|
Trần
Văn Thọ
Đại học Waseda
Tokyo, Nhật Bản
Từ
cuối thập niên 1990 tại Đông Á (ở
đây chủ yếu gồm các nước
Nhật, Hàn Quốc, Trung Quốc và ASEAN) nở
rộ những tranh luận, phân tích về
khả năng và nỗ lực cần thiết
để xây dựng một khu vực hợp tác
nhằm duy tŕ ổn định và đẩy
mạnh phát triển. Khu vực hợp tác nầy
được gọi là Cộng đồng Đông
Á (East Asian Community).
Phạm
vi của tầm nh́n Cộng đồng Đông
Á rất rộng, bao gồm những lănh vực
ngoài kinh tế như chính trị, văn hoá, an
ninh khu vực, v.v.. Riêng lănh vực kinh
tế, như sẽ thấy dưới đây, cũng
có nhiều giai đoạn từ thấp đến
cao. Mặt khác, các nước trong khu vực
Đông Á rất khác nhau về tŕnh độ phát
triển, về thể chế chính trị, về
văn hoá, tôn giáo. Với bối cảnh như
vậy, việc thực hiện một cộng
đồng hoàn toàn không dễ dàng. Do đó,
việc phân tích, b́nh luận về vấn đề
nầy cần được giới hạn trong
một phạm vi hẹp để có thể đào
sâu và đưa ra được những ư
kiến khả thi về chính sách.
Bài
viết nầy chỉ bàn về kinh tế, hướng
tầm nh́n vào những nước đi sau trong
khu vực và nh́n vấn đề trong một tương
lai không quá xa, độ 10 hoặc 15 năm. Các nước
đi sau, trong đó có Việt Nam, có đặc tính
là tŕnh độ phát triển c̣n thấp,
mới ở giai đoạn đầu của quá
tŕnh công nghiệp hoá, sẽ gặp vấn đề
ǵ khi tham gia Cộng đồng kinh tế Đông
Á? Quan điểm của bài viết nầy là
trong một tương lai không xa, Cộng đồng
kinh tế Đông Á chỉ có thể được
thực hiện ở giai đoạn thấp
nhất và trong điều kiện các nước
đí sau phải nỗ lực tăng năng
lực cạnh tranh và các nước đi
truớc phải có các chính sách hợp tác kinh
tế, kỹ thuật với các nước đi
sau.
I.
Cộng đồng kinh tế và nước đi
sau: Vài vấn đề về phương pháp
luận
Cộng
đồng kinh tế hay kinh tế hợp nhất
(economic integration) là những thuật ngữ
chỉ một thể chế hợp tác trong đó
các nước thành viên xóa bỏ các rào cản
để hàng hoá, dịch vụ và các yếu
tố sản xuât như lao động, tư
bản tự do di động. Theo Balassa (1961),
một nghiên cứu cổ điển trong lănh
vực nầy, sự hợp nhất kinh tế có
năm h́nh thái, phân chia theo mức độ
từ thấp đến cao như sau: (1) Khu
mậu dịch tự do (free trade area) trong đó các
thành viên băi bỏ các hàng rào quan thuế và phi
quan thuế (hạn chế số lượng
hoặc cấm nhập khẩu) nhưng các nước
vẫn giữ chính sách mậu dịch riêng
với các nước không phải thành viên. (2)
Trường hợp các nước trong khu mậu
dịch tự do có cùng chính sách quan thuế đối
với các nước không phải thành viên
được gọi là liên minh quan thuế
(customs union). (3) Thị trường chung (common
market) là trường hợp không những hàng hoá
và dịch vụ mà các yếu tố sản
xuất cũng được tự do di
chuyển giữa các nước thành viên. (4) Liên
minh kinh tế (economic union) là h́nh thái trong đó,
ngoài những đặc tính của thị trường
chung c̣n có sự điều hoà về các chính sách
kinh tế để tránh những bất đồng
xảy ra do sự khác biệt của các chính sách
giữa các nước thành viên. (5) Hoàn toàn
hợp nhất kinh tế (total economic integration) là
h́nh thái cao nhất trong đó các nước thành
viên có cùng chính sách tiền tệ, tài chánh, chính
sách cạnh tranh, lao động v.v..
Gần
đây h́nh thái kinh tế hợp nhất phổ
biến nhất là hiệp định thương
mại tự do (free trade agreement, FTA). Tính chất
của FTA gần giống với khu mậu
dịch tự do nói trên nhưng tùy theo
thoả thuận của các bên mà nội
dung
của FTA có thể gồm một số yếu
tố của một thị truờng chung. Ngoài
ra, một h́nh thái tương tự là hiệp
định đối tác kinh tế (economic
partnership agreement, EPA) bao gồm những lănh
vực hợp tác rộng hơn FTA, kể cả
hợp tác để làm thông suốt các quan
hệ kinh tế, điều hoà các chính sách
vả luật lệ, chế độ về kinh
tế. So sánh với FTA th́ EPA gần với
thị truờng chung hay liên hợp kinh tế hơn.[1]
Hiện
nay tại Đông Á, FTA (và EPA trong vài truờng
hợp) là h́nh thái phổ biến nhất đă
kư kết hoặc đang thương lượng,
song phương hoặc đa phương,
từng bước tạo thành những bộ
phận làm cơ sở để tiến tới
việc xây dựng cộng đồng kinh tế
Đông Á. Như đă nói ở trên, trong một
tương lai không xa cộng đồng kinh
tế Đông Á nếu được thực
hiện cũng sẽ xoay quanh những h́nh thái
thấp nhất trong phân loại của Balassa,
cụ thể là một h́nh thái không cao hơn
FTA. Do đó phần phân tích dưới đây
sẽ đặt trọng tâm trong hiệu quả
của FTA.
V́
hàng rào quan thuế và phi thuế được băi
bỏ, mậu dịch tự do được
thực hiện giữa các thành viên. Sản
xuất trong những ngành không có lợi thế
so sánh sẽ giảm và nhập khẩu từ nước
thành viên sẽ tăng. Đây là hiệu quả
sáng tạo mậu dịch (trade creation). Tuy nhiên
FTA tạo ra sự đối xử phân biệt
giữa nước thành viên và nước bên ngoài
nên có thể có nhiều truờng hợp nhập
khẩu từ nước bên ngoài giảm nhường
chỗ cho nhập khẩu từ các nước thành
viên mặc dù sản xuất của nước bên
ngoài có phí tổn thấp hơn. Đây là
hiệu quả chuyển hoán mậu dịch (trade
diversion). Hai hiệu quả nầy tác dụng ngược
đối với lợi ích của nước thành
viên, hiệu quả ṛng (net effect) càng lớn
nếu hiệu quả sáng tạo mậu dịch
càng lớn và hiệu quả chuyển hoán càng
nhỏ.
Hai
điều kiện để có hiệu quả sáng
tạo lớn là trước khi tham gia FTA các nước
thành viên là những nước chủ yếu
trong cơ cấu mậu dịch của mỗi nước
và tỉ suất thuế quan khá cao giữa các
nước thành viên. Điều kiện để
có hiệu quả chuyển hoán nhỏ là trong
thị trường của các nước thành viên,
cơ cấu xuất khẩu của nước
đối tác ngoài khu vực FTA khác với cơ
cấu xuất khẩu của các nước thành
viên.
Hiệu
quả sáng tạo và chuyển hoán mậu
dịch là hiệu quả tĩnh (static effects) v́
chỉ xảy ra một lần và cấu tạo
về lợi thế so sánh không thay đổi.
