào đó vừa đi dạy vừa đi học đại học được. Hồi đó đỗ tú tài 2 có
thể dạy được cấp 2. Đó là cuối năm 1967, chiến tranh đang ác
liệt. Từ Quảng Nam mà vào Sài G̣n c̣n hơn là bây giờ đi du học
nước ngoài. Tôi vào, và kiếm được một chân dạy trường tư. Vừa
dạy học vừa đi học lớp dự bị ở Trường đại học Văn khoa, định năm
sau thi vào Đại học Sư phạm để ra dạy văn chương cấp 3, đó là
ước mơ tột đỉnh của tôi".
Ông kể chuyện thiệt thà và xúc động, đến mức tôi có cảm giác
ngồi trước mặt tôi mà ông như mơ màng về kỷ niệm cũ, về giấc mơ
cũ. Con người này đến giờ vẫn thích văn chương. Nhưng cuộc đời
lại t́nh cờ thay đổi. Ông kể tiếp: "Một ngày kia, tôi đạp xe
ngang qua cơ quan Bộ Giáo dục Sài G̣n, nếu lúc đó không t́nh cờ
qua đây th́ tôi đă không phải là tôi bây giờ nữa. Nh́n thấy một
tờ thông báo, tôi dừng lại xem. Đó là thông báo tuyển học sinh
sang Nhật du học với học bổng của Chính phủ Nhật. Tôi thấy ḿnh
đủ tiêu chuẩn: dưới 20 tuổi, đỗ tú tài hạng b́nh trở lên. Đă sao
sẵn giấy tờ, tôi liền nộp đơn. Đơn dự tuyển nộp nhiều lắm. Qua
phỏng vấn và xét thành tích học ở trung học, sơ tuyển được 20
người đưa lên Đại sứ quán Nhật thi, đề thi thống nhất toàn thế
giới. Tôi đỗ và sang Nhật du học. Giờ nghĩ lại, ḿnh nghèo, một
thân một ḿnh, không thân thế, không quen biết ai mà được đi du
học là do họ tổ chức thi cử đàng hoàng".
2.
Sang Nhật, vẫn ôm giấc mộng văn chương, nhưng ông nghĩ đă sang
đây th́ phải học cái ǵ là ưu việt của họ. "Năm 1968, Nhật Bản
lần đầu tiên trở thành cường quốc kinh tế thứ hai trên thế giới,
bởi vậy tôi chuyển sang học kinh tế, mong ḥa b́nh trở về góp
phần xây dựng đất nước Việt Nam".
Ông học cho đến khi lấy được bằng tiến sĩ (Đại học
Hitotsubashi, Tokyo). Ở lại Nhật, ông vào làm việc tại Trung tâm
Nghiên cứu kinh tế Nhật Bản, sau đó làm phó giáo sư, rồi giáo sư
Đại học Obirin (Tokyo). Từ năm 2000 đến nay, ông làm Giáo sư
kinh tế Đại học Waseda (Tokyo). Năm 1990, báo chí Nhật đưa tin:
Lần đầu tiên có ba người nước ngoài được mời làm thành viên
chuyên môn trong Hội đồng Tư vấn kinh tế của Thủ tướng Nhật, ông
là một trong ba người đó. Ông ở cương vị này trong gần 10 năm,
qua nhiều đời Thủ tướng Nhật.
Khi ông học xong tiến sĩ, lúc đó Việt Nam đang có chiến tranh
bảo vệ biên giới phía tây nam và phía bắc. Nhưng ông bảo ông
không về nước được một phần v́ ông học "kinh tế thị trường",
lănh vực mà trong nước lúc đó chưa chấp nhận.
Ông không về hẳn Việt Nam nhưng luôn luôn gắn bó với quê
hương, đất nước. Năm 1992, cuốn sách Phát triển công nghiệp
trong tương quan với các công ty đa quốc gia: Kiểm chứng tính
năng động tại vùng châu Á - Thái B́nh Dương (tiếng Nhật) của ông
được giải thưởng châu Á - Thái B́nh Dương của Báo Mainichi...
