Tập vở Quốc Văn theo thầy giáo suốt 30 năm

 

Trần Văn Thọ

 

 

Bài viết ghi lại một kỷ niệm rất hy hữu của tác giả với thầy giáo Quốc văn thời Trung học. Thầy lưu giữ tập vở suốt 30 năm cho đến khi trao lại cho học tṛ ḿnh trong lần tái ngộ. 
 

 

Thời đi học chắc ai cũng có vài kỷ niệm với thầy cô giáo, nhưng có thể nói trường hợp của tôi với thầy giáo dạy Quốc Văn hồi Trung học chắc là rất hy hữu. Cuối năm thầy mượn tập vở ghi chép của tôi để dùng làm tư liệu dạy cho các năm sau. Sau đó qua nhiều lần dời chỗ ở, chỗ dạy học, thầy vẫn giữ cẩn thận tập vở để rồi 30 năm sau trao lại cho tôi trong lần tái ngộ. Tập vở của tôi đă theo với thầy từ Hội An đi Đà Nẵng, Huế, Saigon,.. suốt ba thập niên trong t́nh h́nh đất nước c̣n chiến tranh và xă hội thời hậu chiến c̣n hỗn loạn. 

 Năm 1964 tôi tốt nghiệp Trung học Đệ Nhất cấp (Cấp II, trung học cơ sở bây giờ) sau 4 năm học trường Trung học Nguyễn Duy Hiệu ở Điện Bàn (Quảng Nam) và được tuyển thẳng vào học Đệ Nhị cấp (Cấp III) trường Trung học Trần Quư Cáp ở Hội An. Hồi đó Cấp III chia làm ba ban: Ban A đặt trọng tâm học lư hóa và toán, ban B toán và ban C văn chương, triết, ngoại ngữ. Những học sinh có thành tích xuất sắc ở Cấp II thường được khuyên chọn ban B ở Cấp III. Theo tôi hiểu có hai lư do. Một là học Ban B sau này lên đại học sẽ rộng đường chọn chuyên môn. Hai là Ban B đ̣i hỏi khả năng suy luận cao mà học sinh giỏi mới theo kịp. Tôi cũng được các thầy năm cuối Cấp II khuyên chọn Ban B, và tôi đă làm như vậy. Nhưng học hết năm thứ nhất (Đệ Tam), dù thành tích xếp thứ hai, thứ ba trong lớp, tôi thấy thích văn chương và ngoại ngữ hơn nên xin chuyển sang Ban C, nhờ vậy tôi được học với thầy Quốc Văn Dương Ngọc Tạo và có một kỷ niệm hy hữu với thầy.

 Thầy Tạo, người Quảng Ngăi, tốt nghiệp khoa văn Đại học Sư phạm Huế và có thêm cử nhân văn chương. H́nh như thầy được bổ nhiệm dạy các lớp Đệ Tam và Đệ Nhị C trường Trần Quí Cáp vài năm trước khi tôi vào học. Lúc đó thầy khoảng 30 tuổi, độc thân, thuê nhà trọ ở khu phía tây thị xă Hội An, độ 7-8 phút đi bộ đến trường. Thầy ăn cơm tháng tại một nhà hàng gần đấy chứ không tự nấu. Những chi tiết riêng tư nầy tôi biết được sau mấy lần được thầy gọi đến chơi ở nhà trọ. 

Ban C có hệ số điểm Quốc Văn cao nhất nên mỗi tuần h́nh như học hai hoặc ba buổi. Vào mỗi buổi học, khi vào lớp, thầy Tạo điểm danh xong gọi 4-5 học sinh mang tập vở ghi chép lên đưa cho thầy xem và hỏi vài câu liên quan nội dung học lần trước. Trong một tháng có lẽ tất cả học sinh trong lớp lần lượt  được gọi lên trả bài như thế ít nhất một lần. H́nh như thầy cho điểm dựa trên t́nh h́nh ghi chép lần trước và câu trả lời hôm đó của học sinh. Mỗi lần như thế thầy ghi ngày tháng và kư tên vào một trang ghi chép lần trước của học sinh. Sau này xem lại tập vở của ḿnh tôi cũng thấy có 4 chỗ như thế. Chẳng hạn trong phần Tổng luận về Nguyễn Công Trứ, thầy ghi: Xem, 11.12.65 và kư tên.