FTA c̣n phát sinh các hiệu quả động
(dynamic effects) ảnh hưởng tốt đến
quá tŕnh phát triển kinh tế của các nước
thành viên. Có thể kể một số hiệu
quả động điển h́nh. Thứ
nhất, v́ thị truờng mở rộng, tính
quy mô kinh tế sẽ làm giá thành sản xuất
giảm, tăng sức cạnh tranh của
những ngành có lợi thế so sánh, làm tăng
xuất khẩu sang cả những nước ngoài
khu vực FTA. Đây là một hiệu quả sáng
tạo mậu dịch mới. Thứ hai,
đầu tư trực tiếp nước ngoài
(FDI) sẽ tăng v́ tính quy mô kinh tế do
thị truờng mở rộng hấp dẫn các
công ty đa quốc gia, và v́ các công ty ở các
nước ngoài khu vực đến đầu tư
để giữ thị trường, một cách
đối phó với hiệu quả chuyển hoán
mậu dịch. Ngoài ra, FDI có khuynh hướng tăng
v́ các nước thành viên phải tiến hành các
cải cách về cơ chế, chính sách với
sự cam kết quốc tế làm cho môi
truờng đầu tư tăng tính dự đoán
và ít rủi ro.[2]
Thứ ba, trong khuôn khổ FTA, áp lực
cạnh tranh giữa các nước thành viên
rất mạnh làm cho các nguồn lực, các
yếu tố sản xuất trong nội bộ
mỗi nước di chuyển từ các ngành kém
hiệu suất sang những ngành có lợi
thế so sánh.
Tuy
nhiên, cần lưu ư là hiệu quả động
thường phát sinh không đồng đều
giữa các nước thành viên. Điểm này
đặc biệt quan trọng khi phân tích FTA
giữa các nước đă phát triển và
những nước đi
sau (late comers), tức là những nước đang
ở giai đoạn đầu của quá tŕnh phát
triển.[3]
Trong trường hợp nầy các nước
đi sau có thể không phát huy được các
hiệu quả động nói trên v́ các hiệu
quả nầy tuỳ thuộc nhiều yếu
tố chứ không phải tự động phát
sinh khi có tự do thương mại. Ba yếu
tố liên quan đến hiệu quả động
nói ở trên có thể không phát sinh tại các nước
đi sau nếu cơ cấu các nguồn lực
(factor endowments) không thay đổi (và do đó cơ
cấu sản xuất và xuất khẩu không thay
đổi). Thứ nhất, tính quy mô kinh tế có
thể đi theo với FTA nhưng mức độ,
cường độ của nó tuỳ thuộc
nhiều vào chủng loại ngành công nghiệp.
Chẳng hạn ngành xe hơi th́ có tính quy mô kinh
tế cao trong khi các ngành dệt may, giày dép th́
rất thấp. Xét cấu tạo lợi
thế so sánh của các nước đi sau, ta
thấy ngay là các nước nầy không có
những ngành công nghiệp có tính quy mô kinh
tế cao.[4]
Thứ hai, mặc dù FDI có khuynh hướng tăng
theo với sự h́nh thành của FTA nhưng để
cho khả năng đó thành hiện thực, các
nước đi sau phải có nhiều điều
kiện khác nữa. Chẳng hạn môi truờng
đầu tư phải được cải
thiện, trong đó đặc biệt hành lang pháp
lư, cơ sở hạ tầng, chính sách ưu
đăi phải được xây dựng, và
đội ngũ lao động lành nghề, có
kỹ năng cao phải được đào
tạo. Những điều kiện nầy không
phải nước đi sau nào cũng có. Thứ
ba, mặc dù FTA kích thích cạnh tranh giữa
những nước thành viên và do đó các
nguồn lực có khuynh hướng di chuyển
từ các lănh vực kém hiệu suất sang
những ngành có lợi thế so sánh, nhưng
đây là lợi thế so sánh tĩnh, lợi
thế dựa trên cấu tạo các nguồn
lực hiện có. Mặt khác, những lănh
vực hiện nay kém hiệu suất có thể là
những ngành non trẻ (infant industries) thuộc
diện mà các nước đi sau cần nuôi dưỡng
để tạo ra những lợi thế so sánh
mới trong tương lai.
Điểm
thứ ba nầy thực ra có liên quan mật
thiết với hiệu quả tĩnh (hiệu
quả sáng tạo mậu dịch) của FTA. Khi
FTA được thực hiện, mậu dịch
có thể được sáng tạo theo hướng
tăng cường lợi thế so sánh hiện
tại. Như vậy, một khi cơ cấu
lợi thế so sánh của nước đi sau
được đẩy mạnh và dần
dần cố định hoá th́ khả năng
chuyển hoán cơ cấu kinh tế lên những
bậc cao hơn sẽ gặp khó khăn. Do đó
khả năng tạo ra lợi thế so sánh
mới cho mục tiêu phát triển lâu dài của
nước đi sau bị giảm đi. Để
tránh cái bẫy nầy, các nước đi sau
phải nhanh chóng chuyển dịch cơ cấu
kinh tế trước khi FTA phát huy hiệu
lực mới có thể tận dụng các cơ
hội do FTA mang lại. Nói khác đi, năng
lực chuyển dịch cơ cấu là điểm
mấu chốt để các nước đi sau
tham gia vào sự phân công mới, năng động,
do FTA mang lại. Năng lực chuyển dịch
đó chỉ có thể được thực
hiện với những cải cách kinh tế và xă
hội để xoá bỏ những rào cản làm
hạn chế sự di chuyển các nguồn
lực sang những lănh vực có tiềm năng.
Khi bàn về ảnh hưởng của toàn
cầu hoá đối với phát triển kinh
tế, Dollar (2004) có nói một ư khá xác đáng:
“(Tại các nước chậm phát triển),
thuế quan đúng là những rào cản nhưng
kinh nghiệm cho thấy những rào cản khác c̣n
quan trọng hơn. Xí nghiệp có dễ dàng
lập một công ty mới, dễ dàng thuê mướn
lao động và có đủ điện để
hoạt động sản xuất không? Dù
mức thuế quan có giảm nhưng xí nghiệp
có thể dễ dàng nhập khẩu những
đầu vào cần thiết ở bến
cảng không?...”. Nói chung cải cách hành chính,
cải cách kinh tế là những tiền đề
để hội nhập có hiệu quả.
Nếu không có những cải cách mạnh mẽ
để đẩy mạnh chuyển dịch cơ
cấu kinh tế th́ FTA sẽ làm cho cơ cấu
lợi thế so sánh của các nước đi
sau không thay đổi và công nghiệp hoá của
các nước nầy sẽ gặp trở
ngại.
Điểm
nầy đưa ra nhiều gợi ư khi bàn đến
hiệu quả của cộng đồng kinh
tế Đông Á đối với các nước
đi sau tại vùng nầy.
II.
Những tiến triển của cộng đồng
kinh tế Đông Á
Vấn
đề Cộng đồng Đông Á
lần đầu tiên được chính
thức bàn đến là vào năm 2001 khi Nhóm bàn
thảo về tầm nh́n Đông Á (East Asian
Vision Group) được thành lập gồm các
thức giả trong vùng, theo sự gợi ư
của Tổng thống Hàn Quốc đương
thời Kim Dae Jung. Từ đó vấn đề
được bàn thảo từ nhiều góc
độ, bao gồm nhiều lănh vực, kể
cả kinh tế, chính trị, an ninh khu vực, văn
hoá,... Tháng 12 năm 2005, Hội nghị thượng
đỉnh Đông Á cũng được
tổ chức tại Kuala Lumpur. Tuy nhiên ai cũng
thấy tồn tại quá nhiều vấn đề
căn bản mà trong một tầm nh́n không quá
xa vào tương lai các vấn đề đó không
thể được giải quyết. Chẳng
hạn trong vấn đề an ninh khu vực, vai
tṛ của Hoa Kỳ, một nước ở ngoài
Đông Á, rất lớn. Thể chế chính
trị của các nước cũng khác nhau
nhiều. Ngay cả vấn đề thành viên
của Cộng đồng Đông Á cũng không
có sự đồng thuận.[5]
Do đó, trong một tương lai không xa,
Cộng đồng Đông Á chỉ có thể
được thực hiện trong lănh vực
kinh tế, và FTA là biện pháp cụ thể
để đạt mục đích đó. Tuy nhiên,
cho đến nay, tại Đông Á, FTA chỉ
mới được triển khai giưă 2 nước,
hoặc giữa ASEAN với một vài nước
khác trong khu vực.
