|
Phần I: Biến động kinh tế
Đông Á và vị trí của Việt Nam
Chương 4:
Triển vọng về cộng đồng kinh tế Đông Á
Mục đích của chương
này là trả lời các câu hỏi trên và đặc biệt làm rơ vị trí của ASEAN
trong trào lưu xây dựng những khu vực tự do thương mại tại vùng Đông
Á, đồng thời đặc biệt bàn đến vị trí và chiến lược cần có của Việt
Nam trước trào lưu chung này.
4.1. Tiến triển của các FTA song phương
và đa phương tại Đông Á
Từ đầu thập niên 1990, song song với xu thế toàn
cầu hoá (globalization), chủ nghĩa khu vực (regionalism) cũng phát
triển mạnh. Trước đây, h́nh thái cụ thể của chủ nghĩa khu vực là khu
vực thương mại tự do (free trade area) nhưng từ thập niên 1990, h́nh
thái phổ biến là FTA, song phương hoặc đa phương. FTA có phạm vi hợp
tác rộng, không giới hạn trong việc thực hiện thương mại tự do mà
c̣n xúc tiến tự do hoá đầu tư, hợp tác chuyển giao công nghệ, hiệu
suất hoá thủ tục hải quan và nhiều dịch vụ khác.
Tính đến thời điểm ngày 1-5-2004, FTA trên thế giới
đă lên đến con số 107, trong đó có đến 66 hiệp định được kư kết từ
sau năm 1995 (1). Ngược lại với trào
lưu chung này, tại Đông Á, chủ nghĩa khu vực phát triển chậm. Cho
đến nay mới chỉ có vài hiệp định đă được kư kết. Có một số lư do
giải thích t́nh h́nh này. Một là, do chiến tranh lạnh kéo dài, do sự
khác biệt về thể chế kinh tế và do những vấn đề lịch sử để lại, các
nước có nền kinh tế lớn như Nhật Bản, Trung Quốc và Hàn Quốc không
tích cực t́m kiếm một định chế hợp tác. Hai là, do chính sách ngoại
giao kinh tế của Nhật Bản có truyền thống nhấn mạnh quan hệ đa
phương trên quy mô toàn cầu thông qua các định chế quốc tế như GATT
(Hiệp định chung về thuế quan và thương mại) trước đây và WTO (Tổ
chức Thương mại thế giới) hiện nay.
Trong vài chục năm qua, dù không có những định chế
thỏa thuận giữa các nước trong vùng song các nền kinh tế tại Đông Á
vừa phát triển nhanh vừa ngày càng tuỳ thuộc lẫn nhau thông qua hoạt
động thương mại và đầu tư. Như đă thấy ở Chương 2, trong mấy chục
năm qua, công nghiệp hoá tiến hành rất nhanh tại khu vực này, phản
ảnh trong tỷ lệ tăng nhanh của hàng công nghiệp trong tổng xuất
khẩu. Bảng 4.1 cũng cho thấy các nước ở vùng này ngày càng cạnh
tranh mạnh trên thị trường thế giới. Thị phần của các nước trong
vùng trong tổng xuất khẩu hàng công nghiệp của thế giới tăng gấp
đôi, từ 18% năm 1980 đến 39% năm 2002. Đặc biệt NIEs, ASEAN và Trung
Quốc đều tăng thị phần đáng kể. (2). Bảng 4.2 tŕnh
bày ma trận thương mại của ASEAN và các nước lớn trong vùng Đông Á.
Từ thông tin trong Bảng 4.2 ta có thể thấy dễ dàng rằng các nước
Đông Á đă tăng mạnh kim ngạch xuất khẩu hàng công nghiệp sang các
nước nội vùng với tốc độ cao hơn nhiều so với xuất khẩu sang toàn
thế giới. Chẳng hạn, từ năm 1992 đến 2002, tổng xuất khẩu của vùng
Đông Á (ASEAN+3) tăng 1,9 lần trong khi xuất trong nội vùng tăng 2,6
lần. Riêng Trung Quốc xuất khẩu ra thế giới tăng 4,4 lần nhưng sang
các nước trong vùng Đông Á tăng 7 lần. Con số tương tự của ASEAN là
2,7 lần và 3,2 lần. Phân tích ở Chương 2 cũng đă cho thấy khuynh
hướng tập trung thương mại trong nội bộ vùng Đông Á.


Như vậy, cho đến nay, dù không có một định chế hợp
tác, song kinh tế Đông Á trên thực tế đă được kết hợp thành một khối
(de facto integration) và sự kết hợp này được thực hiện qua cơ chế
thị trường (market-led integration).