 Có lẽ thầy có ấn tượng tốt về tôi qua cách ghi chép và trả lời suôn sẻ các câu hỏi của thầy về bài giảng lần trước. Vài tháng sau khi niên học bắt đầu, t́nh cờ trên đường trở về nhà trọ tôi và thầy cùng đi một hướng. Nhà trọ của tôi ở phía ngoại ô và đi qua con đường có nhà trọ của thầy. Hai thầy tṛ nói chuyện độ 5-6 phút là tới nhà thầy. Thầy bảo tôi vào nhà chơi tṛ chuyện tiếp. Dĩ nhiên là tôi rất vui mừng v́ được “học thêm” và xem tủ sách đồ sộ của thầy. Nhiều lần như thế tiếp tục sau đó và tôi không c̣n nhớ đă đến nhà thầy bao nhiêu lần. Có lần sắp đến trưa thầy bảo đi ăn cơm với thầy tại một nhà hàng nấu cơm tháng cho thầy ở gần nhà. Tôi c̣n giữ ấn tượng về những bữa ăn rất ngon. Món ăn rất ngon và nhất là được tṛ chuyện với thầy trong lúc ăn.

Cuối năm Đệ Nhị (Lớp 11), tôi đỗ Tú tài I và sau đó lên học lớp Đệ Nhất. Đệ Nhất C học triết thay cho quốc văn nên tôi không học với thầy Dương Ngọc Tạo nữa. Bây giờ không nhớ tôi đă gặp thầy lần cuối là lúc nào, và thầy đă mượn tập vở Quốc Văn của tôi khi nào. Chuyện thầy mượn tập vở Quốc Văn của tôi để làm tư liệu dạy cho những năm sau tôi chỉ biết được (v́ không nhớ ǵ cả) khi gặp lại thầy 30 năm sau.

Mùa hè năm 1997 nhân chuyến về Saigon tôi gặp lại một số bạn học thời Trung học Trần Quư Cáp Hội An. Hỏi thăm về các thầy cô thời xưa, một bạn, anh Huỳnh Sơn Phước, lúc đó là Phó Tổng biên tập báo Tuổi Trẻ, nói là gần đây có gặp thầy Dương Ngọc Tạo và có ghi lại địa chỉ của thầy. Tôi mừng quá, đề nghị anh Phước cùng đi thăm thầy. Anh Phước học sau tôi hai năm và cũng học văn với thầy Tạo lớp Đệ nhị C.

Tôi rất vui và xúc động khi gặp lại thầy Tạo, nghe thầy kể về những thay đổi trên đường dạy học của thầy trong 30 năm qua. Bỗng thầy dừng lại, vào tủ sách lấy ra tập vở và nói: “Thầy có món quà rất quí dành để tặng em”. Tôi nhận tập vở, vô cùng ngạc nhiên và xúc động khi mở trang đầu tiên, nhận ra tập vở Quốc Văn ghi chép các bài giảng của thầy ngày xưa. Tôi đặc biệt cảm động khi biết thầy đă di chuyển nơi làm việc và nơi ở nhiều lần, từ Hội An đi Đà Nẵng rồi Huế và Saigon. Trong thời c̣n chiến tranh và nhiều năm thời hậu chiến, kinh tế, xă hội c̣n bất ổn và phải di chuyển nhiều nơi từ Trung vô Nam, thầy vẫn giữ ǵn tập vở của học tṛ ḿnh. Chính tôi đă mất tất cả các sách vở thời học trung học, bây giờ nhờ thầy tôi c̣n giữ được tập vở duy nhất này.  

  Gặp lại thầy Dương Ngọc Tạo sau 30 năm. Tôi cầm tập vở Quốc Văn ghi những bài giảng của thầy ngày xưa. Thầy cầm cuốn sách Công nghiệp hóa Việt Nam… tôi vừa xuất bản và mang đến tặng thầy (tháng 5/1997 tại nhà thầy DNT) 

Tối hôm đó về khách sạn tôi bồi hồi xem lại từng trang trong tập vở Quốc Văn. Bao nhiêu kỷ niệm lại hiện về.