Tính
đến thời điểm 22/11/2005, FTA có
hiệu lực trên thế giới đă lên đến
con số 142, phần lớn được kư
kết sau năm 1995.[6]
Ngược lại với trào lưu chung nầy,
tại Đông Á, chủ nghĩa khu vực
tiến triển chậm. Cho đến nay mới
chỉ có vài vụ đă được kư
kết. Có mấy lư do giải thích t́nh h́nh
nầy. Một là, do chiến tranh lạnh kéo dài,
do sự khác biệt về thể chế kinh
tế và do những vấn đề lịch
sử để lại, các nước có nền
kinh tế lớn như Nhật, Trung Quốc và Hàn
Quốc không tích cực t́m kiếm một định
chế hợp tác. Hai là, do chính sách
ngoại giao kinh tế của Nhật có
truyền thống nhấn mạnh quan hệ đa
phương trên quy mô toàn cầu thông qua các
định chế quốc tế như GATT
(Hiệp định chung về thuế quan và
mậu dịch) trước đây và WTO (Tổ
chức thương mại thế giới)
hiện nay.
Ba
là, trong vài chục năm qua, dù không có những
định chế thỏa thuận giữa các nước
trong vùng, các nền kinh tế tại Đông Á
vừa phát triển nhanh vừa ngày càng tuỳ
thuộc lẫn nhau thông qua hoạt động
mậu dịch và đầu tư. Trong mấy mươi
năm qua, công nghiệp hoá tiến hành rất
nhanh tại vùng nầy, phản ảnh trong tỉ
lệ tăng nhanh của hàng công nghiệp trong
tổng xuất khẩu. Các nước ở vùng
nầy ngày càng cạnh tranh mạnh trên thị trường
thế giới. Thị phần của các nước
trong vùng trong tổng xuất khẩu hàng công
nghiệp của thế giới tăng gấp
đôi, từ 18% năm 1980 đến 39% năm
2002. Đặc biệt là các nước mới công
nghiệp hoá (NIEs), ASEAN và Trung Quốc đều
tăng thị phần đáng kể.[7]
Thống kê ngoại thương cho thấy các
nước Đông Á đă tăng mạnh kim
ngạch xuất khẩu hàng công nghiệp sang các
nước nội vùng với tốc độ
cao hơn nhiều so với xuất khẩu ra toàn
thế giới. Chẳng hạn, từ năm 1992
đến 2002, tổng xuất khẩu của vùng
Đông Á (ASEAN+3) tăng 1,9 lần trong khi xuất
trong nội vùng tăng 2,6 lần. Riêng Trung
Quốc xuất khẩu ra thế giới tăng
4,4 lần nhưng sang các nước trong vùng
Đông Á tăng 7 lần. Con số tương
tự của ASEAN là 2,7 lần và 3,2 lần.
Nhiều tư liệu khác cũng đă cho
thấy khuynh hướng tập trung mậu
dịch trong nội bộ vùng Đông Á.[8]
Như
vậy, cho đến nay dù không có một định
chế hợp tác, kinh tế Đông Á trên
thực tế đă được kết
hợp thành một khối (de facto integration)
và sự kết hợp nầy được
thực hiện qua cơ chế thị trường
(market-led integration).
Tuy
nhiên từ cuối thập niên 1990, các nước
Đông Á kể cả Nhật đă tích cực
trong việc xây dựng một định chế
hợp tác khu vực v́ 2 lư do. Thứ nhất,
cuộc khủng hoảng tiền tệ ở châu
Á cho thấy cần có một định chế
hợp tác khu vực để ngăn ngừa
những bất ổn tương tự. Thứ
hai, song song với sự bế tắc trong các ṿng
đàm phán do WTO chủ truơng, chủ nghĩa
khu vực đă phảt triển mạnh tại
nh́ều nơi khác trên thế giới và xu
thế ấy đă thúc đẩy các nước
Đông Á chuyển hướng theo trào lưu
chung nầy.
Không
kể AFTA (Khu mậu dịch tự do ASEAN), thành
lập năm 1992, tại Đông Á, FTA mới
được bắt đầu bàn đến
từ năm 1999 bằng sự kiện Nhật
Bản và Hàn Quốc thoả thuận cùng nghiên
cứu khả năng và hiệu quả của
một FTA giữa hai nước. Hiện nay hai nước
vẫn chưa đi đến một sự
thoả thuận cụ thể nhưng sự
kiện nầy đă châm ng̣i cho những thảo
luận, những đề án về FTA rất sôi
nổi tại Đông Á. Theo đó, Nhật và
Singapore bắt đầu thảo luận từ tháng
11/1999 và đă kư kết Hiệp định đối
tác kinh tế (Japan-Singapore Economic Partnership Agreement,
JSEPA) vào tháng 1/2002. Hiệp định nầy không
dừng lại ở việc tự do mậu
dịch mà c̣n nhắm đến việc đẩy
mạnh đơn giản hoá, thông thoáng hoá các
thủ tục giao dịch, và cùng xúc tiến
hợp tác đối với các nước đang
phát triển. Tự do mậu dịch cũng không
giới hạn trong hàng hoá hữu h́nh mà c̣n trong
các lănh vực dịch vụ như đầu tư,
di chuyển lao động, v.v..[9]
Cũng
vào thời điểm Nhật và Singapore kư
kết JSEPA, Thủ tướng Nhật Koizumi
Jun-ichiro đề xướng lập Quan hệ
đối tác toàn diện Nhật ASEAN (Japan-ASEAN
Comprehensive Economic Partnership) và tháng 11/2002 lănh đạo
mười nước ASEAN đă đồng ư
sẽ bàn thảo về đề án nầy.
Đặc biệt Nhật Bản tỏ ra tích
cực trong hoạt động nầy sau khi Trung
Quốc đưa ra đề án lập FTA
với mười nước ASEAN vào tháng 11/2001.
Kết cuộc, Nhật và ASEAN đă thoả
thuận sẽ bắt đầu thương lượng
vào tháng 4/2005 và dự định sẽ đi
đến một thoả thuận sau hai năm
đàm phán. Tuy nhiên, cho đến nay chưa
thấy có tiến triển chủ yếu v́
Nhật Bản c̣n muốn bảo hộ thị trường
gạo và ngại phải nhập khẩu
nhiều lao động từ ASEAN, chủ yếu
là Phi-lip-pin.[10]
Hàn Quốc và ASEAN tại Hội nghị
Vientiane (tháng 11/2004) đă đồng ư sẽ
bắt đầu thương lượng trong năm
2005 để trong năm 2006 có thể kư kết
một thoả thuận với mục tiêu đến
năm 2009 xoá bỏ hoàn toàn hàng rào quan thuế
cho ít nhất 80% mặt hàng. Tuy nhiên cuộc thương
lượng nầy cũng mất nhiều
thời gian hơn dự tính.
