Trần Văn Thọ
Exryu Japan

Người anh kết nghĩa thuở hàn vi

 

   Giữa thập niên 1960, hồi c̣n học lớp Đệ Nhị (Lớp 11 bây giờ) trường Trung học Trần Quư Cáp ở Hội An, tôi bắt đầu quen thân anh Huỳnh Ngọc Ḥa học trên tôi một lớp. Anh trở thành người anh dẫn dắt, giúp đỡ tôi trong thời gian học ở Saigon trước khi đi Nhật du học. Lúc mới c̣n là sinh viên hai năm cuối ở Đại học Sư phạm Saigon, anh Ḥa đă viết trên tạp chí Bách Khoa và phát động phong trào cải cách giáo dục được các học giả, trí thức uy tín thời đó như Nguyễn Hiến Lê, Lư Chánh Trung khen ngợi và ủng hộ.

Mùa hè năm 1967 tôi học xong Trung học Đệ nhị cấp (Trung học phổ thông bây giờ) và thi đỗ Tú tài II. Học sinh nghèo ở Quảng Nam thời đó mà đỗ Tú tài II xem như là đă có một tŕnh độ học vấn rất cao rồi. Đặc biệt hồi đó học xong lớp Đệ Nhị (Lớp 11 bây giờ) là phải thi Tú tài I (cuộc thi tổ chức trên toàn miền Nam) và số người đỗ chỉ độ một nửa. Ở trường Trần Quí Cáp hồi đó có hai lớp Đệ Nhị C (ban văn chương và ngoại ngữ) sau kỳ thi Tú tài I chỉ c̣n một lớp Đệ Nhất C. Bạn bè tôi trong các Lớp Đệ Nhất có người nói đùa “chúng ta đă trở thành thượng lưu trí thức ở Hội An rồi”.

Tôi đỗ cao trong kỳ thi Tú tài II nhưng chưa biết tính sao. T́m việc làm hay học lên đại học? Hồi đó ở Đà Nẵng chưa có đại học. Muốn học lên đại học phải ra Huế hoặc vào Saigon mà điều kiện kinh tế không cho phép. Đang lúc ấy nhận được thư của anh Huỳnh Ngọc Ḥa (đă vào Saigon một năm trước): “Em vào đây với anh, vừa học vừa làm, anh t́m việc cho”. Thế là tôi vào Saigon, ở chung nhà trọ với anh Ḥa. Anh c̣n t́m được cho tôi một chân dạy giờ ở một trường tư trung học đệ nhất cấp. Có anh Ḥa bao cấp tiền trọ và tôi cũng có việc làm nên  ổn định ngay được cuộc sống mới ở Saigon.

Tôi ghi tên học ở Văn khoa, dự định năm sau thi vào Đại học sư phạm, mong trong tương lai sẽ làm nghề giáo dạy văn ở một trường trung học đệ nhị cấp. Hồi đó ai muốn thi vào đại học sư phạm (học 3 năm) phải có chứng chỉ đỗ chương tŕnh dự bị (một năm) ở Đại học Văn khoa (nếu theo ngành văn chương, sử địa, ngoại ngữ) hoặc Đại học Khoa học (nếu theo ngành khoa học, kỹ thuật). Lúc đó anh Ḥa đă vào năm thứ nhất ở Đại học sư phạm sau một năm ở Văn khoa.

Vài tháng sau t́nh cờ đi trên đường Lê Thánh Tôn, dừng xe đạp xem thông cáo của Bộ Quốc gia Giáo dục, tôi biết được có kỳ thi tuyển cấp học bổng của chính phủ Nhật Bản, và nộp đơn dự thi. Tôi trúng tuyển và dành th́ giờ chuẩn bị cho việc đi du học nên không c̣n tập trung học ở Văn khoa. Nhưng tôi vẫn tiếp tục sống chung với anh Ḥa cho đến khi lên đường sang Tokyo tháng 4 năm 1968.

Tôi sống với anh Ḥa chỉ khoảng nửa năm, nhưng thời gian đó có tính cách quyết định cuộc đời của tôi. Nếu anh Ḥa không tích cực khuyên tôi vào Saigon và không giúp tôi học và làm việc ở đó th́ có thể cuộc đời tôi đă rẽ sang ngă khác. Tôi c̣n học từ anh Ḥa rất nhiều. Anh chỉ hơn tôi vài tuổi nhưng anh chững chạc, từng trải và hiểu biết nhiều. Anh có vẻ trưởng thành trước tuổi. Anh đọc nhiều và luôn hướng thượng. Anh đọc cả những sách về việc rèn nhân cách, về phép xă giao hiện đại và thường truyền đạt cho tôi những ư hay. Tôi nhớ anh có đọc cuốn sách có tên Phép lịch sự trong cuộc sống mới và nói về một số nội dung liên quan khi đi dạo với tôi trên đường phố.