Tuy nhiên, từ cuối thập niên 1990, các nước Đông Á
kể cả Nhật Bản đă tích cực trong việc xây dựng một định chế hợp tác
khu vực v́ hai lư do. Thứ nhất, cuộc khủng hoảng tiền tệ ở châu Á
cho thấy cần có một định chế hợp tác khu vực để ngăn ngừa những bất
ổn tương tự. Thứ hai, song song với sự bế tắc trong các ṿng đàm
phán do WTO chủ truơng, chủ nghĩa khu vực đă phát triển mạnh tại
nhiều nơi khác trên thế giới và thúc đẩy các nước Đông Á chuyển
hướng theo trào lưu chung này.
Không kể AFTA (Khu vực thương mại tự do ASEAN),
thành lập năm 1992, tại Đông Á, FTA mới được bắt đầu bàn đến từ năm
1999 bằng sự kiện Nhật Bản và Hàn Quốc thoả thuận cùng nghiên cứu
khả năng và hiệu quả của một FTA giữa hai nước. Hiện nay, hai nước
vẫn chưa đi đến một sự thoả thuận cụ thể nhưng sự kiện này đă châm
ng̣i cho những thảo luận, những đề án về FTA rất sôi nổi tại Đông Á.
Theo đó, Nhật Bản và Xingapo bắt đầu thảo luận từ tháng 11-1999 và
đă kư kết Hiệp định hợp tác kinh tế (Japan - Singapo Economic
Partnership Agreement, JSEPA) vào tháng 1-2002. Hiệp định này không
giới hạn ở tự do thương mại mà c̣n nhắm đến việc đẩy mạnh đơn giản
hoá, thông thoáng hoá các thủ tục giao dịch, và cùng xúc tiến hợp
tác với các nước đang phát triển. Tự do thương mại cũng không giới
hạn trong hàng hoá hữu h́nh mà c̣n trong các lĩnh vực dịch vụ như
đầu tư, di chuyển lao động, v.v..(3)
Cũng vào thời điểm Nhật Bản và Xingapo kư kết
JSEPA, Thủ tướng Nhật Bản Koizumi đề xướng xây dựng Quan hệ đối tác
toàn diện Nhật Bản ASEAN (Japan-ASEAN Comprehensive Economic
Partnership) và tháng 11-2002; lănh đạo 10 nước ASEAN đă đồng ư sẽ
bàn thảo về đề án này. Đặc biệt, Nhật Bản tỏ ra tích cực sau khi
Trung Quốc đưa ra đề án lập FTA với 10 nước ASEAN vào tháng 11-2001.
Cuối cùng Nhật Bản và ASEAN đă thoả thuận bắt đầu thương lượng vào
tháng 5-2005 và, vào tháng 9-2004 hai bên đă cam kết sẽ đi đến một
thoả thuận sau hai năm đàm phán. Tuy nhiên, cam kết này không được
ghi vào bản thông báo chung của hội nghị cấp cao Nhật Bản - ASEAN
tại Viêngchăn tháng 11-2004, cho thấy trước mắt hai bên khó có thể
đi đến một thoả thuận. (4)
Quan hệ giữa Hàn Quốc và ASEAN đă có một sự tiến
triển cụ thể. Tại Viêngchăn (tháng 11-2004), lănh đạo hai bên đă
thỏa thuận sẽ bắt đầu thương lượng trong năm 2005 để trong năm 2006
có thể kư kết FTA. Cũng theo kết quả của hội nghị ở Viêngchăn, hai
bên sẽ cố gắng để đến năm 2009 xoá bỏ hoàn toàn hàng rào thuế quan
cho ít nhất 80% mặt hàng. Tại đây, Hàn Quốc (cùng với Nga. đă kư
tham gia Hiệp ước thân thiện và hợp tác Đông Nam Á, đồng thời đẩy
mạnh hợp tác kinh tế với ASEAN. Cụ thể là Hàn Quốc sẽ tăng Quỹ hỗ
trợ những dự án Hàn Quốc - ASEAN từ 1 triệu lên 3 triệu USD, và sẽ
xuất thêm 5 triệu USD để đẩy mạnh những nỗ lực nhằm rút ngắn khoảng
cách phát triển trong khối ASEAN.
Về FTA song phương, tiến triển khá nhanh và cụ thể
là quan hệ Nhật Bản-Philíppin. Tại Viêngchăn ngày 29-11-2004, lănh
đạo hai nước đă đồng ư sẽ kư kết một hiệp định liên minh kinh tế mà
FTA là nội dung chính. Ngoài việc giảm thuế quan hàng công nghiệp và
nông lâm thuỷ sản, hiệp định c̣n bao gồm những điều khoản về mở rộng
thị trường lao động. Hai bên sẽ chuẩn bị để kư kết và thực hiện hiệp
định trong năm 2006. Khi hiệp định có hiệu lực, Nhật Bản sẽ băi bỏ
ngay hàng rào quan thuế cho tất cả các loại hàng công nghiệp, trừ
hai mặt hàng da và giày, đồng thời lập tức băi bỏ hàng rào quan thuế
đối với hàng dệt may, những linh kiện bộ phận cao cấp trong xe hơi
và đồ điện gia dụng. Philíppin cũng giảm thuế nhập khẩu xuống 0%
trước năm 2010 đối với xe hơi và trong ṿng 10 năm đối với sản phẩm
điện, điện tử. Khác với hàng công nghiệp, Nhật Bản thận trọng hơn
trong việc tự do hoá những mặt hàng liên quan đến nông lâm thuỷ sản.
