|
Phần I: Biến động kinh tế
Đông Á và vị trí của Việt Nam
Chương 5:
Thách thức AFTA và công nghiệp Việt Nam
Việt Nam tiến hành công nghiệp hóa trong bối cảnh mà trào lưu
toàn cầu hoá kinh tế ngày càng mạnh mẽ. Nói cụ thể hơn, thị trường
thế giới đang rộng mở cho hàng công nghiệp Việt Nam, nhưng ngược
lại, Việt Nam cũng phải mở cửa thị trường trong nước, tiến hành tự
do thương mại. Nếu năng lực cạnh tranh của Việt Nam mạnh th́ cơ hội
của toàn cầu hoá sẽ lớn và thách thức sẽ nhỏ.
Trước mắt, cùng với quan hệ với Trung Quốc, Khu vực thương mại tự
do ASEAN (AFTA) là thách thức trực tiếp đối với công nghiệp hoá Việt
Nam.
5.1. AFTA: Thử thách hội nhập đầu tiên của Việt Nam
AFTA (ASEAN Free Trade Area) được sáu nước thành viên cũ của
ASEAN quyết định thành lập năm 1992 nhằm mục đích băi bỏ hàng rào
quan thuế để tiến hành tự do thương mại giữa các nước trong khối.
Sau một số lần điều chỉnh, vào năm 1995, các nước đă quyết định mục
tiêu giảm thuế quan xuống dưới 5% vào năm 2003 và băi bỏ hoàn toàn
hàng rào quan thuế vào năm 2010. Gia nhập ASEAN năm 1995, Việt Nam
cũng tham gia AFTA từ năm 1996 với mục tiêu giảm thuế quan nhập khẩu
từ các nước thành viên xuống dưới 5% vào năm 2006 và 0% vào năm
2017.(1)
Các cam kết của Việt Nam được tiến hành nhanh từ giữa năm 2003.
Như Bảng 5.1 cho thấy, vào giữa năm 2004, Việt Nam đă đưa hơn 10.000
ḍng thuế (chiếm khoảng 95% tổng số các ḍng thuế) vào danh mục các
mặt hàng sẽ được cắt giảm thuế (gọi là Inclusion List, IL) theo
Chương tŕnh thuế quan ưu đăi có hiệu lực chung (Common Effective
Preferential Tariffs, CEPT) của AFTA, trong đó gần 7.500 ḍng thuế
đă được cắt giảm xuống dưới 5%. Tư liệu mới hơn cho thấy vào năm
2005 số ḍng thuế được cắt giảm sẽ tăng lên 8.459 và vào năm 2006 sẽ
tăng lên 10.443. (2)
Cho đến giữa năm 2003, các hàng công nghiệp được đưa vào danh mục
giảm thuế trên nguyên tắc được chọn theo tiêu chuẩn không hoặc ít
ảnh hưởng đến các ngành mới bắt đầu phát triển trong nước và đang
được bảo hộ. Những ngành này được nằm trong danh mục loại trừ tạm
thời (Temporary Exclusion List, TEL) ra khỏi khuôn khổ CEPT. Tuy
nhiên, từ năm 2004, trừ một vài ngoại lệ, tất cả các mặt hàng công
nghiệp đều được đưa vào chương tŕnh giảm thuế xuống dưới 5% chậm
nhất là năm 2006.

Những mặt hàng tiêu biểu được chuyển sang danh mục giảm thuế IL
từ năm 2001 là thép xây dựng, chế phẩm kính, bộ phận và linh kiện
tivi, máy phát điện, v.v.. Những ngành chuyển từ TEL sang IL vào năm
2002 là máy giặt, tủ lạnh, đồng hồ, linh kiện đồng hồ, rượu vang,
nước hoa, v.v.. Năm 2003, những ngành chuyển từ TEL sang IL là bia,
rượu, xăng dầu, xe hơi, xe máy, phân bón, hoá chất, v.v.. Hầu hết
đây là những mặt hàng hiện được sản xuất ở trong nước, trong đó một
số do công ty có vốn nước ngoài sản xuất như xe hơi, xe máy và các
loại đồ điện gia dụng.