Ông kể hồi ông học cấp 3 trường Trần Quư Cáp, nhiều thầy thương
ông nhà nghèo học giỏi nên thỉnh thoảng có giúp ông tiền mua
sách vở. Nhớ ơn trường cũ, ông dành số tiền 3.000 USD của giải
thưởng trên tặng cho quỹ học bổng trường này. Lại nghĩ đến
trường Nguyễn Duy Hiệu, nơi ông học cấp 2. Nhưng 3.000 USD chia
đôi th́ không hay, ông định bụng trong tương lai gần sẽ kiếm món
tiền khác. Sang Nhật, ông kể lại chuyện với một người bạn, ông
này là cháu bốn đời của nhà doanh nghiệp vĩ đại nhất Nhật Bản
Shibusawa Eiichi. Bạn ông nghe chuyện thấy cảm động nên gửi luôn
3.000 USD để ông mang về làm quỹ học bổng cho trường Nguyễn Duy
Hiệu...
Sau khi Việt Nam đổi mới, chuyển sang kinh tế thị trường,
giáo sư Trần Văn Thọ mới có điều kiện đem kiến thức của ḿnh
giúp ích nước nhà. Ông đă có những công tŕnh nghiên cứu rất có
giá trị về kinh tế Việt Nam trong giai đoạn chuyển đổi và hội
nhập. Năm 1997, ông xuất bản cuốn Công nghiệp hóa Việt Nam trong
thời đại châu Á - Thái B́nh Dương (NXB TP.HCM) và mới đây, cuối
năm 2005, ông lại xuất bản cuốn Biến động kinh tế Đông Á và con
đường công nghiệp hóa Việt Nam (NXB Chính trị quốc gia). Cuốn
sách này được NXB Trẻ tái bản năm 2006. Năm 1993, ông được mời
làm thành viên Tổ Tư vấn cải cách kinh tế của Thủ tướng Vơ Văn
Kiệt, tiếp đó ông cộng tác trong Ban Nghiên cứu chính
 |
sách của Thủ tướng Phan Văn Khải.
3. Một
cách trực tiếp với các nhà lănh đạo hoặc gián tiếp qua các cuộc
hội thảo và các bài báo, ông đă tham gia nhiều ư kiến góp phần
hoạch định chiến lược kinh tế, cải cách hành chính và giáo dục
với những kiến giải khoa học sâu sắc. Ông phân tích đầy đủ, có
hệ thống thực trạng quá tŕnh công nghiệp hóa ở Việt Nam trong
tương quan với các nước trong khu vực và thế giới, chỉ ra những
bất cập, khiếm khuyết trong chính sách, dự báo xu hướng phát
triển và kiến nghị những giải pháp quan trọng nhằm nâng cao khả
năng cạnh tranh và phát triển bền vững của nền kinh tế. Ông là
người đầu tiên nói một cách có hệ thống tầm quan trọng của công
nghiệp phụ trợ (linh kiện, bộ phận...) và đưa ra các đề nghị
thúc đẩy phát triển lănh vực này. Đối với những vấn đề bức xúc,
ông thẳng thắn nhưng không "đao to búa lớn", ông hiểu rơ những
vấn đề thực tế của nước nhà nên ông biết cách đóng góp sao cho
có hiệu quả và ông tin tưởng vào quá tŕnh phát triển của đất
nước. 14 năm trước, để xóa bỏ cơ chế "xin-cho", ông đề nghị
Chính phủ nên lập danh mục những điều cấm làm (nagative list) và
thực hiện nguyên tắc: Người dân được phép làm tất cả những ǵ mà
luật pháp không cấm. Điều này gần đây đă thực hiện nhưng vào
thời điểm 14 năm trước, đây là những điều rất mới mẻ đối với
nhiều người. Về quan chức, cũng từ 13, 14 năm trước ông đă kiến
nghị phải tổ chức thi tuyển nghiêm minh để cho người tài giỏi,
đức độ ra làm việc nước và tạo cơ hội b́nh đẳng để mọi người có
năng lực có thể thi thố tài năng. Ông kiến nghị chọn một ngày
trong năm làm ngày tuyển chọn người tài giỏi ra làm việc nước và
như vậy sẽ giúp cho giới trẻ hăng hái học tập hơn.