Về
FTA song phương, tiến triển cụ thể
là các quan hệ Nhật – Phi-lip-pin, Nhật –
Malaysia và Nhật –Thái. Tuy nhiên, các bên mới
thoả thuận trên nguyên tắc, trên các hướng
chính, c̣n phải đợi một thời gian
điều chỉnh các lợi ích trong nội
bộ các nước.
Tại
Đông Bắc Á, triển vọng về việc
h́nh thành một FTA song phương Nhật
với Trung Quốc hoặc giữa Nhật
với Hàn Quốc, hay giữa Trung Quốc và Hàn
Quốc có lẽ c̣n khá xa trong tương lai. Ngoài
bối cảnh phức tạp về lịch
sử, những tranh chấp về lănh thổ cũng
làm quan hệ phức tạp thêm. Trung Quốc
bất b́nh với việc Thủ tướng
Koizumi đi lễ bái ở đền Yasukuni (nơi
thờ cúng cả những tội nhân gây
chiến tranh trong thế chiến thứ hai) nên
sự giao lưu cấp nguyên thủ quốc gia
bị ngưng lại từ nhiều năm nay.
Giữa Hàn Quốc và Nhật Bản gần đây
lại có vụ tranh chấp về chủ
quyền của ḥn đảo Takeshima. Chỉ
thuần về kinh tế, vấn đề FTA
giữa Hàn Quốc và Nhật Bản cũng
đương gặp khó khăn: Hàn Quốc
ngại hàng công nghiệp của Nhật sẽ tràn
vào và nhập siêu của nước nầy
sẽ tăng nhanh, ngược lại Nhật lo là
hàng nông phẩm của Hàn Quốc sẽ ảnh
hưởng đến nông dân của họ.
Trong
t́nh h́nh đó, FTA đa phương tại Đông
bắc Á càng không có tính khả thi. Tuy lănh đạo
Nhật, Trung Quốc và Hàn Quốc đă ra tuyên
ngôn chung sau buổi họp thượng đỉnh
tháng 10/2003 tại Bali là sẽ hướng
tới việc lập FTA gồm 3 nước
Đông Bắc Á nầy nhưng cho đến nay
không thấy có tiến triển ǵ thêm.
Về
ASEAN, từ nửa sau thập kỷ 1990, khối
nầy đă trực diện nhiều vấn
đề mới: Ảnh hưởng của
khủng hoảng tiền tệ Á châu, sự
xuất hiện mạnh mẽ của kinh tế
Trung Quốc, và sự gia tăng nhiều thành viên
mới. Các vấn đề nầy đă mở
ra một cục diện mới đối với
ASEAN. Khủng hoảng tiền tệ đă cho
thấy hạn chế của tổ chức ASEAN
trong việc ǵn giữ sự ổn định
kinh tế trong khu vực và đă gây ra những
khó khăn nhất định đối với
nền kinh tế các nước nầy. Cuộc
khủng hoảng tiền tệ cũng đă làm
lịch tŕnh thực hiện AFTA của các nước
thành viên bị chậm lại. Sự xuất
hiện của Trung Quốc đă làm cho sức
cạnh tranh của các nước ASEAN tại
những thị trường chính như Mỹ,
Nhật bị yếu đi và nhất là làm cho ḍng
chảy đầu tư nước ngoài (FDI)
chuyển hướng.[11]
Những
ảnh hưởng trên đă làm cho khoảng cách
về sức cạnh tranh và mức độ
mở cửa thị trường giữa các thành
viên trong khối ASEAN ngày càng lớn. Điển
h́nh là giữa Xinh-ga-po với các nước khác.
So với các thành viên khác, Xinh-ga-po vừa là
một nền kinh tế mở vừa ít bị
ảnh hưởng của khủng hoảng
tiền tệ nên đă không bằng ḷng với
tiến độ thực hiện AFTA sau khi có
khủng hoảng tài chánh tại Á châu và đă
tích cực kư kết hiệp định tự do
mậu dịch song phương với các nước
ngoài khu vực. Các nước thành viên khác
của ASEAN lo lắng về hậu quả
chuyển hoán mậu dịch tại những nước
kư kết FTA với Xinh-ga-po nên đă có những
hành động tương tự đối
với những đối tác trong FTA của
Xinh-ga-po nhằm ngăn ngừa hậu quả
đó. Đặc biệt Thái Lan đẩy
mạnh việc triển khai FTA với Nhật và
các nước khác. Phi-líp-pin, Ma-lai-xia và In-đô-nê-xia
cũng tỏ ra tích cực. Trong bối cảnh
đó, ta có thể hiểu được ngay
tại sao Phi-líp–pin và Thái Lan đặc biệt
có thái độ tích cực đáp lại đề
nghị của Trung Quốc, chấp nhận
việc sớm tự do hoá mậu dịch đối
với những mặt hàng nông sản phẩm trước
khi mục tiêu chung cho các sản phẩm khác
sẽ được thực hiện vào năm
2010 đối với các thành viên cũ và năm
2015 đối với các thành viên mới của
ASEAN.
Nh́n
chung những tiến triển về hiệp định
tự do mậu dịch (FTA) tại Đông Á cho
đến nay có đặc tính là xoay quanh các nước
ASEAN. Đặc biệt, Nhật Bản và Trung
Quốc đă tranh nhau đưa ra đề án
FTA song phương giữa ASEAN với ḿnh do đó
tại vùng nầy đương từng bước
h́nh thành các thể chế ASEAN+1 (ASEAN cộng
với một trong ba nước có nền kinh
tế lớn ở Đông Á là Nhật Bản,
Trung Quốc và Hàn Quốc). Trong trào lưu đó,
sự kiện đáng được quan tâm
nhất là FTA giữa ASEAN với Trung Quốc (dưới
đây gọi tắt là CAFTA).
Trung
Quốc và mười nước ASEAN qua các
Hội nghị thượng đỉnh ở
Brunei (2001), Phnom Penh (2002), Bali (2003) và Vientiane (2004)
đă lần lượt thoả thuận các bước
chuẩn bị để cuối cùng đi đến
kư kết các hiệp ước liên quan đến
Hiệp định mậu dịch tự do (FTA),
một cơ cấu hợp tác kinh tế lôi
cuốn sự quan tâm của thế giới
từ bốn năm nay khi Trung Quốc đưa
ra đề án và được các nước
ASEAN hưởng ứng. CAFTA có hiệu lực
từ tháng 1 năm 2005.
Điểm
nổi bật của Hiệp định nầy là
Trung Quốc đă nhượng bộ tối
đa, đưa ra một đề án
với nội dung hấp dẫn để các nước
ASEAN dễ chấp nhận. Ngoài kế hoạch
giảm thuế nói chung, hiệp định bao
gồm một chương tŕnh gọi là Thu
hoạch sớm (Early Harvest) để giảm
thuế ngay (từ đầu năm 2004) những
mặt hàng nông phẩm mà đa số các nước
ASEAN đặc biệt quan tâm. Trong hiệp định,
Trung Quốc cũng đặc biệt chiếu
cố các thành viên mới của ASEAN
(Việt Nam, Lào, Myanmar và Cambodia): Trung Quốc dành
sự đăi ngộ tối huệ quốc (MFN)
cho cả các nước chưa gia nhập WTO, tŕ
hoăn nghĩa vụ thực hiện FTA đối
với các thành viên mới, viện trợ 5
triệu USD cho chương tŕnh phát triển lưu
vực sông Mekong, phụ đảm 1/3 phí tổn
xây đường cao tốc nối Côn Minh
với Bangkok.