Thuế suất nhập khẩu của các mặt hàng này cho đến năm 2003 là khá
cao, trên dưới 50%, đủ để bảo hộ với hàng nhập khẩu cùng loại. Dù
vậy, chênh lệch giá giữa hàng nhập và hàng sản xuất trong nước không
lớn. Điều này cho thấy sau khi các cam kết AFTA được thực hiện hoàn
toàn (năm 2006), các mặt hàng này khó giữ vững vị trí hiện nay trên
thị trường trong nước. Chẳng hạn, vào đầu năm 2001, với máy giặt cỡ
4KG giá bán của hàng sản xuất trong nước là 3,7 triệu đồng, trong
khi hàng nhập kể cả thuế là 3,8 triệu. Tủ lạnh 150 lít giá hàng nội
là 4,31 triệu và hàng nhập là 4,85 triệu đồng
(3). Dù thông tin này tương đối cũ, nhưng như
Chương 9 phân tích, t́nh h́nh sau đó về căn bản không thay đổi lớn
(quy mô sản xuất nhỏ, thuế nhập linh kiện quá cao, v.v.) nên có thể
nói giữa Việt Nam và Thái Lan vẫn c̣n một sự cách biệt lớn về năng
lực cạnh tranh. Trong phần sau đây, ta thử đưa ra một đánh giá tổng
hợp hơn về khả năng đối phó với thách thức hiện nay của Việt Nam.
5.2. Ảnh hưởng của AFTA đối với công nghiệp Việt Nam
Giữa những nước có tŕnh độ phát triển khác nhau, việc thực hiện
khu vực thương mại tự do phải theo một nội dung, một tiến tŕnh hợp
lư để các nước c̣n ở giai đoạn phát triển thấp hơn có thể tham gia
mà không ảnh hưởng đến chiến lược, mục tiêu và nhu cầu phát triển
của họ. Tiến tŕnh hợp lư thông thường là để cho các nước đi sau
chậm thực hiện nghĩa vụ tự do hoá so với các nước khác để có thời
gian tăng năng lực cạnh tranh, và, như trường hợp của Diễn đàn kinh
tế châu Á - Thái B́nh Dương (APEC), nội dung của việc thực hiện tự
do hoá thương mại c̣n có kế hoạch hỗ trợ kinh tế và công nghệ của
các nước đi trước đối với các nước đi sau.
(4) Trong trường hợp AFTA, Việt Nam thực hiện nghĩa
vụ tự do hoá thương mại chậm hơn các nước đi trước chỉ ba năm và
không có các chương tŕnh hỗ trợ về kinh tế và công nghệ, có lẽ v́
quan điểm chung là khoảng cách phát triển giữa Việt Nam với các nước
ASEAN đi trước không xa lắm. Tuy nhiên, so với thời gian chậm thực
hiện nghĩa vụ tự do hoá th́ khoảng cách phát triển lớn hơn nhiều.
(5) Tất nhiên, vào thời điểm gia nhập ASEAN
(1995), với 10 năm (1996-2006) thực hiện từng bước AFTA (trên thực
chất, như đă đề cập, thực hiện từ năm 2003) và với hoàn cảnh trong
nước lạc quan (kinh tế vĩ mô đă ổn định, tăng trưởng khá cao), hoàn
cảnh quốc tế thuận lợi (các nước tiên tiến và các định chế tài chính
quốc tế từ năm 1993 đă quyết định hỗ trợ tài chính hằng năm cho ta,
thiết lập quan hệ ngoại giao b́nh thường với Mỹ, FDI tăng nhanh,
v.v.), Việt Nam đă tự tin hơn và quyết định gia nhập AFTA là đúng
đắn. Tuy nhiên, sau đó, Việt Nam bỏ mất thời cơ thu hút FDI (xem
Chương 12) để chuyển dịch cơ cấu và tăng năng lực cạnh tranh của các
ngành công nghiệp. Hiện nay, khoảng cách phát triển công nghiệp giữa
Việt Nam và các nước ASEAN đi trước vẫn c̣n khá lớn, thể hiện ở các
mặt như sau:
Thứ nhất, các chỉ tiêu phát triển công nghiệp cho thấy Việt Nam
đi sau khá xa so với Thái Lan, Malaixia... về cả lượng và chất. Theo
Bảng 5.2, kim ngạch xuất khẩu hàng công nghiệp của Việt Nam mặc dù
tăng rất nhanh (từ năm 1996 đến 2002 tăng gấp gần 4 lần), hiện nay
mới chỉ bằng 1/3 của Philíppin và Inđônêxia, 1/5 Thái Lan và 1/7
Malaixia. Về chất lượng phát triển công nghiệp, tư liệu và phân tích
ở Chương 2 cho thấy, so với các nước ASEAN khác, tỷ lệ của công
nghiệp trong cơ cấu xuất khẩu của Việt Nam c̣n thấp, nhất là tỷ lệ
của các loại máy móc th́ quá nhỏ.