Nhật Bản sẽ bỏ quan thuế trong ṿng 5 năm đối với cá hồi nhập khẩu
và 10 năm đối với chuối nhập từ Philíppin, nhưng những mặt hàng khác
th́ sẽ định sau, có lẽ với một thời khoá biểu chặt chẽ và một thời
gian tự do hoá lâu dài hơn.
Ngoài Philíppin, hiện nay Nhật Bản đang thương
lượng với Thái Lan, Malaixia và Inđônêxia để hướng đến việc kư kết
FTA song phương trong tương lai gần. (5) Hàn
Quốc và Xingapo cũng đă bắt đầu quá tŕnh thương lượng.
Tại Đông Bắc Á, triển vọng về việc h́nh thành một
FTA song phương Nhật Bản với Trung Quốc hoặc Nhật Bản - Hàn Quốc,
hay Trung Quốc - Hàn Quốc có lẽ c̣n khá xa. Ngoài bối cảnh phức tạp
về lịch sử, gần đây những tranh chấp về lănh thổ cũng làm quan hệ
giữa các nước phức tạp thêm. Trung Quốc bất b́nh với việc Thủ tướng
Koizumi đi lễ bái ở đền Yasukuni (nơi thờ cúng cả những tội nhân gây
chiến tranh trong Chiến tranh thế giới thứ hai) nên sự giao lưu cấp
nguyên thủ quốc gia bị ngưng lại từ nhiều năm nay. Giữa Hàn Quốc và
Nhật Bản gần đây lại có vụ tranh chấp về chủ quyền của ḥn đảo
Takeshima. Chỉ thuần về kinh tế, vấn đề FTA giữa Hàn Quốc và Nhật
Bản cũng đang gặp khó khăn: Hàn Quốc lo ngại hàng công nghiệp của
Nhật Bản sẽ tràn vào và nhập siêu của nước này sẽ tăng nhanh, ngược
lại Nhật Bản lo là hàng nông phẩm của Hàn Quốc sẽ ảnh hưởng đến nông
dân của họ.
Trong t́nh h́nh đó, FTA đa phương tại Đông Bắc Á
càng không có tính khả thi. Tuy lănh đạo Nhật Bản, Trung Quốc và Hàn
Quốc đă ra tuyên ngôn chung sau buổi họp thượng đỉnh tháng 10-2003
tại Bali là sẽ hướng tới việc lập FTA gồm ba nước Đông Bắc Á này
nhưng cho đến nay không thấy có tiến triển ǵ thêm.
Trong khi đó, nỗ lực hướng tới một cộng đồng Đông Á
gồm ASEAN và ba nước Đông Bắc Á th́ có tiến triển cụ thể hơn. Tại
Viêngchăn vào tháng 11-2004, các nước này đă quyết định cuối năm
2005 sẽ họp hội nghị thượng đỉnh đầu tiên, với tính chất là hội nghị
toàn vùng Đông Á, tại Cuala Lămpơ. Cho đến nay, hằng năm đă có nhiều
hội nghị thượng đỉnh của 10 nước ASEAN và ba nước Đông Bắc Á nhưng
tất cả đều do ASEAN mời trong khuôn khổ ngoại giao của khối này. Hội
nghị ở Cuala Lămpơ sắp tới do đó có tầm quan trọng đặc biệt và được
dư luận châu Á và thế giới chú ư.
Nh́n chung, những tiến triển về FTA tại Đông Á cho
đến nay có đặc điểm là xoay quanh các nước ASEAN. Đặc biệt, Nhật Bản
và Trung Quốc đă tranh nhau đưa ra đề án FTA song phương giữa ASEAN
với ḿnh, do đó tại vùng này đang từng bước h́nh thành các thể chế
ASEAN+1.