Có
nhiều yếu tố giải thích thái độ
tích cực của Trung Quốc: Thứ nhất,
Trung Quốc sẵn vị trí chủ đạo
trong quá tŕnh h́nh thành cộng đồng hợp
tác Đông Á trong tương lai. Cho đến
cuối thập niên 1990, Trung Quốc trong việc
chuẩn bị gia nhập WTO, chưa rảnh tay
nghĩ về cơ chế hợp tác khu vực
Đông Á. Sau khi đạt được
thoả thuận tay đôi với Mỹ vào tháng
11 năm 1999, Trung Quốc xem như việc gia
nhập WTO chỉ c̣n là vấn đề thời
gian (thực tế Trung Quốc gia nhập năm
2001), Trung Quốc bắt đầu triển khai
chiến lược Đông Á mà điểm đột
phá được chọn là ASEAN v́ ở đây
Nhật và Mỹ cũng đương chú
trọng, Trung Quốc thấy cần tạo ngay
ảnh hưởng. Ngoài ra, quá tŕnh h́nh thành
cộng đồng hợp tác Đông Á sẽ
phải bắt đầu từ ASEAN, không thể
từ Nhật, Trung Quốc hay Hàn Quốc v́ các
quan hệ phức tạp về lịch sử
đương tồn tại. Thứ hai, có ư
kiến cho rằng Trung Quốc muốn qua FTA đẩy
mạnh quan hệ với ASEAN để kiềm
chế chiến lược hướng Nam
của Đài Loan (thông qua đầu tư
trực tiếp và mậu dịch, sự hiện
diện của Đài Loan tại ASEAN ngày càng
lớn).[12]
Thứ ba, từ thập niên 1990, kinh tế Trung
Quốc phát triển quá nhanh, cạnh tranh với
ASEAN trên khắp các thị truờng lớn trên
thế giới, tạo ra mối lo ngại tại
các nước nầy. Để xoa dịu
mối lo nầy ở ASEAN, Trung Quốc thấy
cần gây ấn tượng là kinh tế Trung
Quốc lớn mạnh cũng đưa lại cơ
hội phát triển cho các nước ASEAN.[13]
Thứ tư, Trung Quốc cần đẩy
mạnh phát triển vùng Tây Nam để thu
hẹp khoảng cách với vùng duyên hải,
chiến lược tiếp cận ASEAN hy vọng
sẽ mở rộng mậu dịch giữa các
tỉnh Vân Nam, Tứ Xuyên, Quảng Tây với Thái
Lan và các nước thành viên mới của ASEAN.
Về giao thông, các tỉnh Vân Nam, Tứ Xuyên
tiếp cận dễ dàng với Việt Nam,
Myanmar, Lào và Thái Lan hơn là với vùng duyên
hải của Trung Quốc. Triển vọng
hợp tác tiểu vùng Mekong mà Hành lang Nam Bắc
là một trong những dự án trọng điểm
sẽ thúc đẩy mậu dịch giữa vùng
Tây Nam Trung Quốc với các nước ASEAN.
Về
phía ASEAN, như đă đề cập ở trên,
từ nửa sau thập kỷ 90, khối nầy
đă trực diện nhiều vấn đề
mới như ảnh hưởng của khủng
hoảng tiền tệ Á châu, sự xuất
hiện mạnh mẽ của kinh tế Trung
Quốc, và sự gia tăng nhiều thành viên
mới. Đặc biệt sự xuất hiện
của Trung Quốc đă làm cho sức cạnh
tranh của các nước ASEAN trên thị trường
thế giới bị yếu đi và nhất là làm
cho ḍng chảy đầu tư nước ngoài
(FDI) chuyển hướng. Do bối cảnh
nầy, từ giữa thập niên 1990, nhiều nước
ASEAN xem kinh tế Trung Quốc là mối đe
doạ cho sự tăng trưởng vùng Đông
Nam Á.
Tuy
nhiên, từ khoảng năm 2001, nhiều nước
ASEAN, đặc biệt là Malaixia và Thái Lan,
dần dần xem kinh tế Trung Quốc c̣n là cơ
hội để các nước nầy
tiếp tục tăng trưởng, v́ thấy
cùng với xuất khẩu, nhập khẩu của
Trung Quốc cũng tăng nhanh và các nước
như Nhật, Hàn Quốc, v.v.. đă xuất
khẩu mạnh mẽ vào thị trường
nầy. Chính các nước ASEAN cũng dần
dần thấy là đối với họ,
thị trường Trung Quốc ngày càng có vai tṛ
quan trọng. Từ giữa thập niên 1990s, các nước
ASEAN đă đẩy mạnh xuất khẩu hàng
công nghiệp ra thị trường thế
giới nhưng tốc độ xuất khẩu
sang Trung Quốc tăng
nhanh hơn các thị trường khác. Chẳng
hạn Thái Lan trong giai đoạn 1992-2002 xuất
khẩu hàng công nghiệp ra thế gíơi tăng
2,3 lần, nhưng sang Trung Quốc
tăng tới 23,7 lần. Các con số tương
ứng của Ma-lai-xia là 2,8 lần và 13,6 lần,
Phi-lip-pin là 4,4 lần và 15,1 lần. Dĩ nhiên vào
năm 1992 các nước ASEAN buôn bán với Trung
Quốc chưa nhiều nên
dễ làm cho tốc độ tăng nhanh. Tuy nhiên,
hiện nay Trung Quốc đă chiếm một
vị trí quan trọng trong thị trường
xuất khẩu của ASEAN và tiềm năng thâm
nhập vào thị trường nầy c̣n rất
lớn. Do đó, ASEAN tích cực hưởng
ứng kư kết FTA với Trung Quốc
với hy vọng khai thác tiềm năng
nầy.
Nội
dung chính của FTA Trung Quốc ASEAN là chương
tŕnh cắt giảm thuế quan để mở
rộng mậu dịch, trong đó các nhóm mặt
hàng được chia làm 2 loại, loại thông
thường (normal track) và loại nhạy cảm
(sensitive track). Trong loại thông thường, Trung
Quốc và các nước thành viên cũ bắt
đầu cắt giảm thuế từ tháng
1/2005 và băi bỏ hoàn toàn thuế quan vào năm
2010, các nước thành viên mới th́ mục tiêu
bỏ hoàn toàn thuế quan vào năm 2015. Chi
tiết cụ thể về loại nhạy
cảm chưa được xác định, hai bên
sẽ thương lượng trong thời gian
tới. Chương tŕnh Thu hoạch sớm
thực hiện cắt giảm thuế từ 2004
đến 2006 đối với các thành viên cũ
của ASEAN và từ 2004 đến 2008 đối
với Việt Nam (Lào, Myanmar đến năm 2009
và Cambodia đến năm 2010).
III.
Các nước đi sau trong Cộng đồng
kinh tế Đông Á
Như
đă phân tích ở trên, trào lưu gần đây
cho thấy nhiều nỗ lực nhắm tới
việc h́nh thành các cơ chế hợp tác khu
vực mà FTA là trọng tâm. Đặc điểm
của các trào lưu nầy là xoay quanh ASEAN. ASEAN
đang và sẽ tiến hành thành lập FTA
với từng nước ở Đông Bẵc Á
(tức ASEAN+1). Như đă thấy, hiện nay
FTA giữa ASEAN và Trung Quốc đă được
kư kết. Trong tương lai gần, ASEAN với
Nhật Bản, sau đó ASEAN với Hàn Quốc cũng
sẽ có những hợp tác tương tự.