Thứ hai, thương mại giữa Việt Nam với các nước ASEAN hiện nay có
đặc tính là phân công hàng dọc, một tính chất thường thấy trong
thương mại giữa nước tiên tiến và nước đang trên đường phát triển.
Trong khi Việt Nam nhập khẩu từ ASEAN hầu hết là hàng công nghiệp,
th́ ta xuất chủ yếu là hàng nông lâm thuỷ sản và các nguyên liệu thô
(ước tính từ thống kê của Tổng cục hải quan cho thấy các mặt hàng
này chiếm tới 70% trong tổng xuất khẩu của Việt Nam sang ASEAN vào
năm 2000). Tỷ lệ xuất khẩu hàng công nghiệp rất thấp (chủ yếu là bộ
phận, linh kiện điện tử mà phần lớn là nhờ công ty Fujitsu xuất khẩu
sang công ty con của họ ở Philíppin, c̣n lại là quần áo, giầy dép và
hàng thủ công mỹ nghệ). Riêng Việt Nam và Thái Lan, hai nước có cơ
cấu tài nguyên gần giống nhau, đang triển khai phân công hàng ngang
(vừa xuất và nhập hàng công nghiệp). Chẳng hạn vào năm 2001, trong
tổng xuất khẩu của Thái Lan sang Việt Nam (798 triệu USD) có đến 76%
là hàng công nghiệp, nhưng hàng công nghiệp cũng chiếm tới 62% trong
tổng nhập khẩu của Thái Lan từ Việt Nam (327 triệu USD)
(6). Tuy là phân công hàng ngang nhưng tổng kim
ngạch xuất và nhập khẩu giữa hai nước cho thấy Việt Nam bị nhập siêu
nhiều, phản ảnh năng lực cạnh tranh c̣n yếu của công nghiệp Việt
Nam. Hiện nay, cả khối ASEAN chiếm khoảng 15% tổng kim ngạch xuất
khẩu của Việt Nam nhưng Việt Nam nhập siêu với ASEAN khoảng 3 tỷ USD
(7)
Từ những phân tích trên đây, ta có thể thấy những thách thức mà
Việt Nam sẽ phải đối mặt sau khi thực hiện hoàn toàn các cam kết với
AFTA như sau:
Thứ nhất là ảnh hưởng từ chiến lược tái cơ cấu hoạt động sản xuất
của các công ty đa quốc gia. Nhiều mặt hàng công nghiệp hiện nay do
các công ty có vốn nước ngoài sản xuất và được bảo hộ bằng thuế nhập
khẩu. Khi hàng rào quan thuế bị cắt giảm, các công ty đa quốc gia sẽ
tập trung sản xuất tại những nước có phí tổn thấp nhất trong khu vực
AFTA. Do đó, từ nay đến giữa năm 2006, thách thức của Việt Nam là
làm sao giữ chân các cơ sở sản xuất hiện có của các công ty đa quốc
gia, đồng thời tạo cơ hội để các công ty này đầu tư mới hoặc chuyển
những cơ sở sản xuất ở các nước ASEAN khác sang Việt Nam.