Riêng về ASEAN, từ nửa sau thập kỷ 1990, khối này
đă trực diện nhiều vấn đề mới: ảnh hưởng của khủng hoảng tiền tệ
châu Á, sự xuất hiện mạnh mẽ của kinh tế Trung Quốc, và sự gia tăng
nhiều thành viên mới. Các vấn đề này đă mở ra một cục diện mới đối
với ASEAN. Khủng hoảng tiền tệ đă cho thấy hạn chế của tổ chức ASEAN
trong việc ǵn giữ sự ổn định kinh tế trong khu vực và gây ra những
khó khăn nhất định đối với nền kinh tế các nước này. Cuộc khủng
hoảng tiền tệ cũng đă làm lịch tŕnh thực hiện AFTA của các nước
thành viên bị chậm lại. Sự xuất hiện của Trung Quốc đă khiến cho sức
cạnh tranh của các nước ASEAN tại những thị trường chính như Mỹ,
Nhật Bản bị yếu đi và nhất là làm cho ḍng chảy đầu tư trực tiếp của
nước ngoài (FDI) chuyển hướng.(6)
Những tác động trên đă làm cho khoảng cách về sức
cạnh tranh và mức độ mở cửa thị trường giữa các thành viên trong
khối ASEAN ngày càng lớn. Điển h́nh là giữa Xingapo với các nước
khác. So với các thành viên khác, Xingapo vừa là một nền kinh tế mở
vừa ít bị ảnh hưởng của khủng hoảng tiền tệ nên đă không bằng ḷng
với tiến độ thực hiện AFTA sau khi có khủng hoảng tài chính tại châu
Á và đă tích cực kư kết hiệp định tự do thương mại song phương với
các nước ngoài khu vực. Các nước thành viên khác của ASEAN lo lắng
về hiệu quả chuyển hoán thương mại (trade diversion effect).
(7) tại những nước kư kết FTA với Xingapo nên đă có
những hành động tương tự đối với những đối tác trong FTA của Xingapo
nhằm ngăn ngừa hiệu quả đó. Đặc biệt, Thái Lan đẩy mạnh việc triển
khai FTA với Nhật Bản và các nước khác. Philíppin, Malaixia và
Inđônêxia cũng tỏ ra tích cực. Trong bối cảnh đó, ta có thể hiểu
được ngay tại sao Philíppin và Thái Lan đă có thái độ tích cực đáp
lại đề nghị của Trung Quốc, chấp nhận việc sớm tự do hoá thương mại
đối với những mặt hàng nông sản trước khi mục tiêu chung cho các sản
phẩm khác sẽ được thực hiện vào năm 2010 đối với các thành viên cũ
và năm 2015 đối với các thành viên mới của ASEAN (xem Chương 6).
Do đó, nh́n chung, “vẫn nói chuyện hợp tác khu vực
nhưng lại hành động song phương với các nước ngoài khu vực” (talking
regional, acting bilateral), một cách nói khá phổ biến gần đây tại
các nước ASEAN, đă trở thành đặc trưng của các nước ASEAN từ những
năm cuối thập kỷ 1990.
Những FTA song phương có phạm vi hợp tác rộng nên
có thể kỳ vọng là nó sẽ thúc đẩy một cách trực tiếp, nhanh chóng
những hiệu quả động làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng phát
triển hiệu suất hơn. Hơn nữa, việc kư kết những hiệp định thương mại
song phương mới như với Trung Quốc hay Nhật Bản sẽ có tác dụng nâng
cao sự hợp tác trong khu vực Đông Á, và góp phần thúc đẩy quá tŕnh
h́nh thành thể chế ASEAN+3 trong tương lai. Từ cách phân tích này,
ta thấy xu hướng mở rộng hợp tác song phương giữa các thành viên
ASEAN với các nước ngoài tổ chức hoặc giữa toàn khối ASEAN với các
nước là đáng khẳng định.
4.2. Bàn về khả năng thiết lập cộng
đồng Đông Á trong tương lai
Kinh tế các nước khu vực Đông Á ngày càng phụ thuộc
lẫn nhau qua đầu tư và thương mại. Độ phụ thuộc vào thương mại trong
nội bộ của khu vực Đông Á (tỷ lệ kim ngạch thương mại nội bộ trong
tổng thương mại của khu vực này đối với thế giới) tăng từ 33,6% năm
1980 lên 51,2% năm 2002. Xét t́nh h́nh xuất khẩu của từng nước, ma
trận mậu dịch (Bảng 4.2) đă đề cập trong phần trước cũng cho thấy
khuynh hướng đó. Như vậy, cho đến nay, dù không có một cơ chế hợp
tác chặt chẽ, song kinh tế các nước ở vùng này cũng đă gắn bó mật
thiết với nhau qua cơ chế thị trường.