Ông cũng đă đề nghị không những phải đối xử b́nh đẳng giữa
các thành phần kinh tế trong nước mà c̣n không nên phân biệt
giữa đầu tư trong nước và đầu tư trực tiếp nước ngoài. Ông nói
từ mấy mươi năm trước, Thái Lan làm rất tốt điều này, họ lập
những danh mục ưu tiên, ai muốn đầu tư vào ngành nào cũng được,
ai đầu tư vào danh mục ưu tiên th́ được ưu đăi, bất kể trong
nước hay ngoài nước. Những đề nghị đó sau này đă được áp dụng,
lần đầu tiên thể hiện trong Luật Doanh nghiệp. Ông cũng là một
trong những người đầu tiên kiến nghị nêu cao tinh thần doanh
nghiệp và vai tṛ của doanh nhân trong phát triển đất nước.
Từ hơn 10 năm trước, ông đă chỉ trích sự "lạm phát" của bằng
tiến sĩ và những bất cập trong cơ chế đào tạo tiến sĩ ở Việt
Nam. Ông nhận xét: "Ít nhất là trong bộ máy Nhà nước và trong
giới doanh nghiệp, số người có bằng tiến sĩ ở Việt Nam nhiều hơn
hẳn ở Nhật Bản là nước đông dân hơn nhiều và có thu nhập đầu
người gấp 75 lần Việt Nam. Đó là hiện tượng dị thường"
(VietNamNet, ngày 17.1.2006). Trước đó, trên tờ Tia Sáng tháng
9.2003, ông đặt vấn đề: "Việt Nam phải đứng trước một sự chọn
lựa giữa hai con đường: (1) Duy tŕ cơ chế hiện tại, tiếp tục
sản xuất bằng tiến sĩ theo tiêu chuẩn của riêng ḿnh, và văn
bằng này xem như hàng nội địa chỉ tiêu thụ tại nước ḿnh. (2)
Xem học vị tiến sĩ sản xuất trong nước phải tương đương hoặc gần
như tương đương với văn bằng ở nước ngoài". (Tia Sáng, tháng
9.2003). Dĩ nhiên Việt Nam phải chọn con đường thứ hai, v́
"không thể cho rằng tŕnh độ phát triển kinh tế, xă hội Việt Nam
c̣n thấp th́ phải chấp nhận văn bằng giá trị thấp". Ông đă đưa
ra nhiều kiến nghị rà soát, thẩm định, cải cách việc đào tạo bậc
tiến sĩ. Ông cho rằng cần tạm ngưng việc đào tạo tiến sĩ tại các
viện, trường để đánh giá, thẩm định chặt chẽ, sau đó công bố
danh sách các trường, viện và giáo sư đủ tiêu chuẩn đào tạo tiến
sĩ, lúc đó các cơ sở này mới được phép đào tạo. Ông cũng đề nghị
"không xem văn bằng tiến sĩ là một trong những tiêu chuẩn để đề
bạt ở các cơ quan quản lư của Nhà nước hoặc các cơ quan khác" và
"không cấp kinh phí và không tạo các điều kiện khác cho cán bộ
đi học tại chức bậc tiến sĩ". Ông bảo ở Nhật Bản và nhiều nước
khác, học vị tiến sĩ chỉ dành cho những người làm giảng dạy và
nghiên cứu, c̣n quan chức nhà nước chỉ cần có bằng đại học thôi,
không cần phải là tiến sĩ. 10 năm trước, những kiến nghị về vấn
đề này của ông cũng đă được đăng trên Báo Nhân Dân.
4. Với
tư cách là một trí thức, ông đă làm tất cả những ǵ ông có thể
làm được để góp phần xây dựng đất nước và bao giờ ông cũng tự
đặt ḿnh là người trong cuộc. Tuy sống và làm việc ở nước ngoài,
ông vẫn không ngần ngại tham gia vào những vấn đề "nhạy cảm"
trong nước. Trước Đại hội 10 của Đảng Cộng sản Việt Nam, ông đă
gửi đến Thanh Niên bài viết Đảng viên làm kinh tế tư bản tư
nhân, tại sao không?. Ông cho rằng chủ trương cho phép đảng viên
làm kinh tế tư bản tư nhân không giới hạn quy mô là chủ trương
đúng của Đảng, mặc dù trong Đảng c̣n không ít người phản đối chủ
trương này. Ông lập luận: "Nếu cho rằng kinh tế tư bản tư nhân
là thành phần không đáng để đảng viên tham gia, thậm chí cho đó
là thành phần thuộc giai cấp khác mà lư tưởng của người Cộng sản
là trước sau cũng phải xóa bỏ giai cấp đó, th́ chẳng những mâu
thuẫn với đường lối đổi mới, xóa bỏ thành quả của đổi mới mà
nguy hiểm hơn, c̣n làm mất ḷng tin của người dân trong nước và
cộng đồng quốc tế, đặc biệt là những nhà đầu tư nước ngoài".