(8)
Thứ hai, trong số các doanh nghiệp nhà nước và một phần các công
ty tư nhân trong nước cho đến nay hoạt động được chủ yếu là nhờ
chính sách bảo hộ, sau năm 2006, nhiều doanh nghiệp có khả năng bị
đẩy ra khỏi thị trường. Các công ty này cần nhanh chóng tăng năng
lực cạnh tranh th́ mới đối phó kịp. Như sẽ phân tích trong Chương 8,
việc liên kết hàng dọc và hàng ngang với các công ty đa quốc gia là
một trong những biện pháp nhanh chóng tăng năng lực cạnh tranh. Tất
nhiên, ở đây ta không phủ nhận sự năng động đối phó một cách hữu
hiệu của nhiều doanh nghiệp sau đợt cắt giảm quan thuế trong chương
tŕnh AFTA vào năm 2003. Theo Viện kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh, dù
thuế nhập khẩu giảm xuống dưới 5% từ giữa năm 2003, ít nhất là cho
đến đầu năm 2005, sản xuất trong nước về những hàng công nghiệp như
đồ nhựa, văn pḥng phẩm, giấy vệ sinh, thủ công mỹ nghệ, gỗ chế
biến, v.v. vẫn tiếp tục tăng, v́ vẫn giữ được sức cạnh tranh với
hàng hoá nước ngoài. (9). Tuy nhiên, đó là
những mặt hàng sản xuất nhỏ, có hàm lượng lao động giản đơn cao, thị
trường có khuynh hướng phân tán trong nhiều địa phương nên hàng nước
ngoài khó cạnh tranh. Trong các lĩnh vực mà công nghệ, tổ chức sản
xuất và lưu thông hiện đại hơn, thách thức của hàng nhập khẩu dưới
áp lực cắt giảm quan thuế sẽ lớn hơn nhiều.
Thứ ba, gia nhập AFTA chủ yếu là để mở rộng thị trường xuất khẩu,
đẩy nhanh quá tŕnh công nghiệp hoá, nhưng như đă thấy, hiện nay khả
năng thâm nhập thị trường ASEAN của hàng công nghiệp Việt Nam c̣n
quá yếu. Làm sao để mở rộng phân công hàng ngang (xuất và nhập đồng
thời hàng công nghiệp) với các nước ASEAN khác trong quá tŕnh hội
nhập? Một trong những biện pháp có hiệu quả nhất là tăng cường chiến
lược thu hút FDI (Chương 12) và tận dụng mọi thời cơ quốc tế đang
có, nhất là thời cơ từ Nhật Bản (Chương 13).
Cần nói thêm là dưới áp lực cạnh tranh của Trung Quốc, nhiều nước
ASEAN, đặc biệt là Thái Lan và Malaixia cũng đang ráo riết tăng
cường năng lực cạnh tranh. Việt Nam cần theo dơi các động hướng này
để khẩn trương hơn nữa trong việc thay đổi cơ chế, ưu tiên các mũi
đột phá chiến lược để nhanh chóng tăng năng lực cạnh tranh trong quá
tŕnh hội nhập. Chiến lược gần đây của Thái Lan rất đáng được chú ư:
Trước áp lực cạnh tranh của Trung Quốc và những thách thức do
trào lưu toàn cầu hoá, khu vực hoá mang đến, Thái Lan thấy cần phải
vạch ra chiến lược tăng sức cạnh tranh. Tháng 5-2002, họ lập Uỷ ban
tăng cường cạnh tranh quốc gia do chính Thủ tướng đứng đầu. Họ mời
các chuyên gia nước ngoài tham gia bàn bạc, thảo luận và tháng
10-2003 đưa ra bản báo cáo 600 trang phân tích cụ thể các mặt mạnh,
mặt yếu và nhất là đưa ra chiến lược rất rơ ràng và biện pháp thực
hiện rất cụ thể. Bộ máy hành chính cũng bắt tay ngay vào việc triển