Đồng thời với khuynh hướng đó, như đă phân tích ở
các phần trước, trào lưu gần đây cho thấy nhiều nỗ lực nhắm tới việc
h́nh thành các cơ chế hợp tác khu vực mà FTA là trọng tâm. Xoay
quanh những nỗ lực này trong liên quan đến khả năng h́nh thành một
cộng đồng Đông Á, ta thấy có hai vấn đề cần được chú ư:
Thứ nhất, trong dài hạn, để thực hiện cộng đồng
Đông Á, những bước phát triển (process) sắp tới nên được triển khai
như thế nào? Theo ư kiến của tác giả, phương án khả thi phải là từng
bước một bắt đầu từ hai mũi: mũi xuất phát từ ASEAN và mũi xuất phát
từ một trong ba nước lớn ở Đông Bắc Á (Nhật Bản - Hàn Quốc, Trung
Quốc - Hàn Quốc, Nhật Bản - Trung Quốc rồi đến Nhật Bản - Trung Quốc
- Hàn Quốc). Hai mũi này sẽ gặp nhau, kết hợp lại để tạo ra một cộng
đồng kinh tế chung ở khu vực này. Mũi ASEAN tiến hành với từng nước
ở Đông Bắc Á (tức ASEAN+1). Hiện nay FTA giữa ASEAN và Trung Quốc đă
được kư kết. Trong tương lai gần, ASEAN với Nhật Bản, sau đó là
ASEAN với Hàn Quốc cũng sẽ có những hợp tác tương tự. Mũi ASEAN xem
như không có vấn đề ǵ lớn. Nhưng mũi thứ hai có lẽ không đơn giản
v́ như đă nói, bối cảnh lịch sử, chính trị đang làm trở ngại, chí ít
là làm chậm trễ, quá tŕnh thiết lập những cơ chế hợp tác kinh tế.
Có lẽ ít nhất là trong trung hạn (5 - 6 năm tới) sẽ không thấy được
những tiến triển cụ thể về mũi xuất phát từ Đông Bắc Á.
Thứ hai, trong quá tŕnh hướng tới cộng đồng Đông
Á, một vấn đề nữa là làm sao để nhanh chóng rút ngắn khoảng cách
phát triển giữa các nước và giảm những tác động quá mạnh do sự trỗi
dậy của kinh tế Trung Quốc. Tuy mục tiêu của việc h́nh thành một
cộng đồng là tạo điều kiện hợp tác để cùng phát triển song các nước
c̣n ở tŕnh độ phát triển thấp phải nhanh chóng hội đủ các tiền đề
mới tham gia có hiệu quả vào khuôn khổ hợp tác đó. Như sẽ phân tích
ở Chương 6, chương tŕnh tự do hoá thương mại trong khuôn khổ FTA
giữa ASEAN và Trung Quốc đặc biệt gây tác động đối với các thành
viên mới của ASEAN. Sự trỗi dậy quá nhanh của kinh tế Trung Quốc
cũng gây một số khó khăn nhất định cho quá tŕnh tái cơ cấu công
nghiệp của cả các thành viên ASEAN cũ như Thái Lan, Philíppin. Do
đó, vai tṛ của Nhật Bản, một nước công nghiệp tiên tiến có nền kinh
tế lớn nhất khu vực, được xem là rất quan trọng. Việc chuyển giao
công nghệ, bí quyết quản lư, kinh doanh và hợp tác tri thức từ Nhật
Bản sẽ giúp các nước ASEAN tăng khả năng cạnh tranh, đối phó có hiệu
quả đối với các thách thức do FTA mang lại và do sự trỗi dậy quá
nhanh của kinh tế Trung Quốc.
Trong bối cảnh đó, chính sách tích cực của Nhật Bản
gần đây đối với ASEAN là rất đáng chú ư. Đỉnh cao của chính sách này
là Hội nghị thượng đỉnh đặc biệt Nhật Bản - ASEAN vào hai ngày 11 và
12-12-2003 tại Tôkyô. Gọi là “đặc biệt” v́ đây là lần đầu tiên một
hội nghị như vậy được tổ chức tại một nước không phải là thành viên
ASEAN. Bối cảnh mới của kinh tế - chính trị châu Á mà nổi bật là sự
lớn mạnh của Trung Quốc đă thúc đẩy quan hệ đặc biệt giữa Nhật Bản
với ASEAN.