Chương tŕnh Quốc Văn lớp Đệ nhị C thời đó rất phong phú, đa dạng. Từ thơ văn Tản Đà, Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát, Trần Tế Xương, Nguyễn Khuyến, Chu Mạnh Trinh đến thơ văn của Nguyễn Đ́nh Chiểu, văn của Tự lực văn đoàn và văn, nghị luận trong Đông Dương Tạp chí và Nam Phong Tạp chí.

Thầy Dương Ngọc Tạo giảng bài rất hay. Tư tưởng trong thơ văn của mỗi tác giả được phân tích sâu sắc, khúc chiết và thỉnh thoảng vận dụng thơ văn của các thi sĩ văn nhân khác, kể cả nước ngoài để minh họa, so sánh. Đặc biệt tôi cuốn hút theo bài giảng của thầy về tư tưởng yếm thế, lăng mạn của Tản Đà, chí làm trai, tinh thần kẻ sĩ, thái độ sống của Nguyễn Công Trứ, tư tưởng phóng đạt, yêu thiên nhiên của Yên Đỗ Nguyễn Khuyến, v,v,,  

  Trang thứ nhất của tập vở Quốc Văn niên khóa 1965-66 

 

  Chương tŕnh học Quốc văn lớp Đệ nhị C (Lớp 11 bây giờ) 

Nh́n tập vở quốc văn tôi c̣n có một ấn tượng nữa là tập vở rất dày, hơn 300 trang và trang nào cũng ghi chép cẩn thận. Như đă nói, chương tŕnh học khá nhiều nên tập vở dày như thế mà chỉ c̣n trống vài trang cuối. Tôi cũng cảm thấy vui khi nghĩ lại thời đó ḿnh là một học sinh rất vất vả về tài chánh nhưng tại sao lại bỏ tiền mua tập vở khá đẹp và chắc là đắt tiền như vậy. Nhưng với nội dung phong phú của các bài giảng và nhất là được lưu giữ cho đến ngày nay th́ việc chọn mua dù là ngẫu nhiên một tập vở đắt tiền như vậy cũng rất xứng đáng.

Rất vui là t́m thấy nét bút của thầy trên hầu hết các trang trong tập vở, chứng tỏ thầy đă tích cực dùng tập vở này khi soạn các bài giảng cho các năm sau. Thầy gạch đáy nhiều câu, sửa những lỗi chính tả c̣n sót hay những từ ngữ chưa chính xác. Đôi lúc ghi bên lề trang vài chữ để đánh dấu nội dung. Tập vở dày 320 trang, tôi ghi chép hết 314 trang. Thầy dùng 6 trang c̣n lại để ghi thời khóa biểu dạy hoặc bảng điểm của các lớp sau tôi. Một số tờ giấy rời với các nội dung tương tự thầy ghép thêm vào cuối tập vở. Đọc các thông tin nầy tôi biết được là thầy đă dùng Tập vở Quốc văn của tôi ít nhất là cho đến niên khóa 1973-74, tức là 8 năm kể từ những ngày cuối tôi học với thầy. Hiếm có trường hợp một tập vở ghi chép của học sinh được thầy giáo dùng nhiều năm và để lại nhiều bút tích. Tôi cảm thấy thật sung sướng, hạnh phúc. 

  Bút tích của thầy Dương Ngọc Tạo trong tập vở của tôi 

Bây giờ nh́n lại tập vở ghi chép này, tôi rất ngạc nhiên thấy rất đầy đủ, văn phong rất trau chuốt, giống như là vừa nghe thầy đọc vừa chép lại chứ không phải vừa nghe giảng vừa ghi chép. Dưới đây tôi chép lại một đoạn trong tập vở này để thấy bài giảng của thầy Tạo sâu sắc về nội dung, trau chuốt về văn chương và cũng cho thấy thời đó tôi đă có “tài” ghi chép như thế nào (Ở đây chép nguyên văn nhưng có vài chỗ điều chỉnh dấu chấm câu hay viết đầy đủ tên Tản Đà thay v́ TĐ như trong tập vở, v́ khi nghe giảng chắc tôi phải viết nhanh, viết tắt, mới theo kịp nội dung). Đây là đoạn thầy b́nh bài thơ “Tống biệt” của Tản Đà:

“Tản Đà nhiều lúc muốn t́m về thiên đường đă mất hay t́m về thế giới bồng lai mà Lưu Nguyễn đă lạc lối:

Lá đào rơi rắc lối Thiên Thai

Suối tiễn, oanh đưa những ngậm ngùi,

Nửa năm tiên cảnh

Một bước trần ai,

Ước cũ duyên thừa có thế thôi

Đá ṃn rêu nhạt,

Nước chảy hoa trôi

Cái hạc bay lên vút tận trời!

Trời đất từ đây xa cách măi

Cửa động,

Đầu non

Đường lối cũ,

Ngh́n năm thơ thẩn bóng trăng chơi

“Tống biệt” đă nói lên sự tranh chấp trong tâm thc của Tản Đà, tranh chấp ở đây là tranh chấp giữa tiên và tục, giữa ước mơ và hiện thực. Tản Đà đă để cho sự tranh chấp nghiêng hẵn về phía cuộc đời nhưng luyến tiếc tuyệt đối, thành thử trong lúc chia xa giữa tuyệt đối và cuộc đời, Tản Đà không khỏi ray rức. Vẫn biết cuộc đời là chấp tranh, là chán chường, là hữu hạn, nhưng cuộc đời vốn có một giá trị của nó. Nói như Malraux: “Cuộc đời không đáng giá ǵ cả nhưng không ǵ đáng giá bằng cuộc đời”. Thành thử trong lúc chán chường Tản Đà vẫn có một thái độ dứt khoát:

Cái hạc bay lên vút tận trời

Trời đất từ nay xa cách măi.

nhưng khi trở về lại ngậm ngùi bịn rịn:

Lá đào rơi rắc lối thiên thai,

Suối tiễn oanh đưa những ngậm ngùi

  “Tống biệt” đă chọn con đường trở về cuộc sống. Có lẽ Tản Đà nghĩ rằng tiên cảnh có cái vinh quang của tiên cảnh nhưng cuộc đời vẫn có cái hạnh phúc của cuộc đời. Đó là nguyên nhân sâu xa phân thi ca Tản Đà ra làm hai chiều hướng đối nghịch. Sau khi so sánh, Tản Đà đă buông tiếng thở dài:

Ước cũ duyên thừa có thế thôi

để rồi vẫn đẩy nỗi buồn của ḿnh lên cao:

Đá ṃn rêu nhạt

Nước chảy hoa trôi

Nhưng khi cánh cửa vừa khép lại th́:

Cửa động

Đầu non

Đường lối cũ

Ngh́n năm thơ thẩn bóng trăng soi”

  Bài giảng của thầy Tạo về bài thơ “Tống biệt” c̣n tiếp nữa khi thầy so sánh tâm trạng của Tản Đà trong bài này với những đồng cảm của Thế Lữ sau này trong “Tiếng sáo thiên thai” (Tiên nga tóc xơa bên nguồn, Hàng tùng rủ rỉ trên cồn đ́u hiu) và “Ma túy” (Lung linh vàng dội cung Quỳnh, Nhịp nhàng biến hiện những ḿnh Tiên Nga)  và trích b́nh luận liên quan của Hoài Thanh. 

Tập vở Quốc Văn của tôi với bút tích dày đặc của thầy Dương Ngọc Tạo gói ghém biết bao kỷ niệm của tôi với thầy trong năm học Đệ nhị C trường Trung học Trần Quư Cáp ở Hội An. Tập vở đă theo thầy suốt 31 năm trên các nẻo đường đất nước và cuối cùng đă trở về với tôi. Đây là một trong những gia bảo tôi cất giữ cẩn thận trong pḥng đọc sách ở Tokyo./.

 

Tokyo, đầu xuân Giáp Th́n 2024

Bài đă đăng trên Báo Đà Nẵng, số Tết Giáp Th́n 2024. Đọc lại ngày 2/2/2024 trước khi đăng lên ERCT.