  Huỳnh Ngọc Ḥa (phải) và Trần Văn Thọ vào cuối năm 1967 

 Đặc biệt là dù c̣n rất trẻ anh Ḥa đă tỏ ra là một trí thức quan tâm đến thời cuộc, lo lắng cho tiền đồ đất nước và tích cực vận động cải cách để thay đổi xă hội. Anh bắt đầu bằng việc viết và vận động cải cách giáo dục là lănh vực anh có nhiều trải nghiệm với tư cách là người đi học và là lănh vực anh sẽ gắn bó với nghề nghiệp của ḿnh.

  Sau khi tôi sang Nhật, trong những năm đầu, tôi và anh Ḥa thường xuyên liên lạc qua thư. Thư nào cũng viết rất dài v́ giữa hai anh em có nhiều chuyện để tâm sự, chia sẻ. Đáng kể nhất là những hoạt động cải cách giáo dục rất sôi nổi và có tiếng vang của anh Ḥa. Anh quan tâm đến giáo dục bậc trung học, nhất là trung học Đệ nhị cấp (trung học phổ thông bây giờ), và suy nghĩ về nội dung giảng dạy và tổ chức, quản lư ở đại học sư phạm, nơi đào tạo thầy cô giáo dạy trung học.

  Ngày nay dư luận Việt Nam bức xúc về những tồn tại cần phải thay đổi của nền giáo dục. Nhiều người lớn tuổi từng là học sinh thời chính quyền ở miền Nam trước 1975 thường nói đại khái là “ngày xưa giáo dục tốt hơn”. Đúng là trước 1975, không có t́nh trạng lương của thầy cô giáo không đủ sống sinh ra các tiêu cực dạy thêm học thêm, học sinh trường công cũng phải đóng nhiều phụ phí, sách giáo khoa thường xuyên thay đổi, v.v. Nhưng đọc những bài báo và sách của anh Huỳnh Ngọc Ḥa ta sẽ thấy giáo dục ở miền Nam cuối thập niên 1960 cũng tồn tại rất nhiều vấn đề mà anh Ḥa hô hào phải thay đổi.

Bài báo đầu tiên anh Ḥa đăng đươc ngay trên tạp chí Bách khoa là bài “Giáo sư trung học, anh là ai?” (hồi đó thầy giáo dạy trung học nếu thuộc chính ngạch, tốt nghiệp đại học sư phạm, cũng được gọi là “giáo sư”). Bách khoa là tạp chí uy tín bậc nhất thời đó, thường đăng b́nh luận xă hội, bàn về khoa học, sáng tác văn thơ của các học giả, nhà văn nổi tiếng. Đây cũng là vũ môn để hóa rồng mà những cây bút trẻ hằng mơ ước vượt qua. Năm 1969, anh Ḥa mới 23 tuổi, c̣n là sinh viên Đại học sư phạm nhưng đă vượt vũ môn. Hôm gặp tổng biên tập và được thông báo sẽ đăng bài của ḿnh, anh Ḥa về đến nhà trọ là viết thư ngay cho tôi. Anh bảo sau khi làm việc ở ṭa soạn Bách khoa, đi xe đạp trên đường về nhà trọ ḷng anh lâng lâng vui sướng và suy nghĩ về bút hiệu sẽ kư trên bài báo đầu tiên. Anh kết hợp họ cha và họ mẹ làm thành bút hiệu Huỳnh Phan.

  Tháng 12/1969 anh đóng vai tṛ chính trong việc thực hiện chương tŕnh phỏng vấn tập thể của Tổng hội sinh viên Saigon về vấn đề cải tổ giáo dục. Sau đó anh dự định viết ba tập sách phân tích t́nh h́nh giáo dục ở miền Nam và đưa ra các ư tưởng cải cách. Cuốn sách đầu tiên là Câu chuyện thầy tṛ do nhà xuất bản Trí Đăng phát hành tháng 7 năm 1970. Sách vừa ra đời anh gửi ngay cho tôi với lời đề tặng gói ghém nhiều t́nh cảm. Trong sách có phần Phụ lục in nội dung trả lời phỏng vấn của các học giả, nhà giáo nổi tiếng thời đó như Nguyễn Hiến Lê, Lư Chánh Trung, Giản Chi, .. Đặc biệt học giả Nguyễn Hiến Lê viết lời tựa, hết lời khen ngợi t́nh thần trách nhiệm đối với xă hội, với đất nước và nỗ lực của anh Huỳnh Ngọc Ḥa. Câu kết lời tựa của vị học giả đáng kính là “những thanh niên như ông mà thành công th́ tiền đồ dân tộc ḿnh sẽ đẹp”. 

   Anh Huỳnh Ngọc Ḥa kư tặng và gửi sang Tokyo cuốn sách xuất bản năm 1970.