Cuối cùng trong một tương lai không quá xa,
h́nh thái cao nhất mà khu vực Đông Á có
vẻ thực hiện được là FTA cho toàn
khu vực (ASEAN+3). Đó là nội dung của
Cộng đồng kinh tế Đông Á mà ta có
thể h́nh dung được ở thời điểm
nầy. Dù h́nh thái nầy không cao (theo phân
loại của Balassa), con đường đi
đến mục tiêu nầy cũng c̣n nhiều
khó khăn. Ngoài những khó khăn liên quan đến
việc điều chỉnh lợi ích giữa các
ngành, các nhóm trong mỗi nước (nên tiến
độ thương lượng, kư kết các
FTA phải chậm lại như ta đa thấy),
một khó khăn lớn khác là làm sao giải
quyết vấn đề của các nước
đi sau. Các nước đi sau ở khu vực
nầy là bốn thành viên mới của khối
ASEAN: Việt Nam, Lào, Cambodia và Myanmar. Dĩ nhiên
giữa bốn nước nầy cũng có chênh
lệch nhiều về tŕnh độ phát
triển, trong đó Việt Nam phát triển cao hơn
và có nhiều thuận lợi hơn trong quá tŕnh
công nghiệp hoá so với ba nước kia. Tuy nhiên
ở thời điểm hiện tại, trong
sự phân công quốc tế ở vùng Đông Á,
Việt Nam cũng gặp các vấn đề
của những nước đi sau mà ta đă
phân tích trong phần phương pháp luận
ở trên.[14]
Để
thấy rơ vấn đề nầy ta thử xét
quan hệ mậu dịch giữa Trung Quốc và các
nước ASEAN, từ đó sẽ thấy
ảnh hưởng của CAFTA đối với
bốn nước đi sau không khác nhau nhiều.[15]
Dựa
trên thống kê Liên hiệp quốc để phân
tích cơ cấu mậu dịch của Trung
Quốc đối với các nước ASEAN ta
thấy Trung Quốc chủ yếu buôn bán vơí
các nước thành viên cũ, đặc biệt
riêng hai nước Xin-ga-po và Ma-lai-xia chiếm
tới hơn phân nửa kim ngạch mậu
dịch giữa Trung Quốc và ASEAN. Ngược
lại, kim ngạch mậu dịch giữa Trung
Quốc với Lào, Cambodia và Myanmar hầu như
không đáng kể, kim ngạch buôn bán với
Việt Nam cũng c̣n ít. Một điểm
nữa là gần đây (2002), Trung Quốc
nhập siêu với tất cả sáu nước
thành viên cũ của ASEAN trong khi đó xuất
siêu với tất cả bốn nước
thành viên mới. Nếu tách riêng hàng công
nghiệp ra để khảo sát ta cũng
thấy những đặc điểm tương
tự.
Về
cơ cấu ngoại thương giữa Trung
Quốc và mười nước
ASEAN ta thấy: Một là, hàng công nghiệp
chiếm tỉ trọng khá lớn trong xuất
khẩu của Trung Quốc đối với
hầu hết các nước ASEAN. Tỉ lệ hàng
công nghiệp cũng cao trong nhập khẩu
của Trung Quốc từ
các nước thành viên cũ. Tuy nhiên, nhập
khẩu của Trung Quốc
từ Việt Nam và các nước thành viên
mới th́ phần lớn là hàng nông sản
hoặc quặng mỏ, tỉ lệ hàng công
nghiệp khá thấp. Hai là, trong cơ cấu
nhập khẩu của Trung Quốc từ các nước
thành viên cũ của ASEAN, tỉ lệ của hàng
công nghiệp đặc biệt tăng nhanh (giai
đoạn 1996-2002), nhất là Phi-lip-pin, Thái Lan,
In-đô-nê-xia, nói lên nỗ lực của các nước
nầy trong việc chuyển dịch cơ cấu
xuất khẩu của họ sang Trung
Quốc. Ngược lại, sự chuyển
dịch đó không đáng kể trong truờng
hợp các nước thành viên mới. Tóm
lại có sự phân công hàng ngang (vừa xuất
và nhập hàng công nghiệp) giữa Trung Quốc
với các nước thành viên cũ của ASEAN,
nhưng giữa Trung Quốc với các nước
thành viên mới th́ có sự phân công hàng dọc
Trung Quốc xuất hàng công
nghiệp và nhập hàng nông lâm thuỷ sản và
nguyên liệu khai từ các loại quặng
mỏ).
Từ
cơ cấu mậu dịch như đă phân tích,
hiệu quả của CAFTA đối với ASEAN
sẽ ra sao? Như đă nói, để phân tích
hiệu quả cần có thông tin về thuế
quan hiện nay của những mặt hàng buôn bán
chủ yếu giữa ASEAN và Trung Quốc. Theo tính
toán sơ bộ của chúng tôi (Trần Văn
Thọ và Matsumoto 2004), đối với những
nước thành viên cũ của ASEAN, những
mặt hàng nhập khẩu chủ yếu
từẳnung Quốc đang có thuế suất
thấp (phần lớn dưới 10%, nhiều
mặt hàng 0%). Ngược lại, những
mặt hàng chủ yếu mà Trung Quốc nhập
khẩu từ các nước thành viên cũ
của ASEAN th́ thuế quan cao hơn nhiều. Do
đó, hiệu quả của CAFTA sẽ lớn
đối với các nước thành viên cũ
như Thái Lan, Ma-lai-xia, Phi-li-pin (tăng xuất
khẩu từ các nước nầy sang Trung
Quốc khi thuế quan bên Trung Quốc giảm), và
hiệu quả của CAFTA đối với Trung
Quốc có thể thấp hơn các nước
ASEAN nầy. Tuy nhiên, trong các ngành máy móc như
đồ điện gia dụng, xe máy, xe hơi,
máy tính cá nhân, máy in, v.v.., thuế quan của
ASEAN đối với hàng nhập các bộ
phận, linh kiện từ Trung Quốc c̣n cao, ít
nhất cao hơn thuế suất áp dụng trong
AFTA. Do đó, khi CAFTA thành lập, xuất khẩu
của Trung Quốc sang ASEAN sẽ tăng với
tốc độ nhanh hơn hiện nay. Hiện
nay, trong các ngành máy móc nói trên, Trung Quốc
xuất và nhập cùng một loại mặt hàng
(ngoại thương trong nội bộ từng ngành,
intra-industry trade) và các nước thành viên cũ
của ASEAN cũng có khuynh hướng tương
tự. Giữa Trung Quốc và ASEAN cũng có
hiện tượng cùng xuất và nhập
những mặt hàng trong nội bộ các ngành máy
móc. Các công ty đa quốc gia đă và
đương xây dựng mạng lưới
sản xuất tại Á châu, tuỳ theo đặc
tính của mỗi linh kiện, bộ phận mà
chọn địa điểm sản xuất
tại từng nước. Như vậy nếu
thuế quan giảm theo lộ tŕnh của CAFTA,
việc xây dựng mạng lưới sản
xuất nói trên sẽ thực hiện dễ dàng
hơn và ta có thể kỳ vọng ngoại thương
trong nội bộ từng ngành sẽ được
triển khai mạnh mẽ hơn giữa Trung
Quốc và ASEAN.
C̣n
chỗ đứng của các thành viên mới, các
nước đi sau trong cộng đồng Đông
Á, và hiệu quả của CAFTA đối
với kinh tế các nước nầy ra sao?