khai chiến lược và thực hiện các biện pháp. Trong chiến lược này,
Thái Lan đă xác định năm lĩnh vực có thể tạo cho họ một vị trí trên
thị trường quốc tế: xe hơi, thực phẩm, thời trang, du lịch và phần
mềm máy tính. TháI Lan khẳng định hai biện pháp cần đẩy mạnh để thực
hiện chiến lược này là tăng cường thu hút đầu tư trực tiếp nước
ngoài (FDI) và triển khai các hiệp định thương mại tự do (FTA). Gần
đây, ta đă thấy các chính sách đối ngoại và hoạt động của các nhà
lănh đạo cao nhất của Chính phủ Thái Lan đều tập trung vào vấn đề
này. Sau cuộc khủng hoảng tài chính châu Á, FDI vào Thái Lan chững
lại, nhưng từ hai năm nay FDI tăng trở lại và các công ty đa quốc
gia tiếp tục đánh giá cao tiềm năng của Thái Lan. Thái Lan cũng đă
tích cực tranh thủ ngay những cam kết trong khuôn khổ FTA giữa Trung
Quốc và ASEAN và đă đạt thành quả trong việc đẩy mạnh xuất khẩu nông
phẩm sang Trung Quốc mà tôi đă có dịp giới thiệu11. Xem Thời báo
kinh tế Sài G̣n, ngày 16-2-2004. .
Thách thức của AFTA rất lớn. Việt Nam cần khẩn trương hơn nữa.
TRẦN VĂN THỌ
(1). Tác giả đă có dịp phân tích hiệu quả của
AFTA đối với công nghiệp hoá Việt Nam (Trần Văn Thọ 2002d) và ư
nghĩa của AFTA trong vùng năng động ở Đông Á (Trần Văn Thọ 2002a).
(2) Con số này lớn hơn số trong Bảng
5.1 (10.143) v́ sau tháng 6-2004 một số danh mục mới được đưa vào
IL. Về tư liệu trước năm 2003, xem Bộ Tài chính (2000) và Bộ Thương
mại (2001). Thông tin mới hơn lấy từ tư liệu của Viện Quản lư kinh
tế trung ương. .
(3) Theo Market & Prices, ngày
2-1-2001.
(4) Ba cột trụ của APEC là tự do hoá
thương mại (liberalization), kế hoạch thuận lợi hóa (facilitation)
các hoạt động thương mại và đầu tư, và kế hoạch hỗ trợ kinh tế và
công nghệ (ecotech). Xem, chẳng hạn, Trần Văn Thọ (1997), Chương 10.
.
(5) Theo đánh giá sơ bộ của tôi ở
Chương 1, Việt Nam và Thái Lan có một khoảng cách phát triển khoảng
20 năm. So với Xingapo và Malaixia th́ khoảng cách lớn hơn, so với
Philíppin và Inđônêxia th́ nhỏ hơn (tất nhiên Xingapo là một quốc
gia đô thị nên không thể so sánh đơn thuần với Việt Nam được). .
(6) 11. Theo JETRO Boueki Toshi
Hakusho (Sách Trắng về thương mại và đầu tư), 2002. .
(7) Theo thống kê năm 2003. Cùng
năm, tổng nhập siêu của Việt Nam là 5 tỷ, nhập siêu với Hàn Quốc là
2,1 tỷ, với Trung Quốc 1,4 tỷ và với Nhật Bản khoảng 85 triệu USD.
Mặt khác, Việt Nam xuất siêu với Mỹ 2,8 tỷ và châu Âu 1 tỷ USD. .
(8) Xem Chương 9 về trường hợp ngành
điện, điện tử gia dụng.
(9) Theo ư kiến của TS. Trần Du
Lịch, Viện truởng Viện kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh, trong buối
trao đổi ư kiến với tác giả về công nghiệp Việt Nam ngày 19-2-2005.
.
< Xem Mục Lục>
®
"Khi phát hành lại bài viết
của trang này cần phải có sự đồng
ư của tác giả
và ghi rơ nguồn lấy từ www.erct.com
|
|