Ông vẫn giữ quốc tịch Việt Nam cho đến bây giờ. Ngay cả thời
kỳ đất nước khó khăn khốn đốn nhất ông vẫn không có ư định nhập
quốc tịch nước ngoài. Thời đó, mang hộ chiếu Việt Nam đi lại
không dễ dàng. Có lần, một nước châu Âu mời ba giáo sư từ Nhật
sang dự hội nghị, trong đó có ông. Tại Nhật, trong khi hai ông
giáo sư kia không phải mất công ǵ th́ ông phải đến sứ quán nước
nọ đợi lên đợi xuống mất mấy tuần mới lấy được visa. Đến sân
bay, hai ông giáo sư người Nhật được nhập cảnh ngay, c̣n ông
mang hộ chiếu Việt Nam nên bị bắt buộc phải vào pḥng đợi rất
lâu cho người ta kiểm tra và thẩm vấn. Nhưng ông không hề xấu hổ
khi mang quốc tịch Việt Nam, dù trong hoàn cảnh nào. Kể tôi nghe
chuyện đó, ông chỉ nói: "Nước ḿnh phải phát triển th́ người ta
mới nể".
Tiến sĩ Trần
Văn Thọ sinh năm 1949 tại Quảng Nam, sang Nhật du học năm 1968.
Tại Nhật Bản, ngoài việc là thành viên chuyên môn trong Hội đồng
Tư vấn kinh tế của nhiều đời Thủ tướng Nhật, ông c̣n làm cố vấn
cho nhiều cơ quan của Chính phủ Nhật như Viện Nghiên cứu đầu tư
quốc tế và phát triển kinh tế thuộc Ngân hàng Xuất nhập khẩu nhà
nước, Viện Nghiên cứu tài chính và phát triển kinh tế thuộc Ngân
hàng Hợp tác quốc tế Nhật Bản (JBIC)... Từ năm 1998, ông được
mời làm Ủy viên nghiên cứu chính sách của diễn đàn Nhật Bản về
quan hệ quốc tế, và được bầu làm Chủ nhiệm nhóm nghiên cứu chính
sách cho năm 1999 của diễn đàn này. Bản báo cáo Kiến nghị về sự
chọn lựa chiến lược tại Á châu trong thời đại toàn cầu hóa (kết
quả của nhóm nghiên cứu này) đă được tŕnh Thủ tướng Mori
Yoshiro vào tháng 5.2000. Năm 2003, ông được JBIC mời làm Chủ
nhiệm Ủy ban đánh giá dự án viện trợ của Nhật (ODA) xây dựng cơ
sở hạ tầng giao thông khu Bắc Bộ Việt Nam.
Tại Việt Nam,
ngoài việc là thành viên Tổ Tư vấn cải cách kinh tế của Thủ
tướng Vơ Văn Kiệt (1993 - 1997), cộng tác trong Ban Nghiên cứu
chính sách của Thủ tướng Phan Văn Khải (1998 - 2004), ông c̣n
khởi xướng và vận động thành lập Trung tâm kinh tế châu Á - Thái
B́nh Dương (VAPEC) đặt tại Hà Nội, Đà Nẵng và TP.HCM (hiện ông
là Chủ tịch Hội đồng điều hành của tổ chức này). Ông nhiều lần
được mời làm giáo sư thỉnh giảng tại Đại học Quốc gia Hà Nội,
Đại học Quốc gia TP.HCM và Đại học Đà Nẵng... Đặc biệt, theo sự
hướng dẫn của ông, nhiều sinh viên năm thứ ba trong Seminar Trần
Văn Thọ tại Đại học Waseda (Tokyo) hằng năm đă sang Việt Nam hội
thảo và giao lưu với sinh viên khoa Kinh tế và khoa Đông phương
của Đại học Quốc gia Hà Nội. Ông thường xuyên viết bài cộng tác
cho các báo: Thời báo Kinh tế Saigon, Tuổi Trẻ, Thanh
Niên... về lĩnh vực kinh tế, đặc biệt về các vấn đề công nghiệp
hóa và hội nhập kinh tế thế giới của Việt Nam.