Ở đây ta thử khảo sát trường
hợp Việt Nam, so sánh Việt Nam với
Phi-li-pin và Thái Lan là những nước có cơ
cấu kinh tế và tŕnh độ phát triển tương
đối gần Việt Nam. So sánh hai nước
nầy với Việt Nam trong quan hệ ngoại
thương với Trung Quốc, ta thấy vị
trí của Việt Nam hiện nay đang bất
lợi: Thứ nhất, kim ngạch xuất
khẩu từ Trung Quốc sang ba nước
Việt Nam, Phi-li-pin và Thái Lan hầu như
bằng nhau, nhưng nhập khẩu của Trung
Quốc từ Việt Nam rất ít trong khi
Phi-li-pin và Thái Lan đang mạnh mẽ tiến vào
thị truờng to lớn nầy. Việt Nam đang
nhập siêu nhiều với Trung Quốc, trong khi
Thái Lan và Phi-lip-pin đều xuất siêu ở
mức cao. Thứ hai, phần lớn hàng xuất
khẩu của Trung Quốc sang ASEAN là hàng công
nghiệp; hai nước Phi-lip-pin và Thái Lan từ
1996 đến 2002 cũng thành công trong chuyển
dịch cơ cấu xuất khẩu sang Trung
Quốc. Trong khi đó tỉ lệ hàng công
nghiệp trong tổng nhập khẩu của Trung
Quốc từ Việt Nam hiện nay chỉ hơn
10% (các loại khoáng sản như dầu thô, than
đá chiếm độ 70% và nông sản gần
20%). Như vậy quan hệ ngoại thương
giữa Việt Nam và Trung Quốc có đặc tính
là sự phân công hàng dọc[16]
trong khi đó, như đă đề cập, các
nước ASEAN khác triển khai phân công hàng ngang
với thị truờng lớn nầy.
Về
hàng công nghiệp, như đă nói ở trên,
hiện nay mức thuế tại các nước
thành viên cũ của ASEAN tương đối
thấp, thuế ở Trung Quốc cao hơn.
Với năng lực cung cấp hiện nay và
kế hoạch tiếp nhận đầu tư
trực tiếp nước ngoài (FDI) để
mở rộng sản xuất, các nước Thái
Lan, Malaixia, Phi-lip-pin,… có triển vọng sẽ tăng
xuất khẩu hàng công nghiệp sang Trung Quốc
hơn nữa khi thuế suất giảm dần
trong khuôn khổ FTA. Hai bên sẽ tiếp tục
đẩy mạnh phân công hàng ngang trong ngoại
thương. Riêng truờng hợp Việt nam và các
nước đi sau khác, hiện nay thuế quan
của nhiều mặt hàng công nghiệp
đương rất cao mà hàng Trung Quốc
vẫn thâm nhập vào được nên có
thể dự đoán được rằng khi
thuế quan được tiến hành cắt
giảm trong khuôn khổ FTA, hàng công nghiệp
Trung Quốc sẽ ào ạt vào thị trường
các nước nầy nếu khả năng
cạnh tranh của các nước nầy không
thay đổi. Như vậy quá tŕnh công
nghiệp hoá của các nước đi sau
sẽ gặp khó khăn. Mặt khác, thị
truờng Trung Quốc sẽ rộng mở hơn
nhưng với năng lực cung cấp hiện
nay, Việt Nam và các nước ASEAN mới
khó có thể tận dụng cơ hội do FTA
với Trung Quốc mang lại.
Hiệu
quả tĩnh của
FTA đối với các nước đi sau như
vậy là đáng lo. Con đường duy
nhất để khắc phục hiệu quả
nầy là chủ động tạo ra một
sự chuyển dịch đáng kể trong cơ
cấu ngoại thương với Trung Quốc
để làm phát sinh hiệu quả động
của FTA bằng cách tận dụng cơ
hội do FTA với Trung Quốc mang lại. Các nước
ASEAN mới sẽ hoàn toàn băi bỏ hàng rào quan
thuế đối với hàng công nghiệp Trung
Quốc từ năm 2015 nhưng trước đó
đă phải giảm đáng kể mức
thuế quan. Do đó, thách thức sẽ đến
trong 5,6 năm tới. Thời gian không c̣n
nhiều. các nước nầy phải tận
dụng FDI, t́m mũi đột phá cho chiến lược
công nghiệp hoá để đối phó có
hiệu quả thánh thức nầy và tận
dụng được cơ hội do thị
truờng Trung Quốc mang lại trong khuôn khổ
FTA.
Phân
tích trên đây gợi ư cho thấy rằng
nếu ASEAN kư kết một FTA với Nhật
Bản hay với Hàn Quốc trong tương lai,
hiệu quả đối với các nước
đi sau cũng sẽ tương tự như
CAFTA.
Phân
tích về phương pháp luận ở Tiết
I đă cho thấy các nước đi sau
phải có chiến lược để thoát
khỏi cái bẫy co cụm lại với lợi
thế so sánh hiện tại. Chiến lược
nầy phải khẩn trương v́ thời gian
không nhiều. Mặt khác, các nước đi trước
cần có chính sách hợp tác về kinh tế,
kỹ thuật để các nước đi sau
có thể nhanh chóng đối phó với cái
bẫy co cụm ấy. Kết cuộc, nh́n
từ các nước đi sau, nội dung của
quá tŕnh thực hiện cộng đồng Đông
Á trước mắt có lẽ sẽ dựa trên
ba lănh vực mà trước đây Diễn đàn
kinh tế châu Á Thái b́nh dương (APEC) đă
nhắm tới, đó là tự do hoá mậu
dịch (trade liberalization), nhanh chóng hoá và dễ dàng
hoá hoạt động mậu dịch (facilitation)
, và hợp tác kinh tế kỹ thuật (eco-tech)
đối với những nước c̣n ở tŕnh
độ phát triển thấp.[17]
Vài
lời kết
Vùng
Đông Á đang chuyển động về
cả hai mặt: một là hoạt động
giao thương, đầu tư đang triển
khai nhộn nhịp làm cho các nước ngày càng
tuỳ thuộc vào nhau; hai là các cơ chế
hợp tác mà trọng tâm là FTA cũng đang h́nh
thành. Trong t́nh h́nh đó, nhiều người
kỳ vọng một cộng đồng kinh
tế sẽ ra đời tại Đông Á trong tương
lai. Tuy nhiên, trong khoảng 10 năm trước
mắt, FTA mà tự do mậu dịch và các kênh
hợp tác kinh tế như chuyển giao công
nghệ, dễ dàng hoá, hiệu suất hoá
hoạt động mậu dịch vẫn c̣n
những nội dung chủ đạo của
cộng đồng kinh tế Đông Á. Những
lănh vực ở thứ nguyên cao hơn như
thiết lập đồng tiền chung Á châu, xây
dựng chính sách tiền tệ tài chánh chung, v.v..
là những vấn đề của một tương
lai xa hơn.
Cộng
đồng kinh tế Đông Á triển khai theo
chiều hướng nói trên sẽ ảnh hưởng
đến các nước đi sau trong đó có
Việt Nam như thế nào? Có thể nói đây
là cơ hội giao thương lớn nhất
đối với các nước đi sau ở
Đông Á. Nhiều nghiên cứu cho thấy FTA
tại Đông Á có khuynh hướng làm tăng
tốc độ phát triển kinh tế của các
nước trong vùng, và những nước
hiện có nền kinh tế càng nhỏ càng có
lợi hơn trong thể chế hợp tác FTA. Tuy
nhiên để tận dụng được các
cơ hội nầy, các nước đi sau
phải thực thi các cải cách xă hội và
kinh tế, thu hút FDI, tạo ra một cơ
cấu lợi thế so sánh mới. Nếu không,
cơ cấu lợi thế so sánh hiện tại
sẽ bị cố định hoá và con đường
công nghiệp hoá sẽ gặp nhiều khó khăn.
Tư
liệu có trích dẫn
Balassa,
Bela (1961), The Theory of Economic Integration, Greenwood
Press, Publishers.
Bowles,
Paul (1997), ASEAN, AFTA and the ‘New Regionalism’, Pacific
Affairs, 70(2), 1997, pp.219-233.
Dollar,
David (2004), Development Topics (Globalization): Questions and
Answers With David Dollar, the World Bank.