B́a sau cuốn sách Câu chuyện thầy tṛ của Huỳnh Phan  

    Trong cuốn sách, anh Ḥa phác họa chân dung một nhà giáo bậc trung học mà anh cho là cần thiết. Một là phải yêu nghề dạy học và tôn trọng nhân cách học sinh, phải nêu gương sáng trong văn hóa ứng xử, trong lối sống v́ thiên chức của thầy giáo là “kỹ sư của tâm hồn”. Hai là, cần sống giản dị, tránh bị ảnh hưởng từ cuộc sống xô bồ. Sống giản dị th́ không cần có nhiều tiền, không cần lao vào những việc để có tiền mà tập trung vào việc dạy học. Thứ ba, không lai căng, “sính Tây, sính Mỹ” mà phải có ḷng tự hào dân tộc, yêu văn hóa Việt Nam. Thứ tư, không bằng ḷng với kiến thức đă thu nhận được thời c̣n học đại học mà phải luôn học tập, bổ sung để theo kịp đà tiến của khoa học. Thứ năm, luôn quan tâm đến thời cuộc, suy nghĩ về tương lai của đất nước, để có thể góp phần vào việc xây dựng đất nước một khi chiến tranh chấm dứt và nước nhà thống nhất.

  Đúng là anh Ḥa đưa ra những đ̣i hỏi rất cao đối với một giáo sư bậc trung học, nhất là điểm thứ năm, một vấn đề thường yêu cầu ở một trí thức chính hiệu.

  Anh Ḥa luôn đề cao tinh thần dân tộc, không chấp nhận có sự hiện hiện của quân đội Mỹ ở miền Nam lúc đó và mong chiến tranh sớm chấm dứt, đất nước thống nhất và người Việt sẽ cùng chung tay xây dựng đất nước trong một t́nh tự dân tộc. Anh phản ảnh các ư kiến nầy trong sách Câu chuyện thầy tṛ nên bị kiểm duyệt rất nhiều chỗ. Rất hay là nhà xuất bản rất thành thực, nghiêm túc; chỗ nào kiểm duyệt bao nhiêu chữ bao nhiêu ḍng đều có ghi rơ. Chương cuối cùng trong cuốn sách là “Nghĩ về sứ mạng giáo dục hậu chiến” với các nội dung chính là: Tạo lại cuộc thuận ḥa dân tộc, dựng lại niềm tin vào khả năng của dân tộc Việt, xây dựng một nền kinh tế tiến bộ và không phụ thuộc vào nước ngoài.

   Sau khi xuất bản cuốn sách Câu chuyện thầy tṛ, anh Ḥa tốt nghiệp Đại học sư phạm và được bổ nhiệm dạy học tại một trường trung học ở Châu Đốc, hiện nay thuộc tỉnh An Giang. Chiến tranh dần dần khốc liệt, thư từ qua lại từ miền quê ra nước ngoài khó khăn và mất nhiều th́ giờ. Trước 1975 thư cuối cùng tôi nhận được từ anh Ḥa là cuối năm 1974. Từ đó măi đến 13 năm sau tôi mới nhận lại thư của anh và là thư cuối cùng!

Trong thư đó, anh kể lại công việc của anh sau năm 1975 (vẫn tiếp tục dạy học ở An Giang), đă lập gia đ́nh và có hai cháu. Nhưng rất bất ngờ khi biết anh bị lao phổi đă đến giai đoạn khá nặng. Tôi rất lo buồn và nghĩ ngay đến một kế hoạch chạy chữa cho anh. Tôi viết thư bàn với anh đặt ra một kế hoạch 2 năm, tôi sẽ giúp anh trang trải các chi phí thuốc men và sinh hoạt trong gia đ́nh để anh chị không phải lo chuyện sinh kế mà dồn tất cả các nỗ lực vào việc chữa trị. Thư của tôi gửi về đầu tháng 1/1988 nhưng không c̣n nhận được trả lời. Măi đến đầu thập niên 1990, qua một người em của anh tôi biết anh đă ra đi vĩnh viễn vào cuối tháng 1/1989. Nghe tin tôi đau buồn như mất một người thân.

Anh Huỳnh Ngọc Ḥa bị bệnh và mất sớm là một tổn thất cho xă hội. Nếu không chắc chắn anh sẽ góp phần xây dựng đất nước, chí ít là trong ngành giáo dục, như  học giả Nguyễn Hiến Lê đă từng tin tưởng: “Những thanh niên như ông mà thành công th́ tiền đồ dân tộc ḿnh sẽ đẹp”. C̣n tôi th́ mất một người anh, người anh kết nghĩa thời khó khăn đă được anh d́u dắt, giúp đỡ rất nhiều. Trong những người thân của anh Ḥa, hiện nay tôi thường liên lạc với hai bào đệ của anh là nhà giáo Huỳnh Kim Tín ở Thành phố HCM và nhà báo Huỳnh Kim ở Cần Thơ. Từ t́nh cảm với anh Ḥa, tự nhiên tôi xem Tín và Kim như những người anh em rất thân thiết./.

(Bản đầu tiên của bài này được đăng trong số báo Xuân 2023 của Kinh tế Saigon. Đây là bản mới, đọc lại và bổ sung ngày 30/12/2022 - bài cho ERCT Xuân 2023)