Hai ngày của hội nghị thượng đỉnh được kết thúc
bằng Tuyên ngôn Tôkyô và Kế hoạch hành động cho giai đoạn trung và
dài hạn sắp tới. Theo Tuyên ngôn Tôkyô, Nhật Bản và các nước ASEAN
quyết tâm tiếp tục mở rộng, đẩy mạnh hợp tác trên tinh thần đối tác
chiến lược (strategic partnership). Nhật Bản sẽ đặt ưu tiên cao cho
nỗ lực giúp các nước ASEAN phát triển và hội nhập (integration) với
nhau hơn nữa. Với phương châm đó, Nhật sẽ ưu tiên cấp tiền viện trợ
và vốn vay ưu đăi (ODA) cho ASEAN, đặc biệt trong lĩnh vực đào tạo
nhân tài, phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, và giúp phát triển các
nước thuộc lưu vực sông Mêkông để rút ngắn khoảng cách giữa hai nhóm
nước (sáu nước thành viên cũ và bốn nước thành viên mới) trong khối
này. Mặt khác, Nhật Bản - ASEAN sẽ tăng cường sự liên kết kinh tế về
mọi mặt. Cho đến năm 2012, hai bên sẽ cụ thể hoá ư tưởng này bằng
việc kư Hiệp định liên kết kinh tế toàn diện Nhật Bản ASEAN (JACEP)
mà Thủ tướng Koizumi Junichiro đề xướng tại Xingapo tháng 1-2002. Sự
liên kết này có phạm vi rộng, từ trao đổi hàng hoá, dịch vụ, đến hợp
tác đầu tư, tài chính, tiền tệ, công nghệ thông tin, năng lượng,
v.v.. Trên quan hệ đặc biệt này, Nhật Bản và ASEAN sẽ hợp tác trong
các vấn đề của khu vực và thế giới.
Một số nội dung cụ thể trong Kế hoạch hành động là
quyết định lấy năm 2005 làm thời điểm bắt đầu thương lượng để tiến
tới việc kư kết Hiệp định JACEP. Nhật Bản cũng đă cam kết trong năm
năm tới sẽ đưa một vạn sinh viên và thực tập sinh ASEAN sang Nhật
Bản học hoặc tu nghiệp, trong ba năm tới sẽ chi ra 1,5 tỷ USD để
giúp ASEAN đào tạo nhân tài và 1,5 tỷ USD để giúp phát triển khu vực
sông Mêkông. Nhật cũng sẽ giúp tăng cường cơ sở hạ tầng và đào tạo
nhân tài để phát triển công nghệ thông tin, xe hơi điện tử… tại
ASEAN và xúc tiến FDI từ Nhật Bản sang các nước này.
Đặc điểm của Tuyên ngôn Tôkyô và Kế hoạch hành động
là sự cam kết cao độ của Nhật Bản trong việc giúp các nước ASEAN hơn
nữa. Đây là chiến lược của Nhật Bản nhằm tranh giành ảnh hưởng với
Trung Quốc tại vùng Đông Nam Á. Mặt khác, Hội nghị thượng đỉnh đặc
biệt này cũng cho thấy ASEAN muốn tận dụng khả năng của Nhật để tăng
cường năng lực cạnh tranh trước sức mạnh áp đảo của kinh tế Trung
Quốc.
Quan hệ Nhật Bản - ASEAN được đẩy mạnh lên một bước
từ năm 1977 khi Thủ tướng Nhật Bản đương thời Fukuda công du năm
nước thành viên ban đầu và phát biểu chính sách đặc biệt dùng ODA để
vừa giúp từng nước thành viên vừa xây những ngành công nghiệp chung
cho toàn khối. Quan hệ này lại phát triển một bước lớn khi các công
ty Nhật Bản ào ạt sang đầu tư trực tiếp (FDI) tại Thái Lan,
Malaixia, Xingapo và Inđônêxia sau khi đồng yên tăng giá đột ngột
vào cuối năm 1985. ODA và FDI của Nhật Bản đă tạo ra một sự gắn bó
mật thiết giữa Nhật Bản với ASEAN trong mấy thập kỷ qua, một quan hệ
mà Tuyên ngôn Tôkyô ghi nhận là một đối tác đồng hành đồng tiến.
Tuy nhiên, từ giữa thập niên 1990, quan hệ Nhật Bản
- ASEAN đối mặt với một t́nh huống mới: kinh tế Nhật Bản suy thoái
triền miên, ngân sách dành cho ODA phải bị cắt giảm, chính phủ thay
đổi luôn nên lănh đạo có khuynh hướng hướng nội, ít ai quan tâm tăng
cường quan hệ với những vùng không có vấn đề ǵ nổi cộm. Sau cuộc
khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997, Nhật tích cực hành động qua
sáng kiến Miyazawa (30 tỷ USD) và cung cấp vốn vay đặc biệt (650 tỷ
yên) cho các nước ASEAN (và Hàn Quốc) nhưng những cố gắng có tính
chất t́nh thế này chỉ giúp các nước châu Á hồi phục sau khủng hoảng
chứ không giúp ASEAN đối kháng lại với một trào lưu mới, đó là sự
xuất hiện của Trung Quốc với một nền kinh tế phát triển mạnh mẽ đă
thu hút FDI nước ngoài, nhất là của Nhật Bản, và làm giảm bớt thị
phần của ASEAN trên thị trường thế giới (Xem lại Chương 3).