(http://www1.worldbank.org/economicpolicy/globalization/dollarqa.htm)
Krumm,
Kathie and Homi Kharas, eds. (2004),
East Asia Integrates: A Trade Policy Agenda for Shared Growth,
World Bank and Oxford University Press.
Maie
Yoichi (2004), Chugoku no FTA Seisaku ( ), Ch. 7 trong
Watanabe chủ biên (2004),
Plummer,
Michael G., ASEAN and the Theory of Regional Economic Integration: A
Survey, ASEAN Economic Bulletin, 14(2), 1997, pp.202-214.
Schiff,
Maurice và L. Alan Winters (2003), Regional Integration and
Development, The World Bank.
Trần
Văn Thọ (1997), Công nghiệp hoá Việt Nam
trong thời đại châu Á Thái b́nh dương,
NXB Thành phố Hồ Chí Minh, Thời báo kinh
tế Saigon và VAPEC.
Trần
Văn Thọ (2002), Tính chất bắc-nam trong quan
hệ kinh tế Việt Trung, Thời báo kinh
tế Saigon, số báo Tết Bính Ngọ.
Trần
Văn Thọ (2005), Biến động kinh
tế Đông Á và con đường công
nghiệp hoá Việt Nam , NXB Chính trị
quốc gia, Hà Nội (Nhà xuất bản Trẻ tái
bản năm 2006).
Tran
Van Tho and Kunichika Matsumoto (2006), ASEAN-Chugoku no FTA: Sono
Imito Inpakuto no Kosatsu (FTA between China and ASEAN: Significance
and Impact), Touhokugakuin Daigaku Touhokusangyoukenkyuujo kiyou,
vol.25, February, pp47-67.
Watanabe,
Toshio chủ biên (2004), Higashi Ajia Shijo Togo e no Michi
(Con đường hợp nhất thị
truờng Đông Á) , NXB Keiso-Shobo, Tokyo.
Yamazawa,
Ippei, ed. (2000), Asia Pacific Economic Cooperation (APEC):
Challenges and Tasks for the Twenty-first Century, Procedings of
the 25th Pacific Trade and Development Conference in
Osaka, June 1999, London: Routlege.
Yamazawa,
Ippei (2001), Ajia Taiheiyo Keizai-nyumon (Asia-Pacific Economy
and APEC), Toyo-keizai Shinposha, Tokyo.
Zheng
Bijian (2005), China’s “Peaceful Rise to Great-Power Status, Foreign
Affairs, September/ October, pp. 18-24.
[1]
Ngoài
FTA và
EPA, c̣n
một
khái
niệm
nữa
là
RTA (Regional Trading Agreement). RTA phạm
vi nhỏ
hơn
EPA nhưng
tác
động
lại
sâu
hơn
v́
có
đặc
tính
của
một
liên
minh về
quan thuế
(custom union) nghĩa
là
các
bên
kư
kết
hiệp
định
đó
có
cùng
một
chính
sách
thuế
quan đối
với
các
nước
bên
ngoài
hiệp
định.
[2]
Bowles (1997) và
Plummer (1997) đặc
biệt
nhấn
mạnh
yếu
tố
nầy
khi khảo
sát
hiệu
quả
của
FTA đối
với
FDI..
[3]
FTA trong trường
hợp
nầy
c̣n
được
gọi
là
Hiệp
định
tự
do thương
mại
Bắc
Nam (North South free trade argreement).
[4]
Schiff and Winters (2003), p. 14 có
cùng
nhận
xét
nầy.
[5]
Nhật
muốn
Ấn
Độ
tham gia và
Hoa Kỳ
làm
quan sát
viên
để
kiềm
chế
Trung Quốc,
trong khi Trung Quốc
chủ
trương
Đông
Á
chỉ
nên
gồm
ASEAN và
3 nước
Đông
Bắc
Á
(Nhật,
Hàn
Quốc
và
Trung Quốc).
Thoả
hiệp
cuối
cùng
là
Hội
nghị
thượng
đỉnh
Đông
Á
(12/2005) gồm
cả
Ấn
Độ,
Úc
và
New Zealand, nhưng
không
mời
Mỹ
làm
quan sát
viên..
[6]
Theo WTO/FTA column (January 31, 2006) trên
website của
JETRO: http://
www.jetro.go.jp/biz/world/international/column/pdf/039-revision.pdf.
[7]
Trong giai đoạn
nầy
thị
phần
của
Nhật
giảm
v́
đă
tăng
nhanh trong thời
gian trước
đó
(từ
4,2% năm
1955 tăng
lên
10% năm
1975). Xem Trần
Văn
Thọ
(1997), p. 80.
[8]
Xem Trần
Văn
Thọ
(2005), Ch. 2 và
Ch. 4..
[9]
Cũng
v́
phạm
vi hợp
tác
khá
rộng
nầy,
hiệp
định
nầy
không
gọi
là
FTA mà
là
Hiệp
định
đối
tác
kinh tế
(EPA) Nhật
–Singapore.
[10]
Theo báo
Asahi ngày
1/12/2004, trong nội
bộ
chính
phủ
Nhật
có
người
phản
đối
việc
định
ra một
mốc
thời
gian nhất
định
cho việc
kư
kết
hiệp
định
Nhật-ASEAN
v́
sợ
Nhật
phải
sớm
chịu
những
nhượng
bộ
liên
quan đến
nông
phẩm
nhập
khẩu
từ
ASEAN.
[11]
Về chi tiết, xem lại Chương 3 trong
Trần Văn Thọ (2005).
[12]
Maie (2004) đặc
biệt
nhấn
mạnh
điểm
nầy..
[13]
Trung Quốc
gần
đây
dùng
khái
niệm
quật
khởi
hoà
b́nh
(phát
triển
mạnh
mẽ
trong hoà
b́nh,
bằng
các
biện
pháp
hoà
b́nh
như
tiếp
nhận
FDI, chuyển
giao công
nghệ,...
và
có
tác
dụng
tốt
đến
các
nước
khác)
để
diễn
tả
ư
tưởng
nầy.
Xem, chẳng
hạn,
Zheng (2005).
[14]
Tại
Đông
Á,
nếu
so với
Nhật
và
Hàn
Quốc
th́
Thái
Lan và
các
nước
khác
ở
nhiều
khía
cạnh
cũng
là
những
nước
đi
sau. Tuy nhiên,
các
nước
nầy
đă
qua một
quá
tŕnh
công
nghiệp
hoá
khá
dài
và
hiện
nay đă
thành
công
trong việc
triển
khai quan hệ
phân
công
hàng
ngang (cùng
xuất
và
nhập
hàng
công
nghiệp)
với
Nhật
và
các
nước
đi
trước.
[15]
Ở
đây
chỉ
tóm
lược
các
điểm
chính.
Về
chi tiết
xem Trần
Văn
Thọ
(2005), Ch. 6.
[16]
Tôi
đă
có
dịp
phân
tích
cơ
cấu
ngoại
thương
nầy
và
gọi
quan hệ
kinh tế
giữa
Việt
Nam và
Trung Quốc
là
quan hệ
Bắc
Nam. Xem Trần
Văn
Thọ
(2002).
[17]
Xem Trần
Văn
Thọ
(1997), Ch. 10, Yamazawa (2000) và
Yamazawa (2001).
Nguồn :
Bài đă đăng trên Thời Đại Mới số 8 tháng 7/2006.
Đăng lại trên ERCT với sự đồng ư của GS Trần Văn
Thọ
®
"Khi phát hành lại bài viết
của trang này cần phải có sự đồng
ư của tác giả
và ghi rơ nguồn lấy từ www.erct.com
|
|