Trong lúc ASEAN lo ngại trước áp lực này th́ Trung
Quốc triển khai chiến lược mới: đưa đề án kư hiệp định thương mại tự
do (FTA) với ASEAN vào cuối năm 2001. Nội dung của đề án khá cụ thể
và rất hấp dẫn đối với ASEAN nên đă được dư luận thế giới chú ư và
nhất là ASEAN đă tích cực hưởng ứng. Chính sự kiện này đă làm cho
Nhật thấy cần phải quay lại chiến lược ASEAN để vừa duy tŕ ảnh
hưởng tại vùng này, vừa giữ thế chủ động trong quá tŕnh h́nh thành
cộng đồng kinh tế Đông Á (thể chế ASEAN+3) trong tương lai. Đây là
bối cảnh ra đời của Hội nghị thượng đỉnh đặc biệt Nhật Bản - ASEAN.
Vùng Đông Á hiện nay đang từng bước h́nh thành thế
ba chân vạc: Nhật Bản, Trung Quốc và ASEAN, trong đó hiện nay ASEAN
là yếu nhất nhưng trước mắt đang có lợi điểm là cả Trung Quốc và
Nhật đều muốn tranh thủ. ASEAN có thể tận dụng thời cơ này để phát
triển nhanh. Đặc biệt trước khi thực hiện FTA với Trung Quốc (năm
2010 đối với 6 nước thành viên cũ và 2015 đối với các nước thành
viên mới), ASEAN cần tận dụng kết quả Hội nghị thượng đỉnh đặc biệt
vừa qua để nhanh chóng tăng sức cạnh tranh của nền kinh tế các nước
thành viên.
Khi bàn về cộng đồng Đông Á, nhiều người có khuynh
hướng kỳ vọng quá mức vào khả năng h́nh thành tổ chức đó. Nhưng từ
mấy điểm nêu trên, ta thấy rằng, ngay ở vấn đề tự do hoá thương mại
không thôi, con đường đi lên cũng chưa suôn sẻ, nên khả năng h́nh
thành một đồng tiền chung, một chính sách tài chính, tiền tệ chung
hay chính sách ngoại thương chung đối với các khu vực khác càng trở
nên khó khăn. Cũng phải mất ít nhất vài chục năm nữa mới có thể có
những tiến triển cụ thể về những vấn đề này. Có thể nói những vấn đề
đó là giấc mơ chung của người Đông Á và có thể mong muốn giấc mơ đó
sẽ trở thành hiện thực vào một thời điểm khá xa trong tương lai.
Trong ṿng 10 năm tới, tự do hoá thương mại trong
khuôn khổ FTA và các nỗ lực hợp tác để các nước c̣n ở trong giai
đoạn phát triển thấp có thể rút ngắn khoảng cách với các nước đi
trước là những lĩnh vực có tính khả thi cao. Nội dung của quá tŕnh
thực hiện cộng đồng Đông Á trước mắt có lẽ sẽ dựa trên ba lĩnh vực
mà Diễn đàn kinh tế châu Á - Thái B́nh Dương (APEC) nhằm tới, đó là
tự do hoá thương mại (trade liberalization), thuận lợi hoá hoạt động
thương mại (facilitation), và hợp tác kinh tế kỹ thuật (eco-tech)
đối với những nước c̣n ở tŕnh độ phát triển thấp.
Kết luận
Vùng Đông Á đang chuyển động về cả hai mặt: một là
hoạt động giao thương, đầu tư nhộn nhịp làm cho các nước ngày càng
tuỳ thuộc lẫn nhau; hai là các cơ chế hợp tác mà trọng tâm là FTA
cũng đang h́nh thành. Trong t́nh h́nh đó, nhiều người kỳ vọng một
cộng đồng kinh tế sẽ ra đời tại Đông Á trong tương lai. Tuy nhiên,
trong 10 năm trước mắt, tự do thương mại và các kênh hợp tác kinh tế
như chuyển giao công nghệ, thuận lợi hoá thương mại vẫn sẽ là những
nội dung chủ đạo của quá tŕnh hợp tác Đông Á. Những nội dung khác
như thiết lập đồng tiền chung châu Á, xây dựng chính sách tiền tệ -
tài chính chung, v.v.. là những vấn đề của một tương lai xa hơn.
Chủ nghĩa khu vực triển khai theo chiều hướng nói
trên sẽ ảnh hưởng đến Việt Nam như thế nào? Có thể nói đây là cơ hội
giao thương lớn nhất đối với Việt Nam trong nhiều thập kỷ tới. Nh́n
từng quốc gia riêng biệt th́ Mỹ là thị trường lớn nhất với số dân
285 triệu người và GDP gần 9.500 tỷ USD. Mỹ cũng đă trở thành thị
trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam từ năm 2003. Tuy nhiên, Đông
Á là thị trường đáng kể và nhất là phát triển nhanh hơn nhiều so với
các khu vực khác trên thế giới. Trước hết, Nhật Bản là thị trường
lớn thứ hai trên thế giới với số dân 126 triệu người và GDP gần
5.000 tỷ USD. Thị trường Trung Quốc (số dân: 1,3 tỷ, GDP: 1.080 tỷ
USD) và ASEAN (dân số 548 triệu, GDP 650 tỷ USD) c̣n tương đối nhỏ
nhưng phát triển với tốc độ cao sẽ trở thành thị trường đáng kể
trong tương lai. Đặc biệt, sự gần gũi về địa lư và văn hoá cùng các
cơ chế hợp tác được thúc đẩy trong khuôn khổ FTA sẽ đẩy mạnh phân
công quốc tế giữa các nước. Nhiều nghiên cứu cho thấy FTA tại Đông Á
có khuynh hướng làm tăng tốc độ phát triển kinh tế của các nước
trong khu vực, và những nước hiện có nền kinh tế càng nhỏ th́ càng
có lợi hơn trong thể chế hợp tác FTA.
Cơ hội mà FTA mang lại cho Việt Nam là rất lớn. Tuy
nhiên, để tận dụng được cơ hội đó, Việt Nam phải nhanh chóng tăng
năng lực cạnh tranh. Hiện nay, quan hệ thương mại giữa Việt Nam với
Trung Quốc hoặc giữa Việt Nam với các thành viên cũ của ASEAN là
quan hệ Bắc - Nam trong đó Việt Nam chủ yếu xuất khẩu nguyên liệu và
các sản phẩm sơ chế, trong khi nhập khẩu chủ yếu là hàng công
nghiệp. Việt Nam phải nhanh chóng tăng sức cạnh tranh để đẩy mạnh
xuất khẩu hàng công nghiệp sang Trung Quốc và ASEAN, tạo nên một cơ
cấu thương mại hàng ngang với các nước láng giềng, mới tận dụng được
hiệu quả mà FTA mang lại (xem thêm các Chương 3, 5 và 6).
TRẦN VĂN THỌ
(1). Theo tính toán của JETRO sau
khi loại trừ những FTA đă kư giữa những thành viên của EU.
(2) Trong giai đoạn này, thị phần
của Nhật giảm v́ đă tăng nhanh trong thời gian trước đó (từ 4,2% năm
1955 tăng lên 10% năm 1975). Xem Trần Văn Thọ (1997).
(3) Do phạm vi hợp tác khá rộng
này, nên hiệp định này không gọi là FTA mà là Hiệp định hợp tác kinh
tế (EPA) Nhật - Xingapo. Ngoài FTA và EPA, c̣n một khái niệm nữa là
RTA (Regional Trading Agreement). RTA có phạm vi nhỏ hơn EPA nhưng
tác động lại sâu hơn v́ có đặc tính của một đồng minh về thuế quan
(custom union), nghĩa là các bên kư kết hiệp định đó có cùng một
chính sách thuế quan đối với các nước bên ngoài hiệp định.
(4) Theo báo Asahi ngày
1-12-2004, trong nội bộ Chính phủ Nhật Bản có người phản đối việc
định ra một mốc thời gian nhất định cho việc kư kết hiệp định Nhật -
ASEAN v́ sợ Nhật phải sớm chịu những nhượng bộ liên quan đến nông
phẩm nhập khẩu từ ASEAN. .
(5) Vào ngày 1-9-2005, Thủ tướng
hai nước Nhật Bản và Thái Lan đă thoả thuận các điều khoản cơ bản để
giữa năm 2006 có thể kư kết một hiệp định hợp tác kinh tế mà FTA là
trọng tâm. Theo thoả thuận này, cho đến năm 2011, Thái Lan sẽ băi bỏ
thuế nhập khẩu linh kiện, bộ phận xe hơi từ Nhật (hiện nay là từ 15
đến hơn 30%), băi bỏ thuế nhập thép trong ṿng 10 năm, thuế nhập xe
hơi nguyên chiếc cũng giảm từng bước. Phía Nhật tức thời băi bỏ thuế
nhập tôm, trái cây nhiệt đới, trong ṿng 5 năm giảm thuế thịt gà gia
công từ 6% xuống 3%, nới rộng thời gian cư trú của đầu bếp người
Thái; hợp tác kỹ thuật giúp phát triển ngành xe hơi và ngành thép
của Thái, v.v...
(6) Về chi tiết, xem lại
Chương 3. .
(7) Đây là hiệu quả xảy ra đối
với nước C khi hai nước A và B thành lập khu thương mại tự do mà C
không phải là thành viên. Xuất khẩu của C sang A và B bị giảm v́
thuế quan của A và B đối với hàng nhập từ C vẫn như cũ trong khi
giũa A và B không c̣n thuế.
< Xem Mục Lục>
®
"Khi phát hành lại bài viết
của trang này cần phải có sự đồng
ư của tác giả
và ghi rơ nguồn lấy từ www.erct.